Phát triển năng lực trí tuệ của học sinh trong dạy học phương trình lượng giác (đại số và giải tích lớp 11 nâng cao - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN MẠNH THẮNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC PHƢƠNG TRÌNH LƢỢNG GIÁC
(ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH LỚP 11 NÂNG CAO) LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM TOÁN HỌC Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Toán học)
Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Lê Minh
3
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Viết tắt
Viết đầy đủ
BĐT
: Bất đẳng thức
?
: Câu hỏi
ĐC
: Đối chứng
GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
NL
: Năng lực
NLTT
: Năng lực trí tuệ
NC
: Nâng cao
VD
: Ví dụ

2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
4. Phương pháp nghiên cứu
2
5. Giả thuyết khoa học
3
6. Cấu trúc luận văn
3
Chƣơng 1 : CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
4
1.1. Một số vấn đề về phát triển năng lực trí tuệ của học sinh
4
1.1.1. Khái niệm năng lực trí tuệ
4
1.1.2. Mối quan hệ giữa dạy học và phát triển trí tuệ
6
1.1.3. Tầm quan trọng của việc phát triển năng lực trí tuệ của học sinh
7
1.1.4. Các biện pháp phát triển trí tuệ của học sinh thông qua dạy học toán
8
1.2. Dạy học giải bài tập Toán học với việc phát triển trí tuệ của học sinh
14
1.2.1. Vai trò của bài tập toán trong quá trình dạy học
14
1.2.2. Phương pháp chung để giải bài tập toán học
15
1.2.3. Vai trò của bài tập toán học với việc phát triển trí tuệ của học sinh
17
1.3. Những tiềm năng để bồi dưỡng năng lực trí tuệ của học sinh trong

22
2.1.1. Giải PT lượng giác bằng các phép biến đổi tương đương
23
2.1.2. Giải PT lượng giác bằng cách đặt ẩn phụ
26
2.1.3. Giải PT lượng giác bằng phương pháp đánh giá
30
2.2. Một số biện pháp phát triển năng lực trí tuệ của học sinh trong dạy
học PT lượng giác (Đại số và giải tích lớp 11 nâng cao)

33
2.2.1. Rèn luyện tư duy logic và ngôn ngữ chính xác
33
2.2.2. Rèn luyện khả năng suy đoán và tưởng tượng
46
2.2.3. Rèn luyện các hoạt động trí tụê cơ bản
58
2.2.4. Hình thành các phẩm chất trí tuệ
76
Tiểu kết chương 2
89
Chƣơng 3 : THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
90
3.1. Mục đích, nội dung, kế hoạch thực nghiệm sư phạm
90
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
90
3.1.2. Nội dung thực nghiệm
90
3.1.3. Kế hoạch thực nghiệm

quan trọng trong việc góp phần nâng cao NLTT cho HS. Tuy nhiên dạy toán
thế nào để đạt được mục đích trên thì không phải là điều đơn giản. Hiện nay
phần lớn HS rất thụ động trong học tập, làm bài máy móc, thiếu tính linh hoạt,
sáng tạo trong suy nghĩ.Vì vậy nếu người GV không đổi mới phương pháp
dạy theo hướng phát huy tính tích cực của người học thì sẽ không thể phát
triển được NLTT của các em.
Vấn đề phát triển trí tuệ của HS thông qua dạy học môn Toán đã được
nhiều tác giả trong nước quan tâm. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như:
- “Rèn luyện khả năng khái quát hoá, đặc biệt hoá, tương tự cho học
sinh phổ thông”- Luận văn thạc sĩ khoa học sư phạm- Tâm lý của Lê Tuấn
Anh (1998).
- “ Khai thác các bài toán trong SGK đại số 10 thí điểm ban khoa học
tự nhiên nhằm phát triển khả năng khái quát hoá, đặc biệt hoá của học sinh
khá giỏi”- Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của Lê Anh Tuấn (2005).

2
- " Phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh trong dạy học chương vectơ"
- Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của Nguyễn Ngọc Hiếu (2010).
- “Khuyến khích một số hoạt động trí tuệ của học sinh qua dạy học môn
Toán ở trường THCS”, của các tác giả Nguyễn Bá Kim, Vương Dương Minh,
Tần Thâu (1998).
- “Rèn luyện tư duy trong dạy học Toán” của tác giả Trần Thúc Trình (2003).
- “Rèn luyện tư duy qua việc giải bài tập Toán” của tác giả Nguyễn
Thái Hoè (1997).
Tuy nhiên chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu việc phát triển
NLTT của HS thông qua việc dạy học PTLG mặc dù PTLG là mảng kiến thức
hay và khó trong trường phổ thông. Các bài tập về giải PTLG rất đa dạng và
thường xuyên có trong các kì thi tuyển sinh đại học, thi học sinh giỏi các cấp.
Đây là mảng kiến thức có nhiều tiềm năng để người GV có thể phát triển
được NLTT của HS. Do đó tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực trí tuệ của

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Phát triển năng lực trí tuệ của học sinh trong dạy học
PTLG lớp 11 nâng cao.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
4
CHƢƠNG 1
CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề về phát triển năng lực trí tuệ của học sinh
1.1.1. Khái niệm năng lực trí tuệ
1.1.1.1. Khái niệm năng lực
Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả các hoạt động, giải quyết
các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân
trong những tình huống khác nhau trên cơ sở sự hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và
kinh nghiệm của mỗi người. [36; tr. 303]
Khi nói đến năng lực phải nói đến năng lực trong một loại hoạt động
nhất định. Một người được coi là có năng lực nếu trong một hoàn cảnh nhất
định người đó nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của một loại hoạt động nào
đó và đạt kết quả cao hơn so với kết quả của những người khác. Năng lực
được nảy sinh và quan sát được trong hoạt động giải quyết những yêu cầu đặt

động một cách có suy nghĩ, tư duy hợp lý, chế ngự được môi trường xung
quanh. Trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết vấn đề và nhanh
chóng thích nghi với tình huống mới ( F.Raynal và A.Rieunier- 1997). Trí tuệ
là khả năng hiểu các mối quan hệ sẵn có giữa các yếu tố của tình huống và
thích nghi để thực hiện cho lợi ích bản thân ( N.Sillamy-1997). [37; tr.47]
Các quan niệm về trí tuệ không loại trừ nhau. Không có quan niệm nào
chỉ chú ý đến duy nhất một khía cạnh năng lực tư duy hay khả năng thích
ứng, mà thường đề cập đến hầu hết các nội dung đã nêu. Sự khác biệt về các
quan niệm chỉ là ở chỗ khía cạnh nào được nhấn mạnh và nghiên cứu sâu hơn.
Tuy nhiên để có cách hiểu bao quát về vấn đề khái niệm trí tuệ, cần lưu ý đến
4 đặc trưng của trí tuệ là:
- Trí tuệ là yếu tố tâm lý có tính độc lập tương đối với các yếu tố tâm lý
khác của cá nhân.

6
- Trí tuệ có chức năng đáp ứng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ
thể với môi trường sống, tạo ra sự thích ứng tích cực của cá nhân.
- Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của chủ thể.
- Sự phát triển của trí tuệ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh học của cơ thể
và chịu sự chế ước của các yếu tố văn hoá xã hội.
1.1.1.3. Khái niệm năng lực trí tuệ
Từ các khái niệm về năng lực và trí tuệ đã nêu ở trên ta có thể định
nghĩa về NLTT như sau: NLTT là khả năng thực hiện có hiệu quả các hoạt
động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc về lĩnh vực trí tuệ.
1.1.2. Mối quan hệ giữa dạy học và phát triển trí tuệ
Dạy học và sự phát triển trí tuệ có mối quan hệ thống nhất biện chứng.
Dạy học phải dẫn đến sự phát triển trí tuệ cho người học. Sự phát triển trí tuệ
vừa là kết quả, vừa là tiền đề cho việc dạy học có hiệu quả.
Tuy nhiên nói dạy học thống nhất với sự phát triển trí tuệ không có
nghĩa là trình độ dạy học tương đồng hoặc ngang bằng với trình độ phát triển

suốt đời và bắt kịp nhịp sống của xã hội hiện đại. Hay nói cách khác dạy học
không chỉ hướng vào việc cung cấp kiến thức lý thuyết mà quan trọng hơn,
phải hình thành năng lực hoạt động trí tuệ, hình thành phẩm chất tư duy và
phương pháp hoạt động cho người học.
Để giải quyết được bài toán trên, việc phát triển NLTT cho người học
trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong dạy học. Người GV cần chú trọng hình
thành, rèn luyện phương pháp tư duy sáng tạo, bồi dưỡng các phẩm chất trí
tuệ, rèn luyện khả năng suy nghĩ và giải quyết các tình huống đặt ra trong
cuộc sống một cách nhạy bén cho HS. Trong dạy học cần chú trọng hình
thành phương pháp học, phương pháp làm việc, rèn luyện các thuộc tính độc
lập, sáng tạo, mềm dẻo của trí tuệ. Cần rèn luyện tính đa dạng, chiều rộng,
chiều sâu của tư duy. Có như vậy nhiệm vụ phát triển NLTT của người học
mới đạt hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ mới.

8
1.1.4. Các biện pháp phát triển trí tuệ của học sinh thông qua dạy học toán
Môn toán có khả năng to lớn góp phần phát triển NLTT của HS. Mục
tiêu này cần được thực hiện một cách có ý thức, có hệ thống, có kế hoạch chứ
không phải tự phát. Các biện pháp phát triển trí tuệ của HS thông qua dạy học
Toán bao gồm:
1.1.4.1. Rèn luyện tư duy logic và ngôn ngữ
Do đặc điểm của khoa học toán học, môn toán có tiềm năng quan trọng
có thể khai thác để rèn luyện cho HS tư duy logic. Nhưng tư duy không thể
tách rời ngôn ngữ, nó phải diễn ra với hình thức ngôn ngữ, được hoàn thiện
trong sự trao đổi bằng ngôn ngữ của con người và ngược lại, ngôn ngữ được
hình thành nhờ có tư duy. Vì vậy việc phát triển tư duy logic gắn liền với việc
rèn luyện ngôn ngữ chính xác.
Việc phát triển tư duy logic và ngôn ngữ chính xác ở HS qua môn Toán
có thể thực hiện theo 3 hướng liên quan chặt chẽ với nhau:
- Thứ nhất: Làm cho HS nắm vững, hiểu đúng và sử dụng đúng những

G.S Nguyễn Cảnh Toàn định nghĩa một cách tường minh hơn: phân
tích là đi sâu tìm hiểu các chi tiết, bộ phận của một tổng thể, tìm ra những đặc
điểm của các chi tiết, bộ phận đó.
Tổng hợp là liên kết (trong tư tưởng) những bộ phận cấu thành một vật,
liên kết nhiều vật thành một hệ thống. Phân tích và tổng hợp là hai hoạt động
trí tuệ trái ngược nhau nhưng lại là hai mặt của một quá trình thống nhất.
Chúng là hai hoạt động trí tuệ cơ bản của quá trình tư duy. Những hoạt động
trí tuệ khác đều diễn ra trên nền tảng phân tích và tổng hợp.
- Trừu tượng hoá và khái quát hoá:
Trừu tượng hoá là tách những đặc điểm bản chất khỏi những đặc điểm
không bản chất. Đương nhiên sự phân biệt bản chất với không bản chất ở đây
mang ý nghĩa tương đối, nó phụ thuộc vào mục đích hành động.

10
Theo G.Pôlya: “Khái quát hoá là chuyển từ việc nghiên cứu một tập
hợp đối tượng đã cho đến việc nghiên cứu một tập lớn hơn, bao gồm cả tập
hợp ban đầu”.
G.S Nguyễn Bá Kim định nghĩa khái quát hoá một cách tường minh
hơn như sau: “Khái quát hoá là chuyển từ một tập hợp đối tượng sang một tập
hợp lớn hơn chứa tập hợp ban đầu bằng cách nêu bật một số đặc điểm chung
của các phần tử trong tập hợp xuất phát". Như vậy ta thấy trừu tượng hoá là
điều kiện cần của khái quát hoá.
Có hai dạng khái quát hoá thường gặp trong môn Toán là: Khái quát
hoá từ cái riêng lẻ đến cái tổng quát và khái quát hoá từ cái tổng quát đến cái
tổng quát hơn. Trong Toán học, người ta thường khái quát một yếu tố hoặc
nhiều yếu tố của khái niệm, định lý, bài toán thành những kết quả tổng quát.
VD: Chúng ta khái quát hoá khi mở rộng công thức
)0
2
;0


.
Hay chúng ta khái quát hoá từ việc nghiên cứu hệ thức lượng trong tam giác
vuông sang nghiên cứu hệ thức lượng trong tam giác thường.
Trong hai VD trên khái quát hoá được thực hiện theo hai hướng có tính
chất khác nhau. Ở VD thứ nhất khái quát hoá được thực hiện bằng cách thay
hằng số 2 bởi biến số n (n
)N
. Ở VD thứ hai khái quát hoá được thực hiện
bằng cách loại bỏ điều kiện góc của tam giác bằng
0
90
để nghiên cứu những
tam giác với góc bất kỳ.
- Đặc biệt hoá
Theo G. Pôlya: “Đặc biệt hóa là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp
đối tượng đã cho sang việc nghiên cứu một tập hợp nhỏ hơn chứa trong tập
hợp đã cho”. Hay nói cách khác đặc biệt hóa chính là quá trình đi từ cái chung

11
đến cái riêng, là quá trình minh họa hoặc giải thích những khái niệm, định lí
bằng những trường hợp riêng lẻ, cụ thể.
Có hai dạng đặc biệt hoá thường gặp là: Đặc biệt hoá từ cái tổng quát
đến cái riêng lẻ và đặc biệt hoá từ cái riêng đến cái riêng hơn.
Như vậy chúng ta thấy đặc biệt hoá là thao tác tư duy ngược lại với
khái quát hoá. Đặc biệt hóa thường được sử dụng trong việc trình bày các
khái niệm, chứng minh các định lí, bài toán…Trong bài toán quỹ tích hoặc
tìm điểm cố định đặc biệt hóa thường được sử dụng để mò mẫm, dự đoán quỹ
tích, dự đoán điểm cố định trên cơ sở đó để tìm lời giải của bài toán.
VD: Chúng ta đặc biệt hóa khi chuyển từ việc nghiên cứu đa giác sang

+) Hai hình là tương tự nếu chúng có nhiều tính chất giống nhau hoặc
vai trò của chúng giống nhau trong vấn đề nào đó, hoặc giữa các phần tử
tương ứng của chúng có quan hệ giống nhau.
+) Hai tính chất là tương tự nếu chúng biểu diễn các yếu tố hoặc các
thuộc tính của hai hình tương tự.
VD: Tam giác trong hình học phẳng được xem là tương tự với tứ diện
trong hình học không gian vì tam giác là hình có diện tích hữu hạn được giới
hạn bởi một số tối thiểu nhất những yếu tố cơ bản của mặt phẳng, còn tứ diện
là hình có thể tích hữu hạn được giới hạn bởi một số tối thiểu nhất những yếu
tố cơ bản của không gian.
Việc thực hiện một số hoạt động trí tuệ trên có thể được minh hoạ
thông qua VD tìm giá trị của
12
11
cos

.
Để giải bài toán này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ sau:
Hoạt động phân tích biến đổi
12
11
cos

thành
)
12
cos(





12

b
để tới công thức
12
cos
12
sinsin
12
coscos)
12
cos(







.

13
Tiếp tục phân tích
12
cos


thành
)

là một sự
tổng hợp để đi đến kết quả cuối cùng là:
12
11
cos

=
)62(
4
1

.
1.1.4.4. Hình thành các phẩm chất trí tuệ cho người học
Việc rèn luyện cho HS các phẩm chất trí tuệ có ý nghĩa to lớn đối với
việc học tập, công tác và trong cuộc sống. Các phẩm chất trí tuệ quan trọng là:
- Tính linh hoạt: Tính linh hoạt của tư duy thể hiện ở khả năng chuyển
hướng quá trình tư duy. Trước hết cần rèn luyện cho HS khả năng đảo ngược
quá trình tư duy, lấy đích của một quá trình đã biết làm điểm xuất phát cho
một quá trình mới, còn điểm xuất phát của quá trình đã biết lại trở thành đích
của quá trình mới. Việc chuyển hướng quá trình tư duy không chỉ có nghĩa là
đảo ngược quá trình này mà còn có thể là chuyển từ hướng này sang một
hướng khác không nhất thiết phải ngược với hướng ban đầu. [9; tr.49]
Tính linh hoạt của tư duy có những đặc trưng sau:
+) Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác,
giải pháp này sang giải pháp khác, điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ khi gặp
trở ngại.
+) Suy nghĩ không dập khuôn máy móc những kinh nghiệm, kiến thức
đã có vào hoàn cảnh mới, có khả năng thoát khỏi ảnh hưởng kìm hãm của
những kinh nghiệm, phương pháp, cách nghĩ đã có từ trước.
+) Nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, nhìn thấy chức năng

- Về mặt mục đích dạy học: Bài tập toán ở trường phổ thông là giá
mang những hoạt động mà việc thực hiện những hoạt động đó thể hiện mức

15
độ đạt mục tiêu. Ngoài ra bài tập cũng thể hiện những chức năng khác nhau
hướng đến việc thực hiện mục đích dạy học môn toán như:
+) Hình thành, củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kỹ năng ứng dụng
toán học ở những giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học.
+) Phát triển NLTT chung: Rèn luyện các thao tác tư duy, hình thành
các phẩm chất trí tuệ.
+) Hình thành, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cũng như
những phẩm chất đạo đức của người lao động mới.
- Về mặt nội dung dạy học: Bài tập toán học là giá mang hoạt động liên
hệ với những nội dung cụ thể. Nó là một phương tiện để cài đặt nội dung dưới
dạng tri thức hoàn chỉnh hay những yếu tố bổ sung cho tri thức đã học ở phần
lý thuyết.
- Về mặt phương pháp dạy học: Bài tập toán là giá mang những hoạt
động để HS kiến tạo những nội dung nhất định và trên cơ sở đó thực hiện các
mục đích dạy học khác. Khai thác tốt bài toán như vậy sẽ góp phần tổ chức tốt
cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động
sáng tạo được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu.
Trong thực tiễn dạy học, bài tập toán được sử dụng với những dụng ý
khác nhau. Về phương pháp dạy học: Đảm bảo trình độ xuất phát, gợi động
cơ, làm việc với nội dung mới, củng cố hoặc kiểm tra Đặc biệt về mặt kiểm
tra, bài tập toán là phương tiện không thể thay thế để đánh giá mức độ tiếp thu
kiến thức, khả năng làm việc độc lập và trình độ phát triển tư duy của HS,
cũng như hiệu quả giảng dạy của GV.
1.2.2. Phương pháp chung để giải bài tập toán học
Không có một thuật toán tổng quát nào để giải mọi bài toán. Chúng ta
chỉ có thể thông qua dạy học giải một bài toán cụ thể mà dần dần truyền thụ

quan…
- Tìm thêm các cách giải khác, so sánh và chọn ra cách giải hợp lý nhất.

17
Bước 3. Trình bày lời giải:
Từ cách giải đã được phát hiện, sắp xếp các việc phải làm thành một chương
trình gồm các bước theo một trình tự thích hợp và thực hiện các bước đó.
Bước 4. Nghiên cứu sâu lời giải:
- Kiểm tra lại kết quả và toàn bộ quá trình giải bài toán.
- Thử tìm cách làm mới hay hơn, sáng tạo hơn.
- Nghiên cứu khả năng ứng dụng kết quả của lời giải.
- Nghiên cứu giải những bài toán tương tự, mở rộng hay lật ngược vấn đề.
1.2.3. Vai trò của bài tập toán học với việc phát triển trí tuệ của học sinh
Quá trình giải bài tập Toán học đòi hỏi người học thường xuyên tiến
hành những hoạt động sau:
- Những hoạt động trí tuệ phổ biến trong Toán học như: Lật ngược vấn
đề, xét tính giải được (có nghiệm, nghiệm duy nhất, vô số nghiệm), phân chia
trường hợp…
- Những hoạt động trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, so sánh, xét
tương tự, trừu tượng hoá, khái quát hoá, đặc biệt hoá.
- Những hoạt động ngôn ngữ khi HS phát biểu bài toán bằng lời lẽ của
mình hoặc biến đổi chúng từ dạng này sang dạng khác như từ dạng ký hiệu
Toán học sang dạng ngôn ngữ tự nhiên hoặc ngược lại.
Tất cả các hoạt động trên đều góp phần hình thành và phát triển trí tuệ
cho người học. Do đó có thể khẳng định bài tập toán học có vai trò số một
trong việc phát triển trí tuệ cho HS.
1.3. Những tiềm năng để bồi dƣỡng năng lực trí tuệ của học sinh trong
dạy học phƣơng trình lƣợng giác
1.3.1. Mục tiêu dạy học phương trình lượng giác ở lớp 11 nâng cao
Dạy học PTLG trong chương trình lớp 11 nâng cao có những mục tiêu

THPT hiện nay được trình bày trong 2 chương: Chương góc lượng giác, công

19
thức lượng giác ở lớp 10 và chương hàm số lượng giác, PTLG ở lớp 11. Nội
dung cụ thể và thời lượng từng chương như sau:
- Chương góc lượng giác và công thức lượng giác: 14 tiết
§1. Góc và cung lượng giác 2 tiết
Luyện tập 1 tiết
§2. Giá trị lượng giác của góc (cung) lượng giác 2 tiết
Luyện tập 1 tiết
§3. Giá trị lượng giác của các góc (cung) có liên quan đặc biệt 1 tiết
Luyện tập 1 tiết
§4. Một số công thức lượng giác 2 tiết
Luyện tập 2 tiết
Ôn tập và kiểm tra chương VI 2 tiết.

- Chương Hàm số lượng giác và PT lượng giác 17 tiết
§1. Các hàm số lượng giác 3 tiết
Luyện tập 1 tiết
§2. PT lượng giác cơ bản 3 tiết
Luyện tập 2 tiết
§3. Một số dạng PT lượng giác đơn giản 4 tiết
Luyện tập 2 tiết
Ôn tập và kiểm tra chương 2 tiết.
Nhìn vào phân bố chương trình ta thấy nội dung của PTLG chiếm một
tỷ trọng lớn trong khối kiến thức về lượng giác được giảng dạy trong chương
trình lớp 11 (13/17 tiết). Trong các kỳ thi học sinh giỏi các cấp và đặc biệt
là các kỳ thi tuyển sinh vào đại học thường xuyên có các bài toán về giải
PTLG. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của lớp bài toán PTLG với việc
thực hiện các nhiệm vụ dạy học môn Toán trong đó có nhiệm vụ phát triển

chương trình lớp 10 vì thế đã góp phần giảm tải cho HS nhưng vẫn đảm bảo
sự liên tục về mặt kiến thức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status