GIÁO DỤC Ý THỨC VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG CHO HỌC SINH THCS - Pdf 33

BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI
“GIÁO DỤC Ý THỨC VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO
QUÊ HƯƠNG CHO HỌC SINH THCS”
Lĩnh vực: 02
Tên lĩnh vực: Khoa học xã hội và hành vi
NHÓM THỰC HIỆN:
1. Lê Thi Bích Hồng : Nhóm trưởng
2. Nguyễn Thị Thu Yến : Thành viên
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
Giáo viên: …………………………..

MỤC LỤC

1


NỘI DUNG

TRANG

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

5

2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

14


Nam.
1.1.1. Vài nét khái quát chung về biển Đông

15

1.1.2. Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

18

1.2. Phạm vi vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam

22

1.3. Cơ sở pháp lí khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ
quyền của Việt Nam

23

1.3.1. Nguồn sử liệu Việt nam

23

1.3.2. Nguồn sử liệu nước ngoài

55

1.3.3. Nguồn sử liệu Trung Quốc

68


CHƯƠNG 4: CÁC HÌNH THỨC GIÁO DỤC CHỦ QUYỀN
BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG CHO HỌC SINH THCS

82

4.1. Giáo dục thông qua giờ chào cờ đầu tuần

82

4.2. Giáo dục thông qua tích hợp, lồng ghép vào các giờ chính
khoá môn Lịch sử, Địa lý, Văn học, GDCD, HĐGDNGLL.

84

4.3. Giáo dục chủ quyền biển đảo quê hương thông qua hoạt
động ngoại khóa (HĐNK) Lịch sử.

87

KẾT QUẢ

95

KẾT LUẬN KHOA HỌC

97

HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI


Hoạt động ngoại khoá:

HĐNK

Giáo dục công dân:

GDCD

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: HĐGDNGLL
Công nghệ thông tin:

CNTT

Dạy học tích hợp:

DHTH

Chương trình- sách giáo khoa:

CT-SGK

Nhà xuất bản:

NXB

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

4


5


Thứ hai: Do Trung Quốc vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt
Nam.
Qua tìm hiểu trên mạng Internet và theo dõi chương trình thời sự trên
vô tuyến truyền hình, chúng em biết rằng: Từ năm 2009 tới nay, Trung Quốc
liên tiếp đơn phương gây hấn với Việt Nam và các nước tuyên bố chủ quyền
ở biển Đông ở nhiều cấp độ khác nhau nhưng đều nhằm thực hiện âm mưu
độc chiếm biển Đông. Vị trí các điểm Trung Quốc gây hấn đều nằm trong
đường chín đoạn mà Trung Quốc tự vẽ ra và tuyên bố đơn phương.
Theo quan sát của các chuyên gia, các hành động mang tính gây hấn
đơn phương của Trung Quốc trong 4 năm qua có một điểm chung là đều diễn
ra trước mỗi kỳ đối thoại Shangri-la.
Cụ thể, 5h58 phút ngày 26/5/2011, trước khi kỳ đối thoại Shangri-la
diễn ra 10 ngày, 3 tàu hải giám Trung Quốc đã vào sâu trong thềm lục địa và
vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để cắt cáp tàu Bình Minh 02 của tập
đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Vị trí mà 3 tàu hải giám Trung Quốc phá
hoại thiết bị của tàu Bình Minh 02 chỉ cách mũi Đại Lãnh, Phú Yên khoảng
120 hải lý.
Tương tự, trước thềm đối thoại Shangri la năm 2012, Trung Quốc tiếp
tục có hành động gây hấn đơn phương nghiêm trọng khiến tình hình biển
Đông tiếp tục căng thẳng hơn. Sự việc xảy ra vào tháng 4/2012, Trung Quốc
chiếm quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough của Philippines bằng việc kéo
gần 100 tàu thuyền các loại ra bãi cạn này chiếm đóng.
Tiếp tục chiêu trò cũ, ngày 20/3/2013, trước thềm đối thoại Shangri-la
2013 khoảng 1,5 tháng, một tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi trong lúc đang
đánh bắt tại ngư trường truyền thống thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
đã bị tàu Trung Quốc truy đuổi và bắn cháy cabin.
An toàn Biển Đông bị đe dọa nghiêm trọng khi Trung Quốc hạ đặt trái

thêm đường băng trái phép thứ 3 trên đá Vành khăn- một trong những hòn
đảo nhân tạo mà Bắc Kinh đã bồi đắp phi pháp tại quần đảo Trường sa của
Việt Nam.
8


Ảnh chụp từ vệ tinh ngày 2.4.2015 cho thấy công trình đường băng phi pháp của Trung
Quốc ở đá Chữ Thập

Công trình Trung Quốc xây phi pháp trên Đá Xu Bi của Việt Nam

Quy hoạch đá Vành Khăn của Trung Quốc.

9


Đến tháng 10/2015, Trung Quốc khánh thành hai ngọn hải đăng tại đá
Châu Viên và Gạc Ma thuộc quần đảo Trường sa của Việt Nam.

Một trong hai ngọn hải đăng tại Trường Sa mà Trung Quốc mới khánh thành

Ngoài ra, Trung Quốc còn tiến hành nhiều hoạt động bồi đắp, xây
dựng, cải tạo…phi pháp khác trên hai quần đảo của chúng ta.

Đảo nhân tạo Trung Quốc xây trái phép trên biển Đông

10


Bãi đá Gạc Ma tại thời điểm Trung Quốc xây dựng trái phép

12


nguyên, tiềm năng và lợi thế biển đảo, vấn đề tranh chấp ở biển Đông... Tình
hình biển Đông hiện nay với thực trạng do sự nhận thức còn hạn chế như vậy
cùng với công tác tuyên truyền chưa thật sự sâu rộng trong nhà trường và xã
hội đã khiến cho dư luận xã hội quan tâm đặc biệt, nhiều ý kiến đã nêu rõ sự
quan ngại:
GS Phan Huy Lê- nhà sử học, đã nói: "Tôi kiến nghị với Bộ GD&ĐT
phải bổ sung ngay lập tức, càng sớm càng tốt đưa những kiến thức về biển
Đông và chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa chứ không
thể chậm trễ hơn được nữa. Nếu chậm trễ, để cho các em lớn lên mù tịt về
biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa là cái tội của chúng ta, là cái tội của người
lớn và của nền giáo dục đối với thế hệ trẻ".
Nhà sử học Dương Trung Quốc cũng phát biểu: “...chúng ta quá đơn
giản, không thấy ý thức trách nhiệm trong việc đào tạo cho thế hệ trẻ ý thức
về chủ quyền lãnh thổ dân tộc của mình. Không phải tự nhiên ông cha ta xưa
kia luôn luôn coi Văn, Sử, Triết là 3 kiến thức cơ bản nhất để đào tạo con
người. Giờ đây chúng ta có rất nhiều nhu cầu về kiến thức khác, đặc biệt là
khoa học công nghệ. Nhưng chúng ta đừng quên rằng cái căn bản đối với mỗi
một con người của mỗi một quốc gia chính là những kiến thức cơ bản về khoa
học xã hội, nhân văn”.
Trong khi Bộ GD-ĐT chưa chính thức đưa nội dung chủ quyền biển,
đảo vào chương trình giáo dục, nếu mỗi nhà trường chú trọng hơn đến vấn đề
này bằng những cách làm khác nhau, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực,
trong đó có việc đưa vấn đề chủ quyền biển, đảo vào giáo dục lồng ghép trong
giảng dạy một số bài học, trong các hoạt động cụ thể thì tin chắc rằng các bạn
học sinh, là những chủ nhân tương lai của đất nước sẽ ý thức được trách
nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước, biến khát vọng “rừng vàng,
biển bạc” của dân tộc ta thành hành động cụ thể.

- Đối tượng nghiên cứu:
+ Chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông đặc biệt là đối với hai quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa.
14


+ Học sinh trường THCS Vũ Di - Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc.
- Thời gian nghiên cứu:
+ Từ tháng 2/2015 – tháng 11/2015.
- Địa điểm nghiên cứu: Trường THCS Vũ Di.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thu thập thông tin qua mạng Internet, phỏng vấn, điều tra.
- Phương pháp phân tích

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÍ KHẲNG ĐỊNH HOÀNG SA, TRƯỜNG
SA LÀ CỦA VIỆT NAM
1.1. Biển Đông và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.
1.1.1. Vài nét khái quát chung về biển Đông
Biển Đông còn gọi là biển Giao chỉ Dương, biển Nam Hải, biển Nam
Trung Hoa theo tên tiếng Anh (The South China Sea), là một biển rìa Tây
Thái Bình Dương. Biển Đông được nhân dân Việt Nam gọi theo thói quen
như một danh từ riêng.
Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km 2, trải
rộng từ vĩ độ 3o lên đến vĩ độ 26o Bắc và từ kinh độ 100o đến 121o Đông.
Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc,
Philippin, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia.
Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống
của khoảng 300 triệu người dân của các nước này. Biển Đông không chỉ là

này.
Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền
Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á.
Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên
quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh
đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á
đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi
Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và
Đông Nam Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai
của thế giới. Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông,
trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có
trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536
cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng
Singapore và Hồng Công. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng
gia tăng ở khu vực. Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc
sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Singapore và cả Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và
các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới
Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của
thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển
Đông. Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng
45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển
Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng
17


hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển
bằng đường biển qua Biển Đông.
1.1.2. Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam
Đảo theo cách hiểu thông thường là một vùng đất có nước bao quanh.

quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, trên các bản đồ nước ngoài
thường gọi là quần đảo Paracels và quần đảo Sprataly.
Quần đảo Hoàng Sa nằm trong khoảng vĩ độ 15045’ đến 17015’ Bắc;
kinh độ 111000’ đến 113000’ Đông, án ngữ ngang cửa Vịnh Bắc Bộ, cách đảo
Lý Sơn (Cù Lao Ré) Quảng Ngãi hơn 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung
Quốc) khoảng 140 hải lý. Quần đảo gồm trên 30 hòn đảo, đá cồn, san hô, bãi
cát nằm rải trên một vùng biển rộng từ tây sang đông khoảng 100 hải lý, từ
bắc xuống nam khoảng 85 hải lý, chiếm một diện tích khoảng 15.000 km2.
Quần đảo Hoàng Sa chia thành hai nhóm:
Nhóm phía đông, gồm khoảng 8 hòn đảo nhỏ và một số mỏm đá san hô
mới nhô lên khỏi mặt nước. Lớn nhất là đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn rộng
trên dưới 1,5 km2, có nhiều cây cối, xung quanh, có những bãi san hô và bãi
cát ngầm. Một số đảo khác như đảo Cây, đảo Bắc, đảo Trung, đảo Nam… có
19


diện tích từ 0,4 km2 trở xuống, nhiều đảo có bờ cát trắng hoặc bãi san hô viền
quanh.
Nhóm Phía Tây, gồm khoảng 15 hòn đảo nhỏ. Các đảo Hoàng Sa, Hữu
Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, Duy Mộng, Chim Én, Tri Tôn… diện tích
khoảng từ 0,5 km2 trở xuống và cao hơn mặt nước từ 4 m đến 6 m.
Trong quần đảo Hoàng Sa, đảo Linh Côn nằm ở ngoài cùng về phía
đông và đảo Tri Tôn nằm ngoài cùng về phía nam. Tổng diện tích phần nổi
của tất cả các đảo thuộc quần đảo khoảng 10km 2. Ngoài các đảo, còn có
những cồn san hô, vành đai san hô bao bọc một vùng nước tạo thành một đầm
nước giữa biển khơi. Có cồn dài tới 30 km, rộng 10 km như cồn Cát Vàng.
Quần đảo Hoàng Sa không có mùa đông lạnh giá, mà mùa hè nóng nực,
nhiệt độ trung bình thấp nhất trong tháng 1 là 23 0C, Cao nhất trong tháng 7 là
280C. Thời tiết có thể chia làm hai mùa.Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6, mùa
mưa từ tháng 7 đến tháng 12. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1170

Thuyền Chài, Đá Tây, Đá Lớn. Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá,
cồn, bãi ở quần đảo Trường Sa khoảng 10 km 2 tương đương với quần đảo
Hoàng Sa, nhưng quần đảo Trường Sa trải ra trên một vùng biển rộng gấp hơn
10 lần quần đảo Hoàng Sa.
Chất đất trên các đảo của quần đảo Trưởng Sa là cát san hô, có lẫn
những lớp phân chim lẫn mùn cây có bề dày từ 5 đến 10 cm. Một số đảo trong
quần đảo có nước ngầm như đảo Song Tử Tây, đảo Trường Sa, đảo Song Tử
Đông. Trên các đảo có nhiều loại cây xanh như cây phong ba, phi lao và một
số loại dây leo cỏ dại.
Nguồn lợi hải sản ở quần đảo Trường Sa rất phong phú, có nhiều loại
cá tập trung với mật độ cao, đặc biệt có loại vích là động vật quý hiếm, cá ngừ
đại dương có giá trị kinh tế cao.
Khí hậu, thời tiết ở vùng biển quần đảo Trưởng Sa khác biệt lớn so với
các vùng ven bờ. Mùa hè mát hơn và mùa đông ấm hơn.Một số hiện tượng
thời tiết cũng diễn biến khác với trong đất liền.
Hàng năm ở quần đảo Trường Sa có tới 131 ngày có gió mạnh từ cấp 6
trở lên, phân phối không đồng đều trong các tháng. Có thể chia ra làm 2 mùa:
21


mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau, lượng mưa
trung bình hàng năm rất lớn, khoảng hơn 2500 mm. Hiện tượng dông trên
vùng biển quần đảo này rất phổ biển, có thể nói quanh năm, tháng nào cũng
có dông và là nơi thường có bão lớn đi qua, tập trung vào các tháng mùa mưa.
1.2. Phạm vi vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam
Theo tài liệu 100 câu hỏi về biển, đảo dành cho tuổi trẻ của Ban tuyên
giáo Trung ương, Nxb thông tin và truyền thông 2013 thì:Chủ quyền là quyền
làm chủ tuyệt đối của quốc gia độc lập đối với lãnh thổ của mình. Chủ quyền
của quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc gia được thực hiện trong
phạm vi nội thủy và lãnh hải của quốc gia đó.

lúc đầu là đánh bắt các hải sản ven bờ, sau tiến ra các đảo và vùng biển xa
hơn. Câu chuyện về chàng Mai An Tiêm bị vua cha hiểu lầm đuổi ra đảo
hoang đã cùng vợ bỏ sức khai phá và trồng dưa hấu trên hòn đảo gần bờ biển
vùng Nga Sơn (Thanh Hóa) đã phần nào phản ánh: Từ xa xưa, người Việt đã
tới sinh sống và sản xuất trên các hải đảo ven bờ. Từ thế kỉ XV đến đầu thế kỉ
XVIII, các triều dại phong kiến Việt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động khai
thác tài nguyên, thực thi chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
một cách hiệu quả, lâu dài. Chúng ta có đầy đủ bằng chứng pháp lí và các cứ
liệu lịch sử có giá trị để chứng minh rằng Việt Nam là nước đầu tiên trong
lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình tại hai quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này phù hợp với
nguyên tắc của luật pháp quốc tế.
Trước hết, thông qua các bản đồ cổ của Việt Nam, chúng ta hoàn toàn
có cơ sở để khẳng định hai quần đảo Hoàng sa, Trường sa là của Việt Nam.
Ngay từ thời vua Lê Thánh Tông đã cho lập bản đồ toàn quốc gọi chung là
“Hồng Đức bản đồ” vào năm Canh Tuất (1490), trong đó có cả Hoàng Sa và
Trường Sa, cho thấy trước đó hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền Đại Việt.

23


Bản đồ An Nam quốc đồ - Hồng Đức năm 1490

Hồng Đức Bản Đồ vẽ rõ địa thế xứ Đàng Trong cuối thế kỷ 18.
Bãi Cát Vàng được vẽ ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi

Đến năm 1834, trong Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ Việt Nam
vẽ năm 1834) cũng có Hoàng sa, Vạn lý trường sa thuộc lãnh thổ Việt Nam :

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status