Giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10, trung học phổ thông - Pdf 25

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẬU THỊ HẢI VÂN
GIÁO DỤC Ý THỨC VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10,
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
MÃ SỐ: 601410 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.VŨ QUANG HIỂN 4


5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.15. Ăn mừng chiến thắng Bạch Đằng năm 1288
78
Hình 2.16. Dấu tích bãi cọc Bạch Đằng ngày nay
78 6
MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục các chữ viết tắt
ii
Danh mục các bảng

23
1.1.6. Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo
Tổ quốc trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông

30
1.2. Cơ sở thực tiễn
33
1.2.1. Thực trạng của việc giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo Tổ
quốc cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông

33
1.2.2. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết
39
Chƣơng 2: CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC VỀ CHỦ
QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC CHO HỌC SINH LỚP 10 - TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM 43
2.1. Mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình Lịch sử Việt Nam lớp
10 (Chương trình chuẩn)

43
2.1.1. Mục tiêu
43
2.1.2. Những nội dung cần khai thác trong chương trình lịch sử Việt
Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX ) để giáo dục ý thức chủ quyền
biển, đảo Tổ quốc.
87
2.4.1. Mục đích thực nghiệm
87
2.4.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
88
2.4.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm
88
2.4.4. Kết quả thực nghiệm
89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
92
1. Kết luận
92
2. Khuyến nghị
93
TÀI LIỆU THAM KHẢO
96
PHỤ LỤC
100
đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển. Việt Nam là một quốc gia biển
với 3.260 km bờ biển, tổng diện tích những vùng biển chủ quyền bao gồm
những đảo và quần đảo, những vùng đặc quyền kinh tế biển rộng gấp ba lần
9
đất liền. Và là một quốc gia đứng thứ 10 thế giới về tỷ lệ sở hữu biển (cứ
100km2 trên đất liền có 1km ven biển). Vì vậy biển Việt Nam không chỉ chứa
đựng tiểm năng kinh tế to lớn và là cửa ngõ để chúng ta mở rộng quan hệ với
quốc tế; Biển còn đóng vai trò quan trọng về an ninh quốc phòng, là địa bàn
chiến lược quan trọng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Trong lịch sử hàng
nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển luôn gắn liền với quá
trình xây dựng và phát triển của đất nước con người Việt Nam. Đặc biệt,
trong bối cảnh quốc tế hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam cũng
đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức mang tính khu vực và tính
toàn cầu. Các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu can thiệp vào công
việc nội bộ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ,
biên giới quốc gia, nhất là trong tình hình hiện nay vấn đề bảo vệ chủ quyền
quốc gia trên biển đang có nhiều diễn biến phức tạp. Vì vậy việc giáo dục ý
thức về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ cần thiết và
có ý nghĩa chiến lược.
Tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), đã nhấn
mạnh: biển Việt Nam đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn, mật độ dân cư trên
biển, đảo và quần đảo thấp, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vùng ven biển, trên
biển, đảo còn chưa hoàn thiện, khả năng bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên
biển còn nhiều hạn chế. Do đó, cần phải đầu tư thích đáng về mọi mặt, đảm bảo
cho sự phát triển kinh tế và tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền lợi ích quốc
gia trên biển. Cần phải có một chiến lược tổng thể với các giải pháp mang tính
hệ thống như tuyên truyền, giáo dục nhận thức về chủ quyền biển, đảo; tăng

Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành trung ương Đảng
(khóa X), được sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương và Quân chủng
Hải quân, Trung tâm thông tin công tác tư tưởng phối hợp với Cục chính trị
Quân chủng Hải quân biên soạn cuốn Biển và hải đảo Việt Nam xuất bản tại
Hà Nội, năm 2007. Tài liệu đã cung cấp những nội dung cơ bản về quan
điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các tư liệu, tài liệu về
biển, đảo Việt Nam và quốc tế. Tài liệu đã nhấn mạnh: “Việt Nam là một quốc
gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với
khu vực và trên thế giới. Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ
11
nước của dân tộc, biển luôn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của
đất nước và con người Việt Nam” [1, tr 3]. Tài liệu đã khẳng định: “Biển có
vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển
nói riêng và của thế giới nói chung. Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng
thế mạnh về biển đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao. Do tầm quan trọng
của biển, từ lâu cuộc chạy đua trong sự phát triển kinh tế biển cũng như triển
khai lực lượng quân sự trên biển và sự tranh chấp trên biển diễn ra rất gay
gắt” [1, tr 41]. Vì vậy “việc xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ quyền lợi
biển là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc gìn giữ toàn vẹn chủ quyền
quốc gia, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội của đất
nước trong thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế” [1, tr 3].
Các tác giả biên soạn Tài liệu tập huấn giáo viên cốt cán giáo dục quốc
phòng – an ninh do Vụ giáo dục quốc phòng và chương trình phát triển Giáo
dục phổ thông ban hành cho rằng để thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến
lược biển Việt Nam đến năm 2020 theo Nghị quyết số 09-NQ/TƯ ngày
09/02/2007 tại Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa
X), “Chúng ta phải tiến hành xây dựng và phát triển đồng bộ trên tất cả các

quyền trên “lãnh hải” hay còn gọi là “vùng nước lãnh thổ” – một dải biển ven
bờ nằm ngoài và tiếp liền với lãnh thổ đất liền hoặc nội thủy của quốc gia ven
biển, có một chiều rộng nhất định (không quá 12 hải lý) được tính từ đường
cơ sở của quốc gia và thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia ven biển. Chủ
quyền này được mở rộng và áp dụng đối với cả vùng trời trên lãnh hải, cũng
như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy của lãnh hải.
Tiếp tục khẳng định về chủ quyền biển, đảo Việt Nam, Người Việt với biển
của tác giả Nguyễn Văn Kim (2011) đã tập trung khai thác và lý giải mối
quan hệ giữa đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam với thế giới bên ngoài qua
con đường biển. “Thế hệ nối tiếp thế hệ, các cộng đồng dân cư sinh sống trên
lãnh thổ Việt Nam đã khai phá đất đai, chinh phục biển cả, xác lập chủ
quyền, mở rộng giao thương, viết tiếp những trang sử hào hùng của cha ông
để lại. Cùng với quá trình “mở nước” về phương Nam, là những hành trình
giương buồm ra khơi làm chủ nhiều quần đảo, nhiều vùng biển” [17, tr 10].
Từ đó, tài liệu nhấn mạnh “chủ quyền và an ninh biển là chủ đề được quan
13
tâm xuyên suốt theo dòng chảy của lịch sử đất nước…việc bảo vệ chủ quyền
giữ gìn an ninh phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ mang tính chiến lược lâu
dài” [15, tr. 11].
Trong Những điều cần biết về Đất – Biển – Trời Việt Nam của tác giả Lưu
Văn Lợi (2010) đã khẳng định rằng: “Trên chặng đường bốn mươi thế kỉ, dân
tộc ta đã kiên trì và từng bước mở rộng ra biển Đông, từ ven bờ tiến ra biển
gần, rồi biển xa, từ đất liền tiến vào các đảo ven bờ rồi các đảo xa hơn. Biển
có ý nghĩa chiến lược đối với nước ta về cả hai mặt an ninh và phát triển”
[29, tr. 49]. Theo tác giả, “đối với tất cả các quốc gia dù là Nhà nước – dân
tộc có lịch sử lâu đời hay Nhà nước mới giành được được độc lập và đang
phải xây dựng dân tộc, lãnh thổ và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng,

những biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy học.
Trong các giáo trình phương pháp dạy học lịch sử do Trần Văn Trị,
Phan Ngọc Liên (chủ biên) (xuất bản năm 1992); Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình
Tùng, Nguyễn Thị Côi biên soạn tập 1, 2 (xuất bản năm 2002, tái bản có sửa
chữa bổ sung năm 2009, 2010): các tác giả đề cập đến chức năng giáo dục của
bộ môn lịch sử và các phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát huy tính
tích cực của học sinh. Cụ thể, trong cuốn Phương pháp dạy học lịch sử, tập 1
của Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2010) đã dành một
chương nói về chức năng giáo dục của bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ
thông và nêu rõ “nhà trường phổ thông chịu trách nhiệm quan trọng cùng với xã
hội hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ trong điều kiện hiện nay. Môn
Lịch sử với chức năng và nhiệm vụ của mình góp phần tích cực vào công việc
này” [24, tr 205]. Các tác giả đã khẳng định “với tính đa dạng, phong phú của
bộ môn, nội dung các khóa trình lịch sử ở trường phổ thông có khả năng giáo
dục nhiều mặt cho học sinh” [24, tr. 209]. Từ đó các tác giả đã đưa ra những
nguyên tắc và biện pháp giáo dục thái độ, tình cảm, tư tưởng cho học sinh trong
dạy học lịch sử. Theo các tác giả, giáo dục thái độ, tình cảm tư tưởng chính trị,
truyền thống dân tộc, phẩm chất đạo đức cho học sinh qua dạy học lịch sử ở
trường phổ thông là điều rất cần thiết, quan trọng. Song việc giáo dục phải chú
trọng ở tính hiệu quả giáo dục, phải xuất phát từ nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ nói
15
chung, từ mục tiêu đào tạo của trường, nội dung, chức năng, nhiệm vụ bộ môn
để lựa chọn các biện pháp sư phạm có hiệu quả giáo dục cao.
Nghiên cứu chuyên đề Giáo dục học sinh qua dạy học lịch sử, tác giả
Trần Vĩnh Tường trong bài nghiên cứu Khai thác nội dung truyền thống yêu
nước qua khóa trình lịch sử dân tộc để giáo dục cho học sinh phổ thông đã nêu
rõ giáo dục lòng yêu nước là ưu thế của bộ môn lịch sử và khẳng định “mỗi quốc

Việt Nam” đăng trên tạp chí nghiên cứu giáo dục (số 6 - 1994) đã khẳng định
vị trí, vai trò của bộ môn Lịch sử trong nền giáo dục quốc dân, đưa ra một số
kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử ở trường phổ thông.
Trong tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 350, chuyên đề quí IV – 2004
đăng bài “Bộ môn lịch sử với việc hình thành và phát triển nhân cách ở học
sinh” của tác giả Trịnh Đình Tùng, khẳng định ưu thế môn lịch sử trong việc
hình thành giá trị nhân cách con người và giáo dục cho học sinh những truyền
thống tốt đẹp của dân tộc.
Một số luận án, luận văn của nghiên cứu sinh, học viên cao học trường
Đại học Sư phạm Hà Nội đã đề cập đến nội dung giáo dục tư tưởng, đạo dức
tình cảm cho học sinh trong dạy học lịch sử như: “Giáo dục lòng yêu quê
hương cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học lịch sử địa phương ở
Nghĩa Bình” của Trần Quốc Tuấn – 1986; “Giáo dục truyền thống đoàn kết
dân tộc cho học sinh khi dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa
đầu thế kỷ XIX ở lớp 10, trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Thu Hương –
2009; “Giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh khi dạy học phần lịch sử
Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỉ XV ở lớp 10, trung học phổ thông”
của Trần Thị Bích Ngọc – 2009. Mặc dù các luận văn trên đã tập trung khai
thác nội dung khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguyên thủy đến nửa đầu thế kỉ
XIX để giáo dục lòng yêu nước, giáo dục truyền thống yêu nước và truyền
thống đoàn kết trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Song các
luận văn đều chưa khai thác những nội dung nhằm giáo dục ý thức về chủ
quyền biển, đảo Tổ quốc cho học sinh – một bộ phận thiêng liêng của chủ
quyền lãnh thổ Tổ quốc.
Do đó, trên cơ sở thành tựu của các công trình nghiên cứu, được sự hướng
dẫn và giúp đỡ của thầy PGS.TS Vũ Quang Hiển, chúng tôi đã tiến hành nghiên
17
18
- Tiến hành khảo sát thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi
của đề tài nghiên cứu.
6. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở phương pháp luận
- Dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về Giáo
dục và Đào tào.
- Dựa trên những thành tựu nghiên cứu mới về lí luận giáo dục, tâm lí
học, phương pháp dạy học lịch sử của các nhà nghiên cứu khoa học, giáo dục
lịch sử, nghiên cứu lịch sử.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, các văn bản của Bộ
GD&ĐT, của các cấp ngành có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu các công trình của các tài liệu từ các nguồn: sách, báo, tạp
chí, internet về các vấn đề có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu những nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam (lớp 10 –
chương trình chuẩn) và vấn đề ý thức chủ quyền biển, đảo Tổ quốc trong
chương trình lịch sử Việt Nam lớp 10.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, điều tra thu thập thông tin về vấn đề giáo dục ý thức về chủ
quyền biển, đảo Tổ quốc cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học
lịch sử Việt Nam : điều tra bằng phiếu đối với giáo viên và học sinh ở trường
trung học phổ thông Ngô Quyền.
- Sưu tầm các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Thực nghiệm sư phạm.
7. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học lịch sử Việt Nam (lớp 10), việc giáo dục ý

20
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC
VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG

1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm “Ý thức”, “Giáo dục ý thức”
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó
là hình thức cao của sự phản ánh, của hiện thực khách quan, hình thức mà
riêng con người mới có.
Theo từ điển Tiếng Việt:
- Ý thức là khả năng của con người phản ánh và tái hiện hiện thực vào
trong tư duy; là sự nhận thức đúng đắn, biểu hiện bằng thái độ hành động cần
phải có (ý thức được việc làm của mình) [31, tr. 1486-1487].
- Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự
phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy
dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [31, tr. 510].
Như vậy, giáo dục ý thức là sự phản ánh của hiện thực khách quan,
hình thức thông qua quá trình giáo dục con người. Như ý thức về chủ quyền
lãnh thổ tổ quốc, ý thức về chủ quyền biển, đảo tổ quốc Giáo dục ý thức
chính là quá trình giáo dục làm khơi dậy sự phản ánh của hiện thực khách
quan cho con người, làm con người nhận thức đúng đắn, ý thức được thái độ
hành động của mình.
1.1.1.2. Khái niệm “chủ quyền biển, đảo”
Khái niệm chủ quyền biển, đảo nằm trong khái niệm chủ quyền lãnh
thổ quốc gia.
Theo Từ điển thuật ngữ Lịch sử phổ thông: “chủ quyền quốc gia là
quyền cao nhất của một dân tộc, một quốc gia độc lập, tự mình làm chủ đất

1982 quy định, nội thủy là toàn bộ vùng nước tiếp giáp với bờ biển và nằm
phía trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải. Tại nội thủy,
22
quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ
đất liền của mình.
* Lãnh hải (Territorial Sea) : Lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài
đường cơ sở. Theo luật biển quốc tế cho đến những năm 60 của thế kỷ 20,
chiều rộng của lãnh hải của quốc gia ven biển chỉ có 03 hải lý (mỗi hải lý
bằng 1.852m). Theo luật biển quốc tế hiện đại, cụ thể là điều 3 của Công ước
Luật Biển năm 1982 thì chiều rộng tối đa của lãnh hải là 12 hải lý. Lãnh hải
Việt Nam bao gồm lãnh hải đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải quần đảo.
Các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với lãnh hải của mình. Chủ
quyền đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải là tuyệt đối.
Chủ quyền đối với vùng trời phía trên lãnh hải cũng là tuyệt đối. Tuy nhiên,
chủ quyền đối với vùng nước lãnh hải không được tuyệt đối như trong nội
thủy bởi vì ở lãnh hải của quốc gia ven biển, tàu thuyền của các quốc gia khác
được quyền qua lại không gây hại.
Quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định để kiểm soát và
giám sát tàu thuyền nước ngoài thực hiện việc qua lại lãnh hải của mình trong
một số vấn đề (an toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển; bảo vệ các
thiết bị, công trình, hệ thống đảm bảo hàng hải; bảo vệ tuyến dây cáp và ống
dẫn ở biển; bảo tồn tài nguyên sinh vật biển; ngăn ngừa vi phạm pháp luật của
quốc gia ven biển liên quan đến đánh bắt hải sản; bảo vệ môi trường biển;
nghiên cứu khoa học biển; và ngăn ngừa các vi phạm về hải quan, thuế khóa,
nhập cư, y tế) và quy định hành lang để tàu thuyền đi qua .
* Vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous Zone):Vùng tiếp giáp lãnh hải là
vùng biển nằm ngoài và sát với lãnh hải. Chiều rộng của vùng tiếp giáp lãnh

quốc gia ven biển. Trên thực tế, rìa ngoài của thềm lục địa ở các khu vực có
khác nhau: Có nơi hẹp, không đến 200 hải lý; nhưng có nơi rộng đến hàng
trăm hải lý. Điều 76 của Công ước Luật Biển năm 1982 quy định rất rõ ràng.
Thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng tối thiểu 200 hải lý (kể cả khi thềm
lục địa thực tế hẹp hơn 200 hải lý). Nếu thềm lục địa thực tế rộng hơn 200 hải
lý thì quốc gia ven biển có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến tối đa 350
hải lý hoặc không quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500m. Tuy nhiên, để
mở rộng thềm lục địa quá 200 hải lý thì quốc gia ven biển liên quan phải trình
cho Ủy ban Thềm lục địa của Liên hợp quốc báo cáo quốc gia kèm đầy đủ
24
bằng chứng khoa học về địa chất và địa mạo của vùng đó. Sau đó, Ủy ban
Thềm lục địa của Liên hợp quốc sẽ xem xét và ra khuyến nghị.
Điều 77 của Công ước Luật Biển năm 1982 quy định trong thềm lục địa
của mình, các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò,
khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa của mình. Hiện
nay, các nước ven biển đang khai thác dầu và khí để phục vụ phát triển đất
nước. Sau này, khi các nguồn tài nguyên ở trên đất liền khan hiếm thì các
quốc gia ven biển sẽ khai thác các tài nguyên khác ở thềm lục địa của mình.
Cần lưu ý là quyền chủ quyền đối với thềm lục địa mang tính đặc quyền ở chỗ
nếu quốc gia đó không thăm dò, khai thác thì cũng không ai có quyền khai
thác tại đây nếu không được sự đồng ý của quốc gia ven biển.
Điều cần nhấn mạnh là, một mặt các quốc gia ven biển được hưởng các
quyền tương ứng như đã nêu trên đối với các vùng biển của mình, nhưng mặt
khác họ có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các quốc gia ven biển khác.
1.2.2. Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông
Ở trường phổ thông, môn Lịch sử có ưu thế giáo dục rất lớn, nhằm giúp
cho học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và

dụng đồ dùng trực quan, ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin vào học tập,
tổ chức và thực hiện các hoạt động ngoại khóa của môn học; Vận dụng các
kiến thức lịch sử đã học vào cuộc sống hiện tại. Trong Luật Giáo dục đã
khẳng định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn” [22, tr.11].
Về giáo dục: Dạy học lịch sử nhằm thực hiện việc “dạy chữ để dạy
người”. Dạy học lịch sử phải giáo dục cho học sinh những quan điểm tư
tưởng, lập trường, phẩm chất đạo đức, nhân cách tình cảm đứng đắn, góp
phần đào tạo con người Việt Nam toàn diện. Đó là trên cơ sở nhận thức đúng
đắn về sự phát triển khách quan hợp quy luật về sự phát triển của xã hội loài
người và dân tộc, giáo dục cho học sinh tình cảm, niểm tin vững chắc vào sự
phát triển của lịch sử dân tộc trong lao động sản xuất cũng như trong đấu
26
tranh giành độc lập dân tộc tộc, bảo vệ Tổ quốc và thắng lợi tất yếu của sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời, thông qua kiến thức lịch sử giáo dục cho các em lòng biết
ơn, noi gương theo các thế hệ cha anh, phấn đấu trong học tập và lao động có
ý thức làm nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ quốc tế Bồi dưỡng phẩm chất đạo
đức, tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho
độc lập dân tộc, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa bình, dân chủ; hình thành
những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng
Các mục tiêu như trên còn được thể hiện ở mục tiêu của chương trình lịch
sử ở từng cấp học, là cơ sở xác định mục tiêu cụ thể cho từng bài học trong
chương trình và định hướng cho việc dạy học lịch sử đạt kết quả cao nhất.
Tóm lại, mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông là cung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status