Tổ chức dạy học theo hợp đồng chương Dao động cơ Vật lý lớp 12 cơ bản - Pdf 25


i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ THÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HỢP ĐỒNG CHƯƠNG
“DAO ĐỘNG CƠ” VẬT LÍ LỚP 12 CƠ BẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN VẬT LÝ)
Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ HƯƠNG TRÀ
HÀ NỘI - 2013 ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các
thầy giáo, cô giáo, các cán bộ quản lý Trường Đại học Giáo dục – Đại học
Quốc Gia Hà Nội đã tham gia giảng dạy, nhiệt tình truyền đạt những kiến
41
Bảng 2.2. Bảng đo kết quả sự phụ thuộc của chu kì dao động T của con
lắc đơn vào biên độ dao động…………………………………. 47
Bảng 2.3. Bảng đo kết quả sự phụ thuộc của chu kì dao động T của con
lắc đơn vào khối lượng m của con lắc…………………………

47
Bảng 2.4. Bảng đo kết quả sự phụ thuộc của chu kì dao động T của con
lắc đơn vào chiều dài con lắc…………………………………

48
Bảng 3.1. Bảng thống kê kết quả của các bài kiểm tra…………………… 90
Bảng 3.2. Xử lí kết quả để tính các tham số……………………………… 91
Bảng 3.3. Bảng giá trị các tham số đặc trưng…………………………… 92
Bảng 3.4. Phân phối tần suất (W
i
%) số học sinh đạt điểm X
i
…………….

92
Bảng 3.5. Phân phối tần suất (ω
i
%) số học sinh đạt điểm X
i

v
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn…………………………………………………………………….i
Danh mục các bảng………………………………………………………… ii
Danh mục các hình…………………………………………………… ……iii
Mục lục……………………………………………………………………….iv
Mở dầu……………………………………………………….……………… 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC
DẠY HỌC THEO HỢP ĐỒNG 6

1.1.

Dạy học tích cực 6



Yêu cầu đối với giáo viên trong dạy và học tích cực 14

1.4. Dạy học phân hóa 14

1.4.1. Thế nào là dạy học phân hóa? 15

1.4.2. Đặc điểm cơ bản của dạy học phân hóa 15

1.4.3. Sự cần thiết của dạy học phân hóa đối với quá trình dạy học 15

1.4.4. Các con đường thực hiện phân hóa dạy học 15

1.5. Dạy học theo hợp đồng 18

1.5.1. Khái niệm hợp đồng và học theo hợp đồng 18

1.5.2. Quy trình thực hiện học theo hợp đồng 19

1.5.3. Ưu điểm và hạn chế của học theo hợp đồng 32

1.5.4. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả 34vi
1.6. Điều tra thực tiễn 34

1.6.1. Nội dung điều tra 34

1.6.2. Mục đích điều tra 35

2.2.2. Về kĩ năng 43

2.3. Thiết kế các nhiệm vụ trong dạy học chương “Dao động cơ” 44

2.4. Thiết kế tiến trình dạy học theo hợp đồng bài: “Con lắc đơn và con lắc lò
xo” 62

2.4.1.

Mục tiêu 63

2.4.2.

Chuẩn bị 63

2.4.3.

Thiết kế văn bản hợp đồng 64

2.4.4.

Các nhiệm vụ và trợ giúp của giáo viên trong hợp đồng 65

2.4.5.

Phiếu học tập cho các nhiệm vụ 69

2.4.6.

Đáp án cho các nhiệm vụ 71

3.5.1. Thuận lợi: 84

3.5.2. Khó khăn 85

3.5.3.

Cách khắc phục 85

3.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 85

3.7. Các bước tiến hành thực nghiệm 86

3.8 Đánh giá kết quả thực nghiệm 86

3.8.1.

Đánh giá định tính 86

3.8.2. Đánh giá định lượng 88

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 100

triển tối đa năng lực học tập và tự kiểm soát, tự đánh giá kết quả học tập của

2
mình. Dạy học theo hợp đồng khác với việc dạy học mang tính đồng loạt cho
toàn thể lớp học, cho phép giáo viên có thể quản lí và kiểm soát, đánh giá
năng lực học tập của mỗi học sinh, tạo cơ hội học tập cho tất cả học sinh trong
lớp theo trình độ, nhịp độ và theo năng lực. Do đó, phát huy được tính tích
cực học tập của học sinh, phần nào đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương
pháp dạy học hiện nay.
Vật lí học là cơ sở của nhiều ngành kĩ thuật và công nghệ quan trọng.
Những hiểu biết và nhận thức về Vật lí có giá trị to lớn trong đời sống và sản
xuất, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Môn Vật lí có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của
giáo dục phổ thông: cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức Vật lí cơ
bản ở trình độ phổ thông; bước đầu hình thành cho học sinh những kĩ năng và
thói quen làm việc khoa học; góp phần tạo ra ở họ các năng lực nhận thức,
năng lực hành động và các phẩm chất mà mục tiêu giáo dục đề ra. Môn Vật lí
có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, qua lại với các môn học khác: Toán học,
Sinh học, Hóa học…
Nội dung kiến thức chương “Dao động cơ” vật lí lớp 12 có rất nhiều
ứng dụng trong thực tế. Ví dụ: Sau khi học xong chương này học sinh sẽ giải
thích được các hiện tượng như: Tại sao chỉ cần đẩy một cái là cái võng đu đưa
nhiều lần rồi mới dừng lại? Hay tại sao một đoàn quân đi đều bước qua cầu có
thể làm sập cầu… Nắm chắc được kiến thức ở chương này, học sinh sẽ dễ
dàng hơn trong việc khảo sát dao động điện sẽ học ở chương tiếp theo. Tuy
nhiên, để các em học sinh đều nắm chắc được kiến thức là một việc làm
không dễ, nhất là ở những lớp có đầu vào thấp, trình độ phân hóa cao, chưa có
động cơ học tập đúng đắn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra với giáo viên là phải có
phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, phát huy được tính tích
cực học tập của học sinh.

Việt Hưng, phường Việt Hưng, Quận Long Biên, Hà Nội.
6. Vấn đề nghiên cứu
Tổ chức dạy học theo hợp đồng chương “Dao động cơ” như thế nào để
có thể phát huy được tính tích cực học tập của học sinh?

4
7. Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận dạy học hiện đại, cùng với việc phân tích nội
dung khoa học của kiến thức cần dạy, nếu thiết kế được nội dung dạy học
theo hợp đồng đáp ứng các mục tiêu dạy học thì sẽ phát huy được tính tích
cực học tập của học sinh.
8. Luận cứ
8.1. Luận cứ lý thuyết
Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề đổi mới phương pháp dạy học vật
lí theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trung học phổ
thông.
Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức dạy học theo hợp đồng trong
việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh trung học phổ thông.
Những phân tích về nội dung kiến thức chương “Dao động cơ”.
Thiết kế tiến trình dạy học theo hợp đồng một số nội dung kiến thức
chương “Dao động cơ” vật lí 12 cơ bản.
8.2. Luận cứ thực tiễn
Minh chứng dạy học thực nghiệm.
Kết quả học tập của học sinh thông qua các bài kiểm tra.
9. Phương pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về tâm lí học, giáo dục học và lý luận dạy học
bộ môn theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh.
Nghiên cứu mục tiêu, nội dung và nhiệm vụ dạy học của bộ môn vật lí
nói chung và của chương “Dao động cơ” nói riêng.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC
THEO HỢP ĐỒNG
1.1. Dạy học tích cực
1.1.1. Tính tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội.
Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của
giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần
phát triển cộng đồng. Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của sự
phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục.
1.1.2. Tính tích cực học tập
Tính tích cực học tập đó chính là những gì diễn ra bên trong người học.
Quá trình học tập tích cực nói đến những hoạt động chủ động của chủ thể - về
thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng
trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. [3, trang 20]
Tính tích cực nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ đối tượng tiếp
nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao hiệu quả học tập.
Tính tích cực học tập liên quan trước hết đến động cơ học tập. Động cơ
đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là
hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực. Tính tích cực học tập có liên quan chặt
chẽ đến tư duy độc lập. Suy nghĩ, tư duy độc lập là mầm mống của sự sáng
tạo. Ngược lại, học tập độc lập, tích cực, sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác,
hứng thú và nuôi dưỡng động cơ học tập.
* Một số đặc điểm cơ bản thể hiện tính tích cực học tập của học sinh:
- Có hứng thú học tập.
- Tập trung chú ý tới bài học/ nhiệm vụ học tập.
- Mức độ tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi, thảo luận,
ghi chép.
- Có sáng tạo trong quá trình học tập.

7

8
- Tại sao ô tô, xe máy lại cần có thiết bị giảm xóc?
- Hay: Tại sao một đoàn quân đi đều bước qua cầu có thể làm sập cầu?
- Hay: Tại sao giọng hát cao và khỏe của nam ca sĩ người Ý En-ri-cô Ca-
ru-cô lại có thể làm vỡ chiếc cốc thủy tinh ở gần?
Học sinh: Nêu các giả thuyết về nguyên nhân ô tô, xe máy cần phải có
thiết bị giảm xóc (nguyên nhân gây sập cầu khi đoàn quân đi đều bước qua
cầu…). Học sinh thảo luận, trao đổi, quan sát, và rút ra kết luận.
Giáo viên: chốt lại toàn bộ phần trả lời của học sinh.
1.1.3.2. Kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm để giải quyết
vấn đề
Sau khi đã xây dựng tình huống có vấn đề, công việc tiếp theo của giáo
viên là đưa người học vào hoạt động giải quyết vấn đề. Trong dạy học vật lí,
đó có thể là đề xuất và thực hiện giải pháp, đề xuất phương án thí nghiệm và
tiến hành thí nghiệm để rút ra kết luận.
Trong hoạt động giải quyết vấn đề, ngoài hoạt động của cá nhân cần tổ
chức các hoạt động theo nhóm.
Hoạt động nhóm có nhiều ưu điểm nổi bật, giúp học sinh phát huy tối
đa tính chủ động, tích cực trong giờ học. Thực tế ở các nước phát triển cho
thấy hoạt động nhóm nếu được tổ chức tốt thì sẽ giải quyết được nhiều vấn đề
trong giờ học, học tập có chất lượng, rèn được kĩ năng nói, kĩ năng viết cho
học sinh. Khi cho học sinh hoạt động theo nhóm, tùy theo từng bài mà giáo
viên có thể phân ra các nhóm nhỏ, nhóm lớn để thu hút học sinh giải quyết
vấn đề có hiệu quả.
* Các bước tiến hành:
+ Bước 1: Hình thành các nhóm làm việc: tổ chức nhóm, chỉ định chỗ
làm việc của các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm.
+ Bước 2: Các nhóm thực hiện công việc: thảo luận, trao đổi ý kiến, đưa
ra kết luận chung, cử đại diện trình bày kết quả của nhóm trước lớp.


10
Phương pháp dạy và học tích cực đem lại cho người học hứng thú,
niềm vui trong học tập, nó phù hợp với đặc tính ưa thích hoạt động của trẻ
em. Việc học đối với học sinh khi đã trở thành niềm hạnh phúc sẽ giúp các em
tự khẳng định mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo. Như vậy, dạy và
học tích cực nhấn mạnh đến tính tích cực hoạt động của người học, tính nhân
văn của giáo dục.
*Bản chất của dạy và học tích cực là:
- Khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ.
- Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích
ứng với đời sống xã hội.
*Tiêu chí quan trọng để đổi mới phương pháp dạy và học:
- Tiêu chí hàng đầu của việc dạy và học là dạy cách học.
- Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính chủ động của người học.
- Công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và đa phương tiện.
1.1.5. Những dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực
*Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh và chú trọng rèn
luyện phương pháp tự học
- Một trong những yêu cầu của dạy và học tích cực là khuyến khích
người học tự lực khám phá những điều chưa biết trên cơ sở những điều đã
biết. Tham gia vào các hoạt động học tập, người học được đặt vào những tình
huống, được trực tiếp quan sát, thảo luận, trao đổi, làm thí nghiệm… Qua đó,
người học không những chiếm lĩnh được kiến thức và kĩ năng mới mà còn
làm chủ cách thức xây dựng kiến thức, từ đó tính tự chủ và sáng tạo có cơ hội
được bộc lộ, rèn luyện.
- Trong dạy học, cần rèn cho người học phương pháp tự học. Nếu người
học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen và ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ
lòng say mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người học và kết quả
học tập sẽ tăng lên.
- Hướng dẫn tự học, giáo viên cần quan tâm đến các vấn đề sau:


12
- Giúp học sinh phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề và nhấn mạnh rằng
học sinh có thể học được phương pháp học thông qua hoạt động.
- Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi đòi hỏi về phía người học sự
học tập tích cực để tìm lời giải đáp cho vấn đề đặt ra và về phía người dạy cần
có hướng dẫn kịp thời giúp cho sự tìm tòi của người học đạt kết quả.
*Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
- Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà học sinh tự liên hệ phần
nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập.
- Kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò không những giúp học
sinh nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách học mà giáo viên cũng có điều
kiện nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách dạy.
1.2. Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực (dạy học tích
cực) chính là phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh. Nói cách
khác là “Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm”.
Trong dạy và học tích cực, dưới sự thiết kế, tổ chức, định hướng của
giáo viên, người học được tham gia vào quá trình hoạt động học tập từ khâu
phát hiện vấn đề, tìm giải pháp cho vấn đề đặt ra, thực hiện các giải pháp và
rút ra kết luận. Quá trình đó giúp người học lĩnh hội nội dung học tập đồng
thời phát triển năng lực sáng tạo.
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực có nghĩa là hoạt
động học tập phải được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa hoạt động cá nhân
và hoạt động hợp tác, trong mối quan hệ tương tác giữa thầy - trò, trò - trò
trong môi trường học tập thân thiện, an toàn.
Trong dạy học tích cực, học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên đóng
vai trò người tổ chức, hướng dẫn, đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu,
rộng, có kĩ năng sư phạm, đặc biệt phải có tình cảm nghề nghiệp thì việc đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực mới đạt hiệu quả.


14
1.3.2. Yêu cầu đối với giáo viên trong dạy và học tích cực
*Trách nhiệm – lương tâm của người thầy
- Có thái độ tích cực, thân thiện với học sinh.
- Có nhạy cảm sư phạm.
- Linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng các phương pháp dạy học, tổ chức
các hoạt động dạy học đảm bảo sự tương tác giữa người dạy và người học,
giữa người học và người học.
*Đáp ứng sự đa dạng của dạy và học tích cực.
- Hiểu rõ bản chất của dạy và học tích cực.
- Có năng lực chuyên môn vững vàng.
- Có thái độ coi trọng sự khác biệt của người học và có khả năng tổ chức
các hoạt động dạy học đáp ứng khả năng/ năng lực của người học.
1.4. Dạy học phân hóa
Hiện tượng chán học, lười học của số lượng lớn học sinh là điều rất
đáng lo ngại trong các nhà trường, đặc biệt là ở các trường trung học phổ
thông. Một trong những nguyên nhân của hiện tượng này là “Chủ nghĩa bình
quân” trong cách đối xử với học sinh, không tính đến sự khác nhau của học
sinh về tư chất, thiên hướng và trình độ phát triển, điều kiện tự nhiên, điều
kiện kinh tế - xã hội…trong môi trường các em sống.
Ở cấp Tiểu học, sự khác biệt của các em chưa lớn. Để đảm bảo kết quả
giáo dục ở cấp học này, cần tính đến sự khác biệt giữa các học sinh trong
khuôn khổ của phương pháp tiếp cận cá nhân với học sinh. Đồng thời, bổ
sung bằng những giờ học thêm và bằng hoạt động ngoại khóa.
Ở cấp học cao hơn, cần cân đối giữa khối lượng tri thức của học sinh
với thời gian cho phép. Nếu không có phương án đúng để giải quyết mâu
thuẫn này thì tình trạng quá tải tiếp tục tăng và đặc biệt nặng nề với học sinh
có lực học trung bình, yếu. Nhưng nếu giảm nhịp độ và khối lượng tri thức thì
học sinh có năng lực tốt sẽ chán nản. Do đó cần phân hóa dạy học để giải

theo một trong hai dấu hiệu sau:
+ Theo năng lực chung
+ Theo năng lực chuyên biệt (năng lực riêng)

16
 Phân hóa dạy học theo năng lực chung: có thể căn cứ vào kết quả học tập
của năm học trước để phân học sinh thành các lớp có cùng sức học.
Lớp A - có trình độ khá nhất.
Lớp B - có trình độ thấp hơn.
Lớp C - có trình độ thấp nhất.
Hàng năm lại chuyển đổi học sinh từ lớp này sang lớp khác. Hình thức
lớp chọn, lớp chuyên là một hình thức của dạng phân hóa này.
 Phân hóa dạy học theo năng lực riêng: Là sự tập hợp học sinh có cùng
năng lực về một số môn học như: có các lớp theo năng lực về các môn xã hội,
các môn khoa học tự nhiên và toán, các môn khoa học – kỹ thuật. Sâu hơn là
trong từng môn lại thực hiện việc phân hóa học sinh trong cùng một lớp học.
Cần chú ý rằng, việc phân hóa dạy học theo năng lực còn có nhược
điểm cần khắc phục: với học sinh được vào lớp “có năng lực” (lớp chọn) có
thể sinh tự phụ, kiêu căng, còn số học sinh phải học lớp “kém năng lực” sẽ
mặc cảm, tự ti, ảnh hưởng không tốt tới tâm lý học tập. Hơn nữa, hiện nay
chúng ta còn thiếu công cụ, thiếu phương pháp khách quan để đánh giá chính
xác năng lực từng học sinh. Vì vậy, khi tiến hành phân hóa dạy học theo kiểu
này cần thực hiện hết sức thận trọng và dân chủ.
Phân hóa dạy học giành cho học sinh “không có năng lực”: Đó là trẻ
em thiểu năng về trí tuệ, một số giác quan chủ yếu bị tổn thương như: thính
giác (điếc), thị giác (mù),… Những trẻ em này được học tập ở những loại
trường đặc biệt, với nội dung và phương pháp riêng.
Phân hóa dạy học theo nghề nghiệp tương lai: Phần lớn học sinh ở
lứa tuổi 14 – 15 đã ổn định hứng thú về một lĩnh vực tri thức hoặc về một
dạng hoạt động nào đó. Trong trường hợp tổ chức phân hóa dạy học nhằm

thực của người học để tổ chức những tác động sư phạm phù hợp với học sinh
tích cực học tập. Dựa trên trình độ khá, trung bình, yếu mà giáo viên giao cho
học sinh những nhiệm vụ tương ứng.

18
Phân hóa giờ học theo động cơ, lợi ích học tập của người học: Với
nhóm học sinh có nhu cầu tìm tòi, hiểu biết cao cần xác định nhiệm vụ học
tập cao hơn và đưa thêm nhiều nội dung, tài liệu học tập cho học sinh tự học.
Với nhóm học sinh có nhu cầu học tập không cao thì việc phân hóa dạy học
phải chú ý đến nhiệm vụ, nội dung cơ bản và bổ sung những vấn đề thực tiễn
giúp người học hào hứng học tập.
Dạy theo hợp đồng thực hiện hình thức phân hóa theo năng lực và động
cơ học.
1.5. Dạy học theo hợp đồng
1.5.1. Khái niệm hợp đồng và học theo hợp đồng
1.5.1.1. Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng theo nghĩa chung nhất là sự thoả thuận giữa các bên về việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ
cụ thể.
1.5.1.2. Khái niệm học theo hợp đồng
Trong dạy học theo hợp đồng thì học sinh phải học theo hợp đồng.
Học theo hợp đồng là một hoạt động học tập trong đó mỗi học sinh
được giao một hoạt động trọn gói bao gồm các nhiệm vụ/ bài tập bắt buộc và
tự chọn khác nhau trong khoảng thời gian nhất định. Học sinh chủ động và
độc lập quyết định về thời gian cho mỗi nhiệm vụ/ bài tập và thứ tự thực hiện
các nhiệm vụ/ bài tập đó theo khả năng của mình. [3, trang 100]
Trong học theo hợp đồng, giáo viên là người thiết kế, xây dựng các
nhiệm vụ/ bài tập trong hợp đồng, tổ chức hướng dẫn học sinh nghiên cứu
hợp đồng, kí kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng theo năng lực, trình độ và
nhịp độ học tập của mỗi cá nhân nhằm đạt được mục tiêu dạy học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status