Biện pháp tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM

NGUYỄN XUÂN SƠN
BIỆN PHÁP TỔ CHỨC
CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG ĐẠO
ĐỨC
CHO SINH VIÊN VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. HÀ NHẬT THĂNG
1.2.1. Đạo đức và giáo dục truyền thống đạo đức 8
1.2.2. Biện pháp tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức 13
1.3. Ý nghĩa của tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức 14
1.3.1. Bản chất của tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức 14
1.3.2. Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức công tác giáo dục truyền
thống đạo đức cho sinh viên ở các trường đại học 16
1.3.3. Những điều kiện cần thiết để đảm bảo việc tổ chức phối hợp
các lực lượng giáo dục đạo đức ở trường đại học 23
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức và tổ chức công tác
giáo dục truyền thống đạo đức ở trường đại học trong giai đoạn hiện nay 25
1.4.1. Phẩm chất và năng lực con người Việt Nam thời kỳ công
nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là mục tiêu giáo dục 2
đạo đức ở các trường đại học 25
1.4.2. Đặc điểm của sinh viên đại học hiện nay 27
Mục tiêu và những yêu cầu tổ chức công tác giáo dục
truyền thống đạo đức ở đại học 30
Tiểu kết chương 1 36
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC CÔNG TÁC GIÁO DỤC
TRUYỀN THỐNG ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆN ĐẠI HỌC MỞ
HÀ NỘI HIỆN NAY 37
2.1. Đôi nét về sự phát triển của Viện Đại học Mở Hà Nội 37
2.1.1. Vai trò của Phòng công tác chính trị và sinh viên trong tổ chức
công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên ở Viện Đại học Mở
Hà Nội 40
2.1.2. Những thành tích 42
2.2. Thực trạng tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho
sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội 48

hiện nay 74
3.2.1. Biện pháp tổ chức quá trình giáo dục và rèn luyện đạo đức của
Thầy và Trò. 74
3.2.2. Biện pháp phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục và
xây dựng môi trường giáo dục đạo đức cho sinh viên. 78
3.2.3. Biện pháp tạo viễn cảnh, niềm tin và động lực cho sinh viên
rèn luyện phấn đấu vươn lên .82
3.2.4. Biện pháp phát huy tính tích cực rèn luyện của sinh viên 85
3.2.5. Biện pháp tạo cơ hội điều kiện cho hoạt động tập thể để thầy
và trò chủ động thích nghi với hoàn cảnh xã hội 88
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 92
3.4. Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp tổ chức công tác
giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên Viện đại học Mở Hà Nội 94
3.4.1. Mục đích, nội dung, phương pháp khảo nghiệm 94
3.4.2. Tổ chức triển khai khảo sát kết quả việc áp dụng các biện pháp
tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên 4
Viện Đại học Mở Hà Nội 96
3.4.3. Kết quả khảo nghiệm 96
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ………………………………………100
1. Kết luận…………………………………………………………………100
2. Khuyến nghị ……………………………………………………………101
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………103
PHỤ LỤC

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN BPGD Biện pháp giáo dục
BCH Ban chấp hành
CB Cán bộ
CBQL Cán bộ quản lý
CBGV Cán bộ giảng viên
CĐ Cao đẳng
CLB Câu lạc bộ
CTCT&SV Công tác chính trị và sinh viên
CNH-HĐH Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CSCN Cộng sản chủ nghĩa
ĐH Đại học
Đoàn TNCSHCM Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
GD Giáo dục
GV Giảng viên
GD& ĐT Giáo dục và đào tạo
HSSV Học sinh sinh viên
KHGD Khoa học giáo dục
KHKT Khoa học kỹ thuật
PPGD Phương pháp giáo dục
QL Quản lý
QLGD Quản lý giáo dục
SV Sinh viên
TB Trung bình
TN Thanh niên
TW Đoàn Trung ương Đoàn
UBND Ủy ban nhân dân

trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều
ngành với trình độ khoa học - công nghệ ngày càng hiện đại. 7
Như vậy, công nghiệp hóa - hiện đại hóa là quá trình rộng lớn và phức
tạp. Trong điều kiện nước ta, việc tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa
sẽ tác động tích cực trên nhiều phương diện.
Thứ nhất, công nghiệp hóa sẽ thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản
xuất, giải quyết tình trạng công nghệ lạc hậu hiện nay, dẫn tới tăng năng suất
lao động, làm cho tổng sản phẩm xã hội tăng lên và do vậy có điều kiện để
nâng cao phúc lợi cho nhân dân. Hơn nữa, cũng chính sự phát triển của lực
lượng sản xuất, dẫn đến mở rộng phân công lao động xã hội, góp phần giải
quyết tình trạng thiếu việc làm hiện tại, tăng năng lực sản xuất, làm cho nền
kinh tế hàng hóa phát triển, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và
tiếp thu các thành tựu của văn minh nhân loại.
Thứ hai, sự phát triển kinh tế do công nghiệp hoá có sự lãnh đạo của
Đảng và nhà nước sẽ là nhân tố quan trọng đảm bảo sự ổn định chính trị, tạo
điều kiện cho kinh tế phát triển. Quá trình công nghiệp hóa theo định hướng
XHCN sẽ làm cho mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực và các vùng
tăng lên, nhờ đó mối quan hệ giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ,
giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân, nông dân và trí thức ngày càng
củng cố và phát triển.
Thứ ba, những thành tựu kinh tế - xã hội của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa sẽ góp phần quan trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho mở mang dân trí, nâng cao nhận thức,
phát triển văn hóa, củng cố truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc,
tăng thêm niềm tin vào chế độ xã hội.
Như vậy, công nghiệp hóa - hiện đại hóa có tác dụng to lớn trên nhiều
lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa - tư tưởng đến an

xúc đang đặt ra cho toàn xã hội Việt Nam hiện nay.
Cơ chế thị trường đã làm cho kinh tế - xã hội Việt Nam trong nhiều
năm gần đây có những bước phát triển đáng kể, song đi theo những thành
tựu kinh tế - xã hội lớn lao đó, chúng ta không thể không bị ảnh hưởng bởi 9
những mặt trái của nó. Xã hội phân hóa, tệ nạn xã hội gia tăng, nhiều
chuẩn mực đạo đức truyền thống bị đảo lộn, thay đổi. Trong những biểu hiện
không lành mạnh đó, phải kể trước hết là tình trạng một số không nhỏ học
sinh sinh viên tiêm nhiễm tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật; số sinh viên này
ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, đó là một quy luật phổ biến.
Chính ở các nước phát triển cũng đang phải đối mặt với thực tế: nạn bạo lực
và tệ nạn xã hội trong nhà trường tăng. Tỷ lệ sinh viên Mỹ nghiện ma túy
gấp nhiều lần sinh viên các nước trên thế giới. Số sinh viên chán học, bỏ học
tăng nhanh.
Tăng cường công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên
của các trường ĐH đã trở thành một vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa
mang tính chiến lược của nhiều quốc gia hiện nay. Tuy nhiên, trong thực tế
các trường ĐH của ta lại chưa có những biện pháp giáo dục truyền thống đạo
đức cho sinh viên mang lại hiệu quả cao.
Có nhiều nguyên nhân đã dẫn sinh viên đến tình trạng yếu kém về
đạo đức, trong đó phải kể đến sự không thống nhất tác động giáo dục của các
lực lượng giáo dục trong các nhà trường, ở gia đình và ngoài xã hội. Đôi khi
còn trái ngược nhau về cách thức tác động.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Biện pháp tổ chức
công tác giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên Viện Đại học Mở
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức công tác giáo dục

đề nghiên cứu
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a) Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
b) Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
c) Phương pháp đàm thoại phỏng vấn 11
6.3. Phương pháp thống kê để xử lý số liệu thu được
7. Phạm vi và giới hạn của đề tài
- Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp tổ chức công tác giáo dục
truyền thống đạo đức cho sinh viên ở các trường ĐH trong thời kỳ đổi mới,
thông qua việc khảo sát nghiên cứu ở Viện Đại học Mở Hà Nội trong thời
gian vừa qua.
- Đề xuất các biện pháp tổ chức của lãnh đạo về công tác giáo dục đạo
đức cho sinh viên các trường ĐH hiện nay.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo
kết quả nghiên cứu của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc xác lập các biện pháp tổ chức công
tác giáo dục truyền thống đạo đức cho sinh viên các trường đại học
Chƣơng 2: Thực trạng việc tổ chức công tác giáo dục truyền thống đạo
đức cho sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội hiện nay
Chƣơng 3: Biện pháp chủ yếu về tổ chức công tác giáo dục truyền
thống đạo đức cho sinh viên các trường đại học hiện nay 12
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP
TỔ CHỨC CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG ĐẠO ĐỨC Ở

1.2.1.1. Đạo đức
Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” thì “đạo đức” là:
“Phép tắc về quan hệ giữa người với người; giữa cá nhân với tập thể,
với xã hội.”
“Phẩm chất tốt đẹp của con người (sống có đạo đức)” [24, tr 96].
Theo tác giả Huỳnh Khái Vinh: “Đạo đức là một hình thái ý thức - xã
hội bao gồm những nguyên tắc, qui tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con
người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của
mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa người với người” [25,
tr 44].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì đạo đức có thể được hiểu theo nghĩa
hẹp và nghĩa rộng.
“Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định, những chuẩn mực
ứng xử trong quan hệ của con người với con người, với công việc, với bản
thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống.
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù
chính trị, pháp luật, lối sống, đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách,
phản ánh bộ mặt nhân cách của cá nhân được xã hội hóa” [12, tr.158].
Như vậy, đạo đức là luân lý, là chuẩn mực ứng xử tức là đã gắn khái
niệm đạo đức với giá trị đạo đức, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Theo tác
giả Hà Nhật Thăng: “Khi những giá trị đạo đức biến thành nhận thức chung
của mọi thành viên thì nó trở thành truyền thống, có sức mạnh vật chất điều
chỉnh nhận thức và hành động chung của toàn xã hội. Vì vậy đạo đức có vai
trò, có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh” [18, tr 19]. 14
Nhưng trước hết phải hiểu đạo đức là “một hình thái ý thức xã hội”, là
“thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của cá nhân

đức với các hình thái ý thức xã hội khác (nghệ thuật, tri giác, triết học )
Đó là những nhận thức của con người về những chuẩn mực của hành
vi, thói quen, phong tục đạo đức tác động mạnh đến tâm thế, tình cảm, hành
vi của con người.
+ Hành vi đạo đức: ý thức đạo đức bao giờ cũng được thể hiện qua
hành vi đạo đức, chi phối hành vi đạo đức.
Hành vi đạo đức là biểu hiện của nhận thức, tình cảm đạo đức cá nhân
và bị chi phối bởi các chuẩn mực đạo đức, qui tắc đạo đức của xã hội.
+ Tình cảm, niềm tin đạo đức: tình cảm, niềm tin đạo đức là hiệu quả
của nhận thức, hành vi đạo đức. Có tình cảm đạo đức, niềm tin đạo đức đúng
đắn là có động lực hình thành nhận thức và hành vi đúng phù hợp với các
thước đo, các chuẩn mực, qui phạm của xã hội.
1.2.1.2. Giáo dục truyền thống đạo đức
Theo tác giả Phạm Minh Hạc về khái niệm giáo dục truyền thống đạo
đức có thể hiểu:
“Giáo dục đạo đức là một quá trình kết hợp nâng cao nhận thức với
hình thành thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin và hành vi, thói quen đạo
đức” [12, tr.156].
Theo tác giả Hà Nhật Thăng: “Giáo dục đạo đức là hình thành ở mọi
công dân thái độ đúng đắn, tình cảm niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản
thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện
tượng xảy ra xung quanh” [18, tr 209].
Từ quan niệm đúng đắn trên đây, chúng ta thấy giáo dục truyền thống
đạo đức trước hết là một quá trình, không thể nóng vội, không thể áp đặt. Nó 16
được diễn ra trong cả quá trình hình thành và phát triển nhân cách của một
con người, không có điểm dừng.
Mục tiêu của giáo dục truyền thống đạo đức trong nhà trường ĐH:

“Tình trạng là sự tồn tại và diễn biến của các sự việc, xét về mặt ảnh
hưởng đối với cuộc sống thường ở khía cạnh bất lợi” [8, tr 826].
Như thế, chúng ta có thể thống nhất quan niệm: Tình trạng yếu
kém đạo đức của sinh viên là sự tồn tại và sự diễn biến cả về số lượng
lẫn tính chất nguy hại của số sinh viên đang tồn tại trong nhà trường, xã
hội chúng ta hiện nay.
Tình trạng yếu kém đạo đức của sinh viên cũng được xem xét từ nhiều
phía:
- Mức độ diễn biến về mặt số lượng.
- Mức độ, diễn biến về tính chất phức tạp và mức độ ảnh hưởng xấu
(không có lợi) cho số đông sinh viên.
Tình trạng yếu kém đạo đức của sinh viên hiện nay, tuy về phần trăm
không lớn chỉ chiếm trên 1% nhưng về con số tuyệt đối ta sẽ có hàng vạn
sinh viên yếu kém đạo đức. Đây là con số không nhỏ và rất đáng lo ngại.
Muốn giải quyết được tình trạng này, trước hết phải nhận thức được:
- Khắc phục tình trạng sinh viên bỏ học, vi phạm kỷ luật, phạm pháp
và tiêm nhiễm các tệ nạn xã hội của các trường ĐH nhằm làm cho những
sinh viên bình thường có được môi trường giáo dục đào tạo thuận lợi; làm
cho bản thân mỗi sinh viên sớm điều chỉnh, hoàn thiện nhân cách.
- Đồng thời khắc phục tình trạng sinh viên bỏ học, vi phạm kỷ luật,
phạm pháp và tiêm nhiễm các tệ nạn xã hội hiện nay chính là làm cho hoạt
động giáo dục truyền thống đạo đức trong mỗi trường ĐH phải thường xuyên
có chất lượng và hiệu quả cho mọi sinh viên và đến được từng sinh viên. 18
Như vậy việc khắc phục tình trạng sinh viên bỏ học, vi phạm kỷ luật
của trường, phạm pháp và tiêm nhiễm các tệ nạn xã hội của các trườngĐH
nói chung đều phải đảm bảo cả 2 yêu cầu:
* Một là nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống đạo đức ở mỗi

trường, của tập thể người học đến từng sinh viên.
Biện pháp giáo dục có một vai trò hết sức quan trọng. Trong bộ Tư Bản,
C.Mác đã từng khẳng định “Thước đo trình độ của nền văn minh không phải ở
chỗ nó sản xuất ra cái gì mà ở chỗ nó sản xuất ra cái đó bằng cách nào?”
Vai trò và tác dụng to lớn của biện pháp giáo dục trong quá trình đào
tạo con người đã được tác giả Phạm Minh Hạc trong công trình “Về sự phát
triển toàn diện con người thời kỳ CNH - HĐH” khẳng định:
“Cùng với người dạy đạt chuẩn đào tạo, người học, phương pháp giáo
dục là yếu tố năng động nhất trong giáo dục. Nội dung giáo dục nói chung
mới chứa đựng giá trị tiềm tàng, sẽ xuất hiện trong sản phẩm giáo dục. Trong
khi đó, phương pháp giáo dục quyết định giá trị thật sự của sản phẩm giáo
dục” [12, tr 123].
Như vậy giá trị thật sự có của sản phẩm giáo dục - nhân cách người
học là do phương pháp giáo dục quyết định. Tất cả các phương pháp giáo
dục đều có chức năng chuẩn bị và khuyến khích quá trình tự giáo dục đào tạo
của sinh viên. Thông qua các hình thức và phương pháp giáo dục, các nhà
trường ĐH phải làm được việc gieo nhu cầu và chỉ cho sinh viên biết cách
biến quá trình được giáo dục đào tạo thành quá trình tự giáo dục đào tạo.
Nhu cầu tự giáo dục đào tạo là nhu cầu tự hoàn thiện nhân cách một cách có
mục đích, có kế hoạch.
Các phương pháp tự giáo dục cần truyền cho sinh viên là: cá nhân tự
cam kết (đưa ra những mục tiêu, nội dung cụ thể cần hoàn thiện, cần sửa
chữa của nhân cách bản thân) cá nhân tự vạch kế hoạch, tự đề ra ý chí quyết 20
tâm phấn đấu, tự đặt ra những hình phạt, những việc làm để tự nhắc nhở
mình khi không đạt những mục tiêu cam kết.
Nếu các trường ĐH biến được quá trình giáo dục đào tạo thành quá
trình tự giáo dục đào tạo thì chắc chắn những phẩm chất, năng lực của sinh

Do đó: “Phối hợp các biện pháp giáo dục” là "Cán bộ quản lý nhà
trường một lúc có thể tiến hành đồng thời hoặc liên tiếp nhiều BPGD có
cùng định hướng thống nhất, hỗ trợ nhau đạt mục tiêu giáo dục với chất
lượng, hiệu quả cao hơn so với khi chỉ vận dụng đơn lẻ từng BPGD”.
Lý do phải tiến hành phối hợp biện pháp giáo dục:
Như trên đã phân tích, bản thân mỗi BPGD chỉ đáp ứng được một yêu
cầu giáo dục, chỉ phù hợp từng lúc, từng nơi, từng đối tượng cụ thể. Do đó
việc phối hợp các BPGD là để có sự bổ sung lẫn nhau giữa các biện pháp.
Như vậy việc phối hợp các BPGD là cần thiết. Có làm được điều đó, các
trường ĐH mới hy vọng đạt kết quả cao trong công tác giáo dục đào tạo.
Thực chất của quá trình giáo dục đào tạo là sự phối hợp các biện pháp giáo
dục đào tạo.
Như vậy, việc phối hợp các biện pháp giáo dục để giáo dục truyền
thống đạo đức cho sinh viên có kết quả là việc làm tất yếu của mỗi nhà
trường ĐH, nhưng nó lại luôn phản ánh sức sáng tạo, sự mới mẻ trong thực
tế đời sống, cũng như trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục
mà chúng ta không được bỏ qua. Bởi vì:
Mục tiêu, nội dung giáo dục bao giờ cũng phải có sự thay đổi nhất
định cho phù hợp với đối tượng giáo dục, với yêu cầu của thời đại, xã hội. Vì
thế việc phối hợp các biện pháp giáo dục cũng phải thay đổi theo mới thực
hiện được mục tiêu nội dung giáo dục đã đề ra.
Do đó việc phối hợp các biện pháp giáo dục cho phù hợp với những
đối tượng giáo dục đang thay đổi trong từng thời kỳ, trong từng địa bàn, nhất
là các thành phố đang trong thời kỳ đô thị hóa nhanh luôn là những việc làm
mới mẻ cần được tổng kết, đúc rút, nghiên cứu kịp thời. 22
Đề tài đi sâu nghiên cứu sự phối hợp các biện pháp tổ chức giáo dục
truyền thống đạo đức cho sinh viên các trường ĐH là nhằm đáp ứng yêu cầu

năng trội nên mỗi quá trình không thể thay thế được, mà chỉ bổ sung, hỗ trợ
cho nhau làm nên tính toàn vẹn, thống nhất của quá trình giáo dục chung của
bất cứ một trường ĐH nào. Một quá trình nào yếu kém đều ảnh hưởng đến
quá trình chung. Nói một cách khác bất kỳ một trường ĐH nào cũng phải
làm tốt hai nhiệm vụ “Dạy nghề” và “Dạy người”.
Để làm tốt hai nhiệm vụ “Dạy nghề” và “Dạy người”, cán bộ quản lý
trường phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung giáo dục của nhà trường XHCN,
mục tiêu đào tạo người công dân, người lao động có văn hóa, có sức khỏe, có
lý tưởng XHCN để đề ra chương trình kế hoạch giáo dục sinh viên. Tất cả
quá trình giáo dục đó được diễn ra với những điều kiện cơ sở vật chất của
nhà trường, gia đình, của sự tổ chức quản lý giáo dục.
Chính yếu tố quản lý giáo dục sẽ giúp cho việc điều chỉnh, cân đối, cải
tiến quá trình giáo dục đào tạo, thúc đẩy quá trình giáo dục đào tạo đạt mục
tiêu, với một trình độ chất lượng đào tạo cao, phí tốn ít.
1.3.2.1. Tổ chức giáo dục truyền thống đạo đức phải trên cơ sở quán triệt
mục tiêu giáo dục của các trường đại học
Để tiến hành giáo dục truyền thống đạo đức trong các trường ĐH, cán
bộ quản lý trường cần nắm đặc điểm quá trình giáo dục đạo đức:
Thứ nhất: Quá trình giáo dục truyền thống đạo đức bao gồm các tác
động của rất nhiều nhân tố: khách quan, chủ quan, bên ngoài, bên trong. Có
thể hiểu có bao nhiêu mối quan hệ ở trong trường và ngoài xã hội mà sinh
viên tham gia hoạt động thì có bấy nhiêu tác động giáo dục đến sinh viên.
Những tác động này có thể thống nhất, nhằm hỗ trợ tăng cường cho nhau
nhưng cũng có thể mâu thuẫn, làm vô hiệu hóa, suy yếu các kết quả tác
động. Do đó giáo dục truyền thống đạo đức chỉ đạt hiệu quả khi cán bộ quản 24
lý trường biết tổ chức và phối hợp được tất cả các tác động giáo dục cho mục
tiêu giáo dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status