Hướng dẫn học sinh lớp 11-Trung học phổ thông vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn bản - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC MAI THỊ THÙY

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 11- TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
VẬN DỤNG HIỂU BIẾT VỀ NGHĨA CỦA CÂU
VÀO VIỆC LĨNH HỘI VÀ TẠO LẬP VĂN BẢN Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ VIỆT HÙNG

Mai Thị Thùy
DANH TỪ VIẾT TẮT
PPDH Phương pháp dạy học
THPT Trung học phổ thông
HS Học sinh
SGK Sách giáo khoa
GV Giáo viên
NXB Nhà xuất bản
Vd Ví dụ

9
1.1.2. Nghĩa của câu
13
1.1.3. Ứng dụng lí thuyết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn
bản

20
1.2. Cơ sở tâm lí- giáo dục học
21
1.2.1. Quan điểm dạy học tích hợp trong dạy học Ngữ văn ở nhà trường
phổ thông

21
1.2.2. Vận dụng kiến thức về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập
văn bản là một biểu hiện tích cực của dạy học tích hợp trong môn Ngữ
văn

23
1.2.3. Đặc điểm tâm lí đối tượng học sinh lớp 11- THPT
25
Tiểu kết chương 1
27
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC VẬN DỤNG KIẾN THỨC
VỀ NGHĨA CỦA CÂU VÀO VIỆC LĨNH HỘI VÀ TẠO LẬP VĂN
BẢN TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11- THPT HIỆN
NAY

41
3.1. Trang bị kiến thức về nghĩa của câu cho HS lớp 11
41
3.1.1. Định hướng nhận thức
42
3.1.2. Định hướng tích hợp
43
3.2. Hình thành và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức về nghĩa của
câu trong đọc -hiểu văn bản

47
3.2.1. Thực hiện trong giờ luyện tập về nghĩa của câu
47
3.2.2. Thực hiện trong các giờ đọc- hiểu văn bản
52
3.3. Hình thành và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức về nghĩa của
câu trong việc tạo lập văn bản

64
3.3.1. Thực hiện trong giờ luyện tập về nghĩa của câu
64
3.3.2. Thực hiện trong giờ làm văn
66
Tiểu kết chương 3
68
Chƣơng 4: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
69
4.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm

truyền tải đầy đủ nội dung giao tiếp, người nhận phải lĩnh hội trọn vẹn nội
dung mà người phát đã phát.
Chúng tôi mô tả như sau:
Tạo lập Lĩnh hội
Người phát → Văn bản ← Người nhận

Hiểu đúng, hiểu đầy đủ nghĩa (nội dung giao tiếp) luôn là nhu cầu tất yếu
của con người trong đời sống. Trong xã hội bùng nổ thông tin như ngày nay,
giáo dục không chỉ còn là truyền tin- nhận tin. Quan niệm dạy học đang thay
đổi theo xu hướng phát huy tính tích cực chủ động của người học. Qúa trình
dạy học phải tác động đến các kĩ năng mềm cho người học, các kĩ năng góp
phần hình thành năng lực giải quyết các vấn đề ngoài cuộc sống, đặc biệt là kĩ
năng thu nhận và xử lí thông tin, bao gồm kĩ năng lĩnh hội và tạo lập văn bản.
Chương trình Ngữ văn bậc THPT ở Việt Nam hiện nay đang hướng tới
mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt,
năng lực ứng dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống. Trong đó, việc
trang bị những kiến thức về ngữ nghĩa và rèn luyện kĩ năng vận dụng những
kiến thức ấy vào việc tạo lập và lĩnh hội văn bản là một nội dung quan trọng
để đạt được mục tiêu trên. Kiến thức và kĩ năng này hỗ trợ trực tiếp quá trình
học tập môn Ngữ văn, các môn học khác trong nhà trường và quá trình giao
tiếp của HS.

2
Học sinh lớp 11- THPT là đối tượng HS đang được trang bị kiến thức và
hoàn thiện các kĩ năng sống. Đây là thời gian lí tưởng để các em luyện tập các
thao tác tư duy để từ đó hình thành các năng lực sống. Một phần không nhỏ
trong số các em sau khi tốt nghiệp THPT tham gia trực tiếp vào đời sống lao
động xã hội. Các em rất cần được trang bị kiến thức về ngữ nghĩa và được rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đó để lĩnh hội và tạo lập các loại văn bản.
Từ đó có thể thích ứng với xã hội thông tin như hiện nay. Đây là một nhiệm

Giáo dục và Đào tạo, 2006 với 4 chủ đề thì cũng có 4 mức độ cần đạt về vận
dụng kiến thức, kĩ năng [4; tr. 114]:
+ Tác giả văn học: biết vận dụng những hiểu biết …để đọc- hiểu tác
phẩm và làm bài nghị luận về tác giả văn học
+ Văn bản văn học: biết vận dụng kiến thức… vào việc đọc hiểu và tạo
lập văn bản
+ Thể loại: biết vận dụng kiến thức thể loại vào việc đọc hiểu và tạo
lập văn bản
+ Một số khái niệm lí luận văn học khác: biết vận dụng kiến thức… vào
đọc hiểu văn bản và viết bài nghị luận văn học.
Yêu cầu này làm cho giáo viên phải lựa chọn và xây dựng một tư duy sư
phạm đa chiều. Vừa tư duy phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cho học
sinh, vừa tư duy hệ thống kĩ năng cần vận dụng hợp lí nhất, hiệu quả nhất để
rèn luyện cho học sinh.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đã gợi cho chúng tôi ý tưởng chọn
lựa một cách tổ chức dạy học tích hợp trên cơ sở giúp cho học sinh có khả
năng tích hợp kiến thức và kĩ năng đã học để tiếp nhận các kiến thức và kĩ
năng khác. Chúng tôi lựa chọn đề tài “Hướng dẫn học sinh lớp 11- trung học
phổ thông vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập
văn bản” để nghiên cứu với mong muốn sẽ góp phần lí giải nhiều vấn đề đặt

4
ra trong việc vận dụng dạy học tích hợp trong dạy học Ngữ văn ở nhà trường
phổ thông hiện nay.
2. Ý nghĩa của luận văn
2.1. Ý nghĩa lí luận
Đề tài được nghiên cứu sẽ góp phần sáng ỏ khái niệm tích hợp dạy học, vận
dụng thành tựu nghiên cứu của tiếng Việt vào dạy học Ngữ văn nói chung và
vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào lĩnh hội và tạo lập văn bản nói riêng.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn

việc vận dụng lí thuyết về câu như một công cụ tư duy hỗ trợ việc lĩnh hội và
tạo lập văn bản cho học sinh trong nhà trường phổ thông.
Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học, mối quan hệ giữa ngôn ngữ với
văn học nói chung và việc dạy học văn trong nhà trường phổ thông nói riêng
ngày càng chặt chẽ. Đó là mối quan hệ có tính tất yếu. Vận dụng kiến thức
của ngôn ngữ học vào nghiên cứu giảng dạy văn học không chỉ là cơ sở giúp
văn học giải thích các hiện tượng văn học, giúp văn học hiểu được chính văn
học mà còn góp phần rèn luyện tư duy khoa học cho học sinh.
Việc ứng dụng thành tựu của ngôn ngữ học vào giảng dạy văn học trong
nhà trường phổ thông ở Việt Nam hiện nay đã được ghi nhận. Qua khảo sát
các tài liệu dạy học Ngữ văn hiện hành trong nhà trường Việt Nam( tài liệu
tiếng Việt), người viết nhận thấy có các công trình nghiên cứu việc ứng dụng
ngôn ngữ học trong dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông như sau:
Cuốn “ Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường từ góc độ ngôn
ngữ” của Nguyễn Trọng Khánh; “ Ngôn ngữ học một số phương diện nghiên
cứu liên ngành’’ Nguyễn Huy Cẩn chủ biên, “ Tín hiệu thẩm mỹ trong tác
phẩm văn học” của Mai Thị Bích Phượng…
Nhìn chung, các tác giả đều đề cập đến việc ứng dụng ngôn ngữ học
trong tiếp nhận văn học. Nhưng vấn đề dạy học tiếng Việt, đặc biệt là dạy học
nghĩa của câu để giúp học sinh hình thành một vốn kiến thức để từ đó có thể

6
lĩnh hội và tạo lập văn bản từ góc độ khoa học giáo dục thì chưa có tài liệu
nào chuyên sâu.
Trong luận văn này, chúng tôi kế thừa những kết quả nghiên cứu nói
trên và đưa ra một giải pháp cho việc tích hợp dạy học trong môn Ngữ văn và
trường hợp cụ thể là tổ chức hướng dẫn học sinh lớp 11 vận dụng hiểu biết về
nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn bản
4. Mục tiêu nghiên cứu
4.1. Mục tiêu chung:

Để giải quyết những vấn đề đã đặt ra, người viết sơ bộ đưa ra một số giả
thuyết sau:
- Kiến thức về nghĩa của câu mà học sinh được trang bị không chỉ là
kiến thức ngữ pháp về câu mà còn là lí luận, là phương pháp tư duy
giúp học sinh có thể vận dụng để lĩnh hội và tạo lập văn bản.
- Giáo viên cần tổ chức hướng dẫn học sinh hình thành và rèn luyện kĩ
năng vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập
văn bản thường xuyên, liên tục trong các giờ dạy và theo một quy
trình khoa học như sau:
+/ Tổ chức các hoạt động dạy học nhằm trang bị kiến thức về nghĩa của
câu cho học sinh theo hướng tích hợp dạy học giữa tiếng Việt với Văn học
và Làm văn.
+/ Tổ chức các hoạt động dạy học thực hành, luyện tập cho học sinh nhằm
giúp học sinh hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức về nghĩa của câu.
+/ Tổ chức các hoạt động dạy học văn học và làm văn theo hướng tích hợp,
tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phân tích các tài liệu về phương pháp dạy học, các thiết kế bài học Ngữ văn
bậc THPT, các tài liệu nghiên cứu ứng dụng của ngôn ngữ học và văn học…
- Phương pháp quan sát, tổng kết thực tiễn

8
- Phương pháp thực nghiệm: tiến hành dạy học tại trường THPT Ngọc Hồi,
Hà Nội và trường THPT B Hải Hậu, Nam Định .
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của luận văn được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng dạy học nghĩa của câu và ứng dụng của nó trong
việc lĩnh hội và tạo lập văn bản trong chương trình lớp 11 hiện nay

trong một hoàn cảnh phát ngôn nhất định. Đặc biệt nó gắn với một
chủ thể nhất định đã sáng tạo ra nó…”[30; tr. 69]
Cách định nghĩa thứ hai gắn văn bản với hoạt động giao tiếp, môi trường
sản sinh và tồn tại của văn bản.
Ở đây, chúng tôi nhận diện văn bản, phân loại văn bản sao cho phù hợp
với việc truyền thụ kiến thức cho học sinh phổ thông, đặc biệt đảm bảo tính
hệ thống của chương trình Ngữ văn bậc phổ thông. Vì vậy chúng tôi xin
không bàn đến tính đúng sai của các định nghĩa, mà từ các định nghĩa này,
chúng tôi nhận ra những kiến thức quan trọng về văn bản phục vụ cho việc
vận dụng dạy học được đặt ra ở đề tài nghiên cứu này. 10
1.1.1.2. Đặc điểm của văn bản
Dù định nghĩa theo cách nào, chúng ta cũng cần thừa nhận một số các đặc
điểm cơ bản của văn bản sau đây:
- Văn bản là một chỉnh thể ngôn ngữ về mặt cấu trúc nghĩa( nội dung) và
cấu trúc hình thức.
+/Về mặt nội dung: văn bản có một chủ đề nhất định, toàn bộ văn bản gắn
kết với nhau về mặt ý nghiã, tập trung thể hiện một chủ đề. Điều này giúp ta
phân biệt với các tổ hợp ngôn ngữ không là văn bản- có nhiều câu, nhiều đoạn
được ghép với nhau nhưng không có quan hệ gì về ý nghĩa. Văn bản bao giờ
cũng phải thể hiện được chủ đích của người tạo lập nó.
+/ Về mặt hình thức: các câu trong văn bản có những mối liên hệ, quan
hệ nhất định. Toàn bộ những mối liên hệ ấy tạo nên cấu trúc của văn bản. Như
vậy văn bản không đơn thuần chỉ là chuỗi câu ghép lại. Mặt khác, tùy vào chủ
đích mà người tạo lập văn bản phải chon lựa các phương tiện ngôn ngữ phù
hợp, điều này tạo nên những cấu trúc khác nhau của các loại văn bản.
- Văn bản tồn tại cả ở dạng nói và dạng viết
- Văn bản có thể dài và có thể ngắn

- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt( thư, nhật kí…)
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật( thơ, truyện, tiểu thuyết…)
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học( sách giáo khoa, luận văn, luận án…)
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính(đơn, biên bản, nghị quyết…)
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận( hịch, tuyên ngôn, lời kêu gọi…)
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí( bản tin, phóng sự, bài phỏng vấn…)
1.1.1.4. Lĩnh hội văn bản(đọc -hiểu văn bản) ở nhà trường THPT
Chương trình cải cách giáo dục hiện nay đã đưa vào 2 nhóm văn bản là
văn bản nhật dụng và văn bản văn học ( văn bản nghệ thuật) vào giờ đọc hiểu

12
văn bản của môn Ngữ văn. Phần lớn văn bản đưa vào chương trình môn Ngữ
văn cho học sinh lĩnh hội là các văn bản văn học.
Văn bản văn học trước hết là một loại văn bản nên nó có đầy đủ những
đặc điểm của một loại văn bản thông thường, nhưng nó cũng có đặc trưng
riêng biệt về mặt ngôn ngữ như tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và dấu ấn riêng
của tác giả.
Vì vậy, hiển nhiên là sự lĩnh hội các văn bản đó không bao giờ đơn nghĩa.
Điều này đòi hỏi HS phải thay đổi quan niệm học, GV phải thay đổi quan
niệm dạy. Lĩnh hội văn bản không còn là sự áp đặt từ phía GV( giảng văn).
GV định hướng, tổ chức các hoạt động nhằm hỗ trợ quá trình lĩnh hội văn bản
của HS, HS nâng cao năng lực tự học.
Người đọc ( HS và GV) tiếp xúc với văn bản ngôn từ, giải mã ngôn từ để
tìm ra những lớp ý nghĩa của văn bản thậm chí là đồng sáng tạo, tạo ra lớp ý
nghĩa mới. Lĩnh hội văn bản trong nhà trường đòi hỏi không chỉ lĩnh hội riêng
giá trị của một văn bản, mà còn phải trang bị cho các em những công cụ để
các em có thể tự lĩnh hội các văn bản khác ở những thời điểm khác. Trong đó
cần thiết phải trang bị các kĩ năng ngôn ngữ cho các em.
Như vậy, lĩnh hội văn bản trong nhà trường không đơn thuần chỉ là một
quá trình giải mã các kí hiệu ngôn ngữ để nắm bắt được nội dung văn bản,

phân tích các thành phần nghĩa của câu là không đồng nhất giữa các nhà
nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay.
Cao Xuân Hạo trong “ Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1” đã phân
tích cấu trúc nghĩa của câu như sau:

14
Bảng 1.1 Phân tích cấu trúc nghĩa của câu theo Cao Xuân Hạo

Câu ví dụ: Bài thi toán cháu được những nửa điểm cơ à ? NGHĨA CỦA
CÂU
nói ra.
Vd: Cháu kém quá đấy!
( Nguồn: [14; tr. 103-137])

15
Cấu trúc này có nhiều điểm không đồng nhất với cấu trúc mà 2 nhà nghiên
cứu Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Lương đưa ra trong những công trình
nghiên cưú gần đây nhất.
Nguyễn Thị Lương xếp tiền giả định và hàm ngôn cùng nằm trong một
phạm trù lớn hơn: nghĩa hàm ẩn. Chúng tôi tóm tắt sự phân chia nghĩa của
câu trong cuốn sách này để có thể dễ dàng đối sánh hơn:
Bảng 1.2 Sự phân chia nghĩa của câu theo Nguyễn Thị Lương
NGHĨA CỦA
ngôn)

Tiền giả định : là những hiểu biết mà các nhân
vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, không phải bàn
cãi, vì nó đã có từ trước và nếu không có thì không
thể nói câu đó được (câu sẽ trở thành phi lí hoặc
không thể hiểu được)

Hàm ngôn : là phần nghĩa không được nhận
diện trực tiếp từ câu chữ mà phải suy ra từ nghĩa
tường minh, tiền giả đinh và ngữ cảnh
( Nguồn: [25; tr. 149-190]

16
Nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban thì tiếp cận nghĩa trong câu theo hướng ngữ
pháp chức năng- hệ thống (của A.K. Halliday). Theo hướng nghiên cứu này, nghĩa
trong câu được nhận diện theo chức năng sử dụng câu bao gồm [3; tr. 84-163]:
- Nghĩa biểu hiện
- Nghĩa tình thái
- Nghĩa văn bản
Tác giả cũng đã phân tích nghĩa không được diễn đạt bằng từ ngữ trong
câu nhằm phân biệt với nghĩa tường minh (nghĩa hiển ngôn). Chúng tôi hoàn
toàn nhất trí với tác giả về luận điểm “ Ngôn ngữ hình tượng sử dụng các từ
ngữ (kể cả câu) có hình ảnh, có âm hưởng để thay thế cho những từ ngữ với
nghĩa thực vốn có của chúng, chứ không phải là sử dụng những những ý
nghĩa không được diễn đạt bằng từ ngữ” [3; tr. 182]. Đây là luận điểm quan
trọng được chúng tôi kế thừa và vận dụng trong quá trình dạy đọc hiểu văn
bản văn học. Luận điểm của ông giúp cho người giáo viên có cơ sở để tiếp
cận tác phẩm văn chương một cách khoa học.
Từ trước đến nay, nhiều GV vẫn mơ hồ khi đồng nhất nghĩa nằm ngoài

là sự kiện, sự tình, sự thể) trong hiện thực. Sự việc xảy ra trong hiện thực,
được con người nhận thức và biểu hiện trong câu, trở thành nghĩa sự việc của
câu. Mỗi câu biểu hiện một hoặc một số sự việc. Nghĩa sự việc của câu
thường được biểu hiện nhờ những thành phần ngữ pháp như: chủ ngữ, vị ngữ,
trạng ngữ, khởi ngữ và một số thành phần phụ khác.
Có thể phân biệt một số nghiã sự việc và phân biệt câu biểu hiện nghĩa sự
việc như sau:
- Câu biểu hiện hành động:
VD : “ Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét
chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván.”
( Nguyễn Tuân, Chữ người tử tù)

18
- Câu biểu hiện trạng thái, tính chất, đặc điểm
VD: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”
( Nguyễn Khuyến, Thu điếu)
- Câu biểu hiện quá trình
VD: “ Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”
( Nguyễn Khuyến, Thu điếu)
- Câu biểu hiện tư thế:
VD: “ Tựa gối buông cần lâu chẳng được”
( Nguyễn Khuyến, Thu điếu)
- Câu biểu hiện sự tồn tại:
VD: “ Nhà em có một giàn giầu”
( Nguyễn Bính, Tương tư)
- Câu biểu hiện quan hệ
VD: “ Hồn tôi là một vườn hoa lá”
( Tố Hữu, Từ ấy )
* Thành phần nghĩa thứ hai là nghĩa tình thái. Nghĩa tình thái có thể được
bộc lộ tường minh qua các từ ngữ tình thái trong câu, có thể hàm ẩn, nhưng câu

+ Đã biết sống thì phải bênh vực nhau, ông cha mình ngày xưa cũng đã
hiểu đến.
( Dẫn theo “ Về luân lí xã hội ở nước ta”, SGK Ngữ văn 11, tập 2, tr 86)
+ Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
( Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến )
+ Tao không thể là người lương thiện nữa.
( Nam Cao, Chí Phèo)
Hai là: Tình cảm của người phát đối với người nhận
( thông qua các từ ngữ cảm thán, từ ngữ xưng hô, từ tình thái…
- Tình cảm thân mật, gần gũi:
+ Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui.

Trích đoạn Vận dụng kiến thức về nghĩa củacõu vào việc lĩnh hội và tạo lập Đặc điểm tõm lớ đối tượng học sinh lớp 11-THPT Thực hiện trong giờ làm văn Cỏch thức tiến hành Kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status