5
MỤC LỤC
Lời cảm ơn………………………………………………………………… i
Danh mục viết tắt……………………………………………………………ii
Danh mục các bảng hình…………………………………………………….iii
Mục lục………………………………………………………………………iV
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG GIẢI
BÀI TẬP VẬT LÍ PHỔ THÔNG CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM
MATLAP 5
1.1. Những vấn đề lí luận về dạy giải bài tập Vật lí………………………… 5
1.1.1. Khái niệm về bài tập Vật lí …………………………………………….5
1.1.2. Vai trò của bài tập vật lí ………………………………………….……5
1.1.3. Phân loại bài tập vật lí …………………………………………………7
1.1.4. Phƣơng pháp giải bài tập vật lí ……………………………………….13
1.1.5. Hƣớng dẫn học sinh giải bài tập vật lí……………………………… 16
1.1.5.2. Hƣớng dẫn tìm tòi (Hƣớng dẫn Ơrixtic)…………………… …… 17
1.2.Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học….…… 19
1.2.1. Giáo dục và công nghệ……………………………………………… 19
1.2.2. Vai trò của CNTT trong dạy học Vật lí……………………………….20
1.2.3. Khai thác và sử dụng một số phần mềm để dạy học môn Vật lí…… 21
1.2.4. Ƣu điểm và hạn chế của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí…22
1.3. Giới thiệu phần mềm Matlab 23
1.3.1. Các kiểu dữ liệu……………………………………………………….24
1.3.2. Các phép tính với ma trận……………………………………… … 24
1.3.3. Cú pháp……………………………………………………………….25
1.3.4. Cú pháp đặc biệt (syntactic sugar)…………………………………….26
1.3.5. Tính năng vẽ đồ thị………………………………………………… 26
1.4. Thực trạng của việc sử dụng CNTT trong dạy học vật lí ở một
số trƣờng phổ thông………………………………………………………….27
M SƢ PHA
̣
M……………………………………… 61
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của TNSP……………………………………….62
3.2. Đối tƣợng, thời gian và phƣơng thức TNSP 62
3.2.1. Đối tƣợng thực nghiệm sƣ phạm 62
3.3. Phân tích và đánh giá thực nghiệm sƣ phạm 63
3.3.1. Phân tích định tính diễn biến các giờ học trong quá trình TNSP 63
3.3.2. Kết quả TNSP của các lớp TN và ĐC……………………………… 65
Kết luận chƣơng 3………………………………………………………………71
KÊ
́
T LUÂ
̣
N…………………………………………………………………73
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………76
PHỤ LỤC……………………………… ……………………………… 78
Bài tập vật lý
BTVL
Thực nghiệm
TN
Đối chứng
ĐC
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng điều tra về khả năng ứng dụng CNTT trong dạy
học Vật lí ở các trường THPT……………………………………
Bảng 1.3. Bảng điều tra về khả năng ứng dụng CNTT của HS
trong việc tự học……………………………………………………
Bảng 3.1 Bảng thống kế điểm số…………………………………
Bảng 3.2. Xử lí kết quả…………………………………………….
Bảng 3.3. Các tham số đặc trưng…………………………………
Bảng 3.4. Bảng tần suất và tần suất luỹ tích……………………….
28
30
67
67
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, với sự bùng nổ thông tin, số lượng thông tin càng ngày càng
tăng nhanh. Máy tính tham gia vào quá trình xử lí thông tin kéo theo sự thay
đổi nhanh chóng của các ngành, các nghề khác nhau, thay đổi toàn diện bộ
mặt xã hội. Ngành giáo dục cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó, thậm chí
còn bị ảnh hưởng mạnh mẽ.
Trước tình hình đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thay đổi đồng bộ các
thành tố của quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức
tổ chức, phương tiện, kiểm tra đánh giá nhằm kích thích khả năng tư duy,
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh (HS), đổi mới phương pháp
dạy học nhằm tạo được những con người có khả năng đáp ứng được với
những yêu cầu của thị trường lao động.
Ở nước ta, trong những năm gần đây, thực hiện việc nghiên cứu đổi
mới nội dung phương pháp dạy học nhằm bồi dưỡng cho HS các phương
pháp nhận thức khoa học, phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong quá trình
dạy học nói chung và dạy Vật lý nói riêng đã thu hút được nhiều sự quan tâm
của các nhà lý luận dạy học, các giáo viên phổ thông.
Quá trình dạy học Vật lí có thể nâng cao chất lượng học tập và phát
triển năng lực của học sinh bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau.
Trong đó giải bài tập vật lí với tư cách là một phương pháp được xác định từ
lâu trong giảng dạy Vật lí có tác dụng tích cực đến việc giáo dục và phát triển
năng lực của học sinh. Đó là một thước đo đúng đắn, thực chất sự tiếp thu,
vận dụng kiến thức và kĩ năng, kĩ xảo của học sinh. Bài tập Vật lí giúp học
sinh hiểu sâu sắc hơn những quy luật vật lí, những hiện tượng vật lí, biết phân
tích những vấn đề thực tiễn. Thông qua việc giải các dạng bài tập, học sinh
vận dụng kiến thức để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể
khác thì kiến thức đó mới trở nên sâu sắc, hoàn thiện và biến thành vốn kiến
Sử dụng ngôn ngữ lập trình Matlap để giải bài tập chương “Dao động
cơ” và phương án thiết kế dạy bài tập đó như thế nào?
10
6. Giả thuyết khoa học
Sử dụng ngôn ngữ Matlap lập trình các bài tập chương “Dao động cơ ”
với độ trực quan và khả năng khái quát hóa cao nhằm phát huy tính tích cực
của HS.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài để xác định cơ sở lí
luận của việc xây dựng bải tập Vật lý chương “Dao động cơ ” nhằm phát huy
tính tích cực nhận thức cho HS.
Điều tra, khảo sát tình hình dạy học bài tập và việc ứng dụng công nghệ
thông tin (CNTT) trong giảng dạy phần “Dao động cơ ” sách giáo khoa Vật lý
12 cơ bản.
Sử dụng ngôn ngữ lập trình Matlab xây dựng các dạng bài tập trong
sách giáo khoa phần “Dao động cơ ” sách giáo khoa Vật lý 12 cơ bản.
Thiết kế phương án dạy học phần “Dao động cơ ” sách giáo khoa Vật
lý 12 Ban cơ bản với các dạng bài tập đã xây dựng.
Thực nghiệm sư phạm, kiểm nghiệm tính hiệu quả của các dạng bài
tập đã thiết kế trong dạy học phần “Dao động cơ " sách giáo khoa Vật lý 12
cơ bản.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm
xác định cơ sở lý luận của đề tài.
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra giáo dục: Phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi và toạ đàm trực
tiếp với các đối tượng là giáo viên, học sinh về thực trạng dạy học vật lý ở
trường phổ thông. 12
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY
GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ PHỔ THÔNG CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA
PHẦN MỀM TOÁN HỌC MATLAB
1.1. Những vấn đề lí luận về dạy giải bài tập Vật lí
1.1.1. Khái niệm về bài tập Vật lí [1]
Theo X.E. Camenetxki và V.P.Oorrekhop « Trong thực tế dạy học, bài
tập Vật lí được hiểu là một vấn đề được đặt ra mà trong trường hợp tổng quát
đòi hỏi những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở
các định luật và các phương pháp vật lí ». Thực ra, trong các giờ học Vật lí,
mỗi một vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa trong các tiết học
chính là một bài tập đối với học sinh. Hiểu theo nghĩa rộng thì sự tư duy định
hướng một cách tích cực luôn luôn là việc giải bài tập.
Trong các tài liệu giáo khoa cũng như các tài liệu về phương pháp dạy
học bộ môn người ta thường hiểu bài tập Vật lí là những bài luyện tập được
lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện
tượng Vật lí, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy Vật lí của học sinh
và rèn kĩ năng vận dụng kiến thức của học sinh vào thực tiễn.
Với định nghĩa trên, cả hai ý nghĩa khác nhau của bài tập Vật lí là vận
dụng kiến thức và hình thành kiến thức mới đều có mặt. Do đó, bài tập Vật lí
với tư cách là một phương pháp dạy học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong
việc hoàn thành nhiệm vụ dạy học vật lí ở nhà trường phổ thông.
1.1.2. Vai trò của bài tập vật lí [1]
Thông qua dạy học về bài tập vật lí, người học có thể nắm vững một
cách chính xác, sâu sắc và toàn diện hơn những quy luật Vật lí, những hiện
phản động. Nhờ dạy học bài tập Vật lí giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh
biết sự xuất hiện những tư tưởng và quan điểm tiên tiến hiện đại, các phát
minh làm thay đổi thế giới. Tiếp xúc với các hiện tượng đời sống hàng ngày
qua các bài tập Vật lí giúp học sinh nhìn thấy khoa học Vật lí ở xung quanh
mình, qua đó kích thích hứng thú, đam mê của các em với môn học, bồi
14
dưỡng khả năng quan sát. Bài tập Vật lí góp phần xây dựng một thế giới quan
duy vật biện chứng cho học sinh, làm cho họ hiểu rõ thế giới tự nhiên là thế
giới vật chất, vật chất luôn ở trạng thái vận động, họ mong muốn đem tài năng
và trí tuệ của mình cải tạo thiên nhiên.
Giải bài tập vật lí không phải là một công việc nhẹ nhàng, nó đòi hỏi sự
làm việc căng thẳng, tích cực của học sinh, một sựu vận dụng tổng hợp những
kiến thức, kinh nghiệm đã có thể tìm lời giải nêu ra trong bài tập vật lí.
Tuy nhiên không phải cứ cho học sinh làm bài tập là chúng ta đạt ngay
được các yêu cầu mong muốn. Bài tập vật lí chỉ phát huy tác dụng to lớn của
nó trong những điều kiện sư phạm nhất định. Kết quả rèn luyện kĩ năng, kĩ
xảo giải bài tập phụ thuộc rất nhiều vào việc có hay không có một hệ thống
bài tập được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với mục đích dạy học, với yêu cầu
rèn luyện kĩ năng kĩ xảo cho người học.
1.1.3. Phân loại bài tập vật lí [9]
Số lượng các bài tập Vật lí sử dụng trong thực tiễn dạy học hiện nay
rất nhiều, vì vậy cần có sự phân loại sao cho có tính tương đối thống nhất về
mặt lí luận cũng như thực tiễn để người dạy lựa chọn và sử dụng hợp lí các
bài tập Vật lí trong dạy học. Các bài tập vật lí khác nhau về nội dung và mục
đích dạy học, trong dạy học vật lí có thể phân loại chúng theo các cách sau:
- Phân loại theo nội dung.
- Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải.
- Phân loại theo yêu cầu luyện tập kĩ năng, phát triển tư duy sáng
tạo của học sinh.
chương, các phần vật lí khác nhau trong chương trình vật lí đã học.
Theo nội dung, bài tập vật lí cũng có thể phân chia thành các bài tập
có nội dung trừu tượng và bài tập có nội dung cụ thể. Ở các bài tập có nội
dung trừu tượng, các dữ kiện đều cho dưới dạng các kí hiệu, lời giải cũng sẽ
biểu diễn dưới dạng một công thức chứa đựng ẩn số và dữ kiện đã cho.
Ngược lại, với các bài tập có nội dung cụ thể, các dữ kiện đều cho
dưới dạng các con số cụ thể. Ưu điểm của bài tập trừu tượng là nhấn mạnh
Phân loại theo phƣơng
thức cho điều kiện và
phƣơng thức giải
Phân
loại theo
nội dung
BÀI TẬP VẬT
LÍ
Phân loại
theo yêu
cầu phát
triển tƣ duy
Bài
tập
luyệ
n
tập
Bài
tập
sáng
tạo
Bài
tập
cụ thể
hoặc
trừu
tƣợng
Bài
tập
Kĩ
thu
ật
tổng
hợp
Bài
tập
có
nội
dun
g
lịch
sử
Cơ
Nhiệt
Điện
Quang
Bài
tập
vật lí
vui
16
bản chất vật lí của hiện tượng mô tả trong bài tập, còn ưu điểm của các bài tập
riêng), cần phải tìm tiền đề thứ nhất (phán đoán khẳng định chung) và kết
luận (phán đoán khẳng định riêng). Trong trường hợp hiện tượng xảy ra phức
tạp, ta phải xây dựng một chuỗi luận ba đoạn liên tiếp ứng với các giai đoạn
diễn biến của hiện tượng.
- Bài tập định lƣợng (bài tập tính toán): Đó là các bài tập khi giải
phải sử dụng các phương pháp Toán học, bằng cách dựa trên các định luật,
các quy tắc và công thức Vật lí. Đây là dạng bài tập phổ biến, thường được
soạn thảo cho chương trình Vật lí phổ thông. Các bài tập này có thể giải trên
lớp, trong giờ luyện tập, giao về nhà cho học sinh tập vận dụng kiến thức (sau
đó có sự kiểm tra của giáo viên). Dạng bài tập này có ưu điểm làm sâu sắc các
kiến thức của học sinh, rèn luyện cho học sinh vận dụng phương pháp nhận
thức đặc thù của Vật lí, đặc biệt phương pháp suy luận Toán học. Tuỳ theo
phương pháp Toán học được vận dụng, bài tập tính toán được quy về các bài
tập số học, đại số và hình học.
- Phương pháp số học: Phương pháp giải chủ yếu là phương pháp số
học, tác động lên các con số hoặc các biểu diễn chữ mà không cần thành lập
phương trình để tìm ra ẩn số.
- Phương pháp đại số: Dựa trên các công thức Vật lí, lập các phương
trình từ đó giải chúng để tìm ra ẩn số.
- Phương pháp hình học: Khi giải dựa vào hình dạng của đối lượng, các
dữ liệu cho theo hình vẽ để vận dụng quy tắc hình học hoặc lượng giác để giải.
Trong các phương pháp trên, phương pháp đại số là phương pháp phổ
biến nhất, quan trọng hơn cả vì vậy cần thường xuyên quan tâm rèn luyện cho
học sinh.
-Phương pháp phân tích:
+ Tìm một định luật, một qui tắc diễn đạt bằng một công thức có
chứa đại lượng cần tìm một vài đại lượng khác chưa biết.
+ Tiếp tục tìm những định luật, công thức khác cho biết mối quan
hệ giữa đại lượng chưa biết này với các đại lượng đã biết trong đề bài. Cuối
X=f(y,z)= f(a,b,c)19
Hình 1.3
Hai phương pháp trên đều có giá trị như nhau, chúng bổ sung cho
nhau. Phương pháp phân tích nếu tìm được công thức đúng thì nhanh chóng
hướng tới kết quả bài toán. Tuy nhiên, học sinh không tập trung chú ý nhiều
vào các giai đoạn trung gian, điều đó nói chung là không có lợi, đặc biệt đối
với học sinh yếu, họ sẽ nắm bản chất Vật lí kém sâu sắc hơn. Phương pháp
tổng hợp cho phép đi sâu vào các giai đoạn trung gian, học sinh chú ý hơn tới
bản chất Vật lí và mối liên hệ giữa các đại lượng và hiện tượng. Phương pháp
tổng hợp giống như phương pháp " thử " và “ sai ” nên gần với tư duy trực
quan, cụ thể của học sinh. Trong khi phương pháp phân tích đòi hỏi cao hơn
về mức độ tư duy logic và chuẩn bị Toán học. Vì vậy căn cứ vào đối tượng
học sinh, mục đích dạy học, giáo viên nên sử dụng hợp lí các phương pháp
này. Trong những bài tập tính toán tổng hợp, hiện tượng xảy ra do nhiều
nguyên nhân, trải qua nhiều giai đoạn, khi xây dựng lập luận có thể phối hợp
hai phương pháp.
- Bài tập thí nghiệm: là loại bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để
kiểm chứng lời giải bằng lí thuyết hoặc tìm những số liệu cần thiết cho bài
tập. Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng về mặt giáo dục và giáo dục kĩ thuật
tổng hợp, đặc biệt làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn: trong các
bài tập thí nghiệm thì trong thí nghiệm chỉ cho các số liệu để giải bài tập, chứ
không cho biết tại sao hiện tượng lại xảy ra như thế, cho nên phần vận dụng
các định luật vật lý để lý giải các hiện tượng mới là nội dung chính của bài tập
thí nghiệm.
- Bài tập đồ thị: là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ
kiện để giải phải tìm trong đồ thị đã cho trước hoặc ngược lại. Bài tập đòi hỏi
học sinh phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng đã nêu trong bài
đảm bảo đi đến kết quả một cách chính xác là một việc rất cần thiết. Nó
không những giúp học sinh có kiến thức lý thuyết chắc chắn mà còn rèn luyện
kĩ năng suy luận logic, làm việc một cách khoa học, có kế hoạch.
21
Quá trình giải một bài tập vật lí thực chất là quá trình tìm hiểu điều
kiện của bài tập, xem xét hiện tượng vật lí, xác lập được những mối liên hệ cụ
thể dựa trên sự vận dụng kiến thức vật lí vào điều kiện cụ thể của bài tập đã
cho. Từ đó tính toán những mối liên hệ đã xác lập được để dẫn đến lời giải và
kết luận chính xác.
Bài tập vật lí rất đa dạng, cho nên phương pháp giải cũng rất phong
phú. Vì vậy không thể chỉ ra được một phương pháp nào cụ thể mà có thể áp
dụng để giải được tất cả bài tập. Song trong thực tế người ta cũng thừa nhận
một quan điểm chung về quá trình giải một bài tập Vật lí. Theo quan điểm đó,
người thầy giáo không chỉ đơn giản trình bày cách giải cho học sinh mà phải
thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng học sinh trong quá trình giải bài tập,
cần phải dạy học sinh tự lực giải được bài tập Vật lí. Vì vậy sau mỗi chương,
mỗi phần của chương trình Vật lí, giáo viên trình bày cách giải mẫu mỗi loại
bài, hình thành cho học sinh thói quen phân tích đúng bài toán, ghi chép và
tính toán một cách hợp lí, rèn luyện tư duy logic. Quá trình giải một bài tập
Vật lí, đặc biệt là giải một bài tập phức tạp, có thể trải qua các bước chính sau
[10]
Bước 1. Tìm hiểu đề bài
- Đọc, ghi ngắn gọn các dữ kiện xuất phát và các cái phải tìm.
- Mô tả lại tình huống được nêu trong bài tập, vẽ hình minh họa. Nếu
đề bài yêu cầu, thì phải làm thí nghiệm hoặc vẽ đồ thị để thu được dữ kiện
(trong trường hợp bài tập thí nghiệm hoặc bài tập đồ thị). Trong nhiều trường
hợp, cần đổi đơn vị của các đại lượng đã cho về đơn vị chuẩn.
Bước 2. Xác lập mối liên hệ của các dữ kiện xuất phát với cái phải tìm
- Đối chiếu các dữ kiện xuất phát và cái phải tìm, xem xét bản chất vật lí
Đối với bài tập phần chương Dao động cơ, việc hướng dẫn học sinh
giải bài tập là quan trọng. Thực tế cho thấy học sinh chỉ có thể giải bài tập nếu
học sinh có kiến thức lý thuyết chắc chắn và thực hiện thành thạo các bước
giải bài tập vật lí nói chung. Phương pháp giải bài tập chương dao động cơ
23
cũng có đầy đủ các bước giải giống như phương pháp giải bài tập vật lí nói
chung.
Bước 1. Tìm hiểu đề bài.
Bước 2. Lập mối liên hệ của các dữ kiện xuất phát với cái phải tìm
Bước 3. Luận giải rút ra kết quả cần tìm.
Bước 4. Kiểm tra và biện luận kết quả.
1.1.5. Hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí
Để việc hướng dẫn giải bài tâp cho học sinh có hiệu quả, thì trước hết
giáo viên phải giải được bài tập đó, và phải xuất phát từ mục đích sư phạm để
xác định kiểu hướng dẫn cho phù hợp.
Ta có thể minh họa bằng sơ đồ sau: Hình 1.4
Theo đó, tùy theo mục đích sư phạm mà người ta vận dụng các kiểu
hướng dẫn khác nhau trong hướng dẫn giải bài tập vật lí.
1.1.5.1. Hƣớng dẫn theo mẫu (hƣớng dẫn Angorit)
Sự hướng dẫn hành động theo mẫu sẵn có thường gọi là hướng dẫn
bài tập cơ bản, điển hình và luyện tập cho học sinh kĩ năng giải loại bài tập đó
dựa trên việc làm cho học sinh nắm chắc các angorit giải.
Ƣu điểm: Dạy cho học sinh được phương pháp giải một loại bài tập
điển hình. Đồng thời, rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải một bài tập xác
định.
Nhƣợc điểm: Học sinh có thói quen chấp hành những hành động đã
được chỉ dẫn theo mẫu đã có sẵn, do đó ít có tác dụng rèn luyện cho học sinh
khả năng tìm tòi, sáng tạo, hạn chế sự phát triển tư duy sáng tạo của học sinh.
Để khắc phục nhược điểm này, trong quá trình giải bài tập, giáo viên phải lôi
cuốn học sinh tham gia vào quá trình xây dựng angorit cho bài tập.
1.1.5.2. Hƣớng dẫn tìm tòi
Hướng dẫn tìm tòi (Hƣớng dẫn Ơrixtic) là kiểu hướng dẫn mang tính
chất gợi ý cho học sinh suy nghĩ tìm tòi phát hiện cách giải quyết. Không phải
là giáo viên chỉ dẫn cho học sinh chỉ việc chấp hành các hành động theo một
mẫu đã có để đi tới kết quả mà là giáo viên gợi mở để học sinh tự tìm cách
giải quyết, tự xác định các hành động cần thực hiện để đạt được kết quả.
Thông thường, kiểu hướng dẫn tìm tòi được áp dụng khi cần giúp đỡ học sinh
25
vượt qua khó khăn để giải được bài tập, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu phát
triển tư duy học sinh, muốn tạo điều kiện để học sinh tự lực tìm cách giải
quyết.
Ƣu điểm: Tránh được tình trạng giáo viên làm thay học sinh trong
việc giải bài tập. Kiểu hướng dẫn này đòi hỏi học sinh phải tự lực tìm ra cách
giải quyết chứ không phải là học sinh học sinh chỉ việc chấp hành các hành
động theo mẫu đã được chỉ ra, nên không phải bao giờ cũng có thể đảm bảo
cho học sinh giải được bài tập một cách chắc chắn.
Nhƣợc điểm: Cách hướng dẫn này không phải bao giờ cũng đảm bảo
cho học sinh giải quyết được bài tập một cách chắc chắn. Có thể, sự hướng
dẫn của giáo viên cho học sinh dễ đưa học sinh đến chỗ chỉ còn việc thừa
thể soạn sẵn, mà phải kết hợp được việc định hướng với việc kiểm tra kết quả
hoạt động của học sinh để điều chỉnh sự giúp đỡ, thích ứng với trình độ của
học sinh.
Ví dụ: Đối với các bài toán giáo viên có thể hướng dẫn học sinh theo
cách định hướng khách quan khái quát hóa như sau: đề bài đã cho cái gì? Yêu
cầu tìm cái gì? Hay có thể xác nhận được những mối liên hệ cụ thể gì đối với
cái đã cho và cái phải tìm? Nó liên quan đến những kiến thức gì ?
Nhƣợc điểm: Để làm tốt được sự hướng dẫn này phụ thuộc vào trình độ
và khả năng sư phạm của người giáo viên. Đôi khi người giáo viên dễ sa vào
làm thay cho học sinh trong từng bước định hướng. Do vậy, câu hỏi định
hướng của giáo viên phải được cân nhắc kỹ và phù hợp với trình độ học sinh.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài tập không thể theo một
khuôn mẫu nhất định, mà tùy thuộc vào nội dung, kiến thức, yêu cầu của bài
toán, và còn tùy thuộc vào đối tượng học sinh mà chúng ta có cách lựa chọn
kiểu hướng dẫn cho phù hợp. Người giáo viên phải biết phối hợp cả ba kiểu
hướng dẫn trên, tận dụng những ưu điểm trong cả ba phương pháp.
1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
27
1.2.1. Giáo dục và công nghệ [14]
Công nghệ có nghĩa đơn giản là kỹ thuật hoặc công cụ và những
phương pháp có thể áp dụng được để giải quyết các vấn đề cụ thể hoặc thực
hiện một mục tiêu nhất định.
Hiểu được như thế thì ngôn ngữ và sách vở là những dạng công nghệ
đã được sử dụng từ rất lâu trong lịch sử của nhân loại. Đầu tiên là ngôn ngữ,
một công cụ rất mạnh giúp cho kiến thức tích lũy có thể được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác. Hàng ngàn năm sau đó xuất hiện chữ viết, cho phép
các suy nghĩ và ý tưởng có thể truyền thụ vượt qua mọi giới hạn về thời
gian. Tiếp theo là kỹ thuật in ấn cho phép tốc độ và số lượng thông tin được
chuyển giao tăng vọt. Suốt một thời gian dài công cụ giảng dạy chủ yếu là