Tích hợp giáo dục giới tính trong dạy học nội dung sinh học cơ thể động vật - Sinh học 11 - trung học phổ thông - Pdf 25

DANH MỤC KÍ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐC
GV
HS
NXB
SGK
THPT
TN
Đối chứng
Giáo viên
Học sinh
Nhà xuấ bản
Sách giáo khoa
Trung học phổ thông
Thực nghiệm

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT
TÊN BẢNG
TRANG

Bảng 3.7. Tần suất (f
i
%) số học sinh đạt điểm x
i

68
9
Bảng 3.8. Tần suất hội tụ tiến (Số học sinh đạt điểm x
i
trở lên)
68
10
Bảng 3.9. So sánh các tham số đặc trƣng giữa lớp đối chứng
và lớp thực nghiệm
69
11
Bảng 3.10. Kiểm định giả thuyết thống kê số trung bình giả
thuyết H
0
các bài kiểm tra thực nghiệm sƣ phạm
71
12
Bảng 3.11. Thống kê điểm kiểm tra độ bền kiến thức
72
13
Bảng 3.12. Tần suất (f
i
%) số % học sinh đạt điểm x
i
trong hai

kiểm tra số 2
73 MỤC LỤC

Lời cảm ơn
Danh mục kí hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY
HỌC SINH HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số vấn đề về sƣ phạm tích hợp
1.1.2. Tích hợp giáo dục giới tính trong dạy học Sinh học
1.2. Cơ sở thực tiến
1.2.1. Tổng quan về tình hình giáo dục giới tính
1.2.2. Tình hình giáo dục giới tính thông qua dạy học Sinh học ở
trƣờng phổ thông
1.2.3. Thực trạng về giáo dục giới tính trong nhà trƣờng phổ thông


33 33
34
2.2.3. Phƣơng pháp tích hợp kiến thức giáo dục giới tính trong dạy
nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11
2.2.4. Hình thức tích hợp các kiến thức giáo dục giới tính qua dạy
học nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11
2.3. Tích hợp các nội dung giáo dục giới tính vào một số bài cụ thể
của chƣơng trình Sinh học phổ thông
2.3.1. Tích hợp các nội dung giáo dục giới tính vào một số bài cụ
thể của nội dung Sinh học cơ thể Động vật – sinh học 11
2.3.2. Một số ví dụ bài soạn có nội dung tích hợp giáo dục giới tính
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Mục đích, nội dung và phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
3.1.2. Nội dung thực nghiệm
3.1.3. Phƣơng pháp thực nghiệm
3.2 Xử lý số liệu
3.2.1. Phƣơng tiện đánh giá
3.2.2. Phân tích kết quả định tính
3.2.2. Phân tích kết quả định lƣợng
3.3. Kết quả thực nghiệm
3.3.1. Phân tích kết quả định tính
3.3.2. Phân tích kết quả định lƣợng
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Khuyến nghị

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo giáo sƣ I. X. Kon: “Chuẩn bị cho nam nữ thanh niên bước vào
cuộc sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống giáo dục đạo đức và giáo
dục giới tính” [17]. Tuy nhiên, giáo dục giới tính không có nghĩa là cấm đoán
thanh niên bƣớc vào chuyện yêu đƣơng, chuyện tình dục mà là làm thế nào để
dạy cho các em biết đƣợc một cách đúng đắn nhất về vấn đề quan trọng ấy.
Năm 2008, tổ chức Kimberly Việt Nam đã công bố: Tại Việt Nam, với
10 câu hỏi đơn giản về cơ thể phụ nữ nhƣ chu kỳ kinh nguyệt, vùng kín, sức
khoẻ sinh sản thì chỉ có 3% số ngƣời tham gia trả lời đúng, 85% phụ nữ tham
gia khảo sát thừa nhận họ thiếu hiểu biết về chính cơ thể mình. Và có tới 62%
không biết màng trinh là gì, 77% trong số họ không thể trả những câu hỏi về
thai nghén, sức khoẻ sinh sản, giới tính.
Chính vì sự thiếu hiểu biết mà tại Việt Nam mỗi năm ƣớc tính có
khoảng 300.000 ca nạo phá thai, trong đó 30% là những phụ nữ chƣa lập gia
đình và cứ năm ca nạo phá thai thì có một ca là em gái vị thành niên. Việt
Nam là một trong ba quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới.
Những vấn đề nêu trên đã trở thành hồi chuông báo động để chúng ta
nhìn nhận lại việc giáo dục giới tính trong nhà trƣờng phổ thông thời gian
qua. Mặc dù, việc đƣa giáo dục giới tính vào trƣờng học là điều đã đƣợc thừa
nhận, song hầu hết các trƣờng trung học phổ thông đều lúng túng khi giảng
dạy vấn đề này. Các trƣờng đều chọn giải pháp là lồng ghép hoặc ngoại khoá.
Các giáo viên thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu kỹ năng giảng dạy. Nếu có
dạy thì cũng chỉ thiên về lý thuyết, không có giáo cụ trực quan. Đồng thời,
các nhà trƣờng cũng chƣa xây dựng đƣợc chuẩn kiến thức chung về giáo dục
giới tính. Vì vậy, học sinh nhận đƣợc lƣợng kiến thức không hệ thống, nặng
về lý thuyết.
Xuất phát từ những lý do trên và căn cứ vào đặc điểm ƣu thế của bộ
môn Sinh học. Chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục giới tính trong
dạy học nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11 – Trung học phổ

nƣớc thực hiện chƣơng trình giáo dục vệ sinh, giáo dục giới tính cho học sinh.
Một chƣơng trình giáo dục giới tính đƣợc biên soạn rất tỉ mỉ và cụ thể cho học
sinh từ cấp 1 đến cấp 3.
Ở Đức hiện nay, có rất nhiều các nhà khoa học nổi tiếng với những công
trình nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính nhƣ: Aresin, Smolka,
Hopman và Klemm v.v… Một cuốn bách khoa toàn thƣ về giới tính đƣợc
biên soạn để giảng dạy và giáo dục gới tính cho học sinh.
Nhiều nƣớc nhƣ: Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan v.v… đều đã tiến hành giáo
dục giới tính cho học sinh phổ thông bằng những chƣơng trình bắt buộc. Các
nƣớc phƣơng Tây nhƣ: Anh, Đan Mạch, Thụy Điển, Mĩ v.v… đã tiến hành
giáo dục cho học sinh khá sớm (1966). Đặc biệt là một số nƣớc châu Á, châu
Phi, Mĩ Latin cũng đƣa giáo dục giới tính vào trƣờng phổ thông và đã đạt kết
quả tốt. Trung Quốc đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh từ những
năm 1974 và hiện nay là một trong những nƣớc có nhiều công trình nghiên
cứu, có sự phát triển cao trong nghiên cứu khoa học về giới tính.
Ngay các nƣớc Đông Nam Á nhƣ: Thái Lan, Malaysia, Indonesia,
Singapore, Philippines v.v… cũng đã thực hiện nội dung giáo dục này. Ở
Philippines, giáo dục giới tính đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình nội khoá của
trƣờng phổ thông cơ sở và trƣờng trung học phổ thông. Nội dung giáo dục
giới tính đã đƣợc lồng ghép một cách hợp lí vào nhiều bộ môn văn hoá khác.
Ở nƣớc này, việc nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học, những phƣơng
pháp và những phƣơng tiện dạy học về giới tính rất đƣợc quan tâm và cuốn
hút học sinh, làm cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả.

2.2. Giáo dục giới tính ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số, giáo dục
giới tính đã đƣợc quan tâm rộng rãi.
Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng
Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng

vẫn còn hạn chế, chủ yếu dừng lại nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận và xây
dựng các mẫu thiết kế hoạt động mang tính định hƣớng, thiếu những gợi ý cụ
thể cho giáo viên. Vì vậy, khi tiến hành các hoạt động giáo dục giới tính cho
học sinh giáo viên gặp không ít khó khăn.
3. Mục đích nghiên cứu
Xác định nội dung, lƣợng kiến thức, phƣơng pháp và hình thức tích hợp
các nội dung giáo dục giới tính trong dạy học nội dung Sinh học cơ thể động
vật – Sinh học 11 – Trung học phổ thông với mục đích:
Giúp trang bị cho học sinh hệ thống các kiến thức về giới tính một cách
đầy đủ, chính xác.
Hình thành thái độ, cách hành xử đúng đắn trƣớc các vấn đề về giới
tính, quan hệ giới tính, có nếp sống văn hoá giới tính.
4. Đối tƣợng và khách thể
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng phƣơng pháp tích hợp giáo dục giới tính
trong dạy học nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11 – Trung học
phổ thông.
4.2. Khách thể nghiên cứu: Giáo viên dạy Sinh học và học sinh hai lớp
11D1, 11D2 trƣờng THPT Thăng Long – Hà Nội.
5. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của phƣơng pháp dạy học tích hợp.
Điều tra thực trạng của việc giáo dục giới tính thông qua dạy học Sinh
học ở một số trƣờng trung học phổ thông.
Nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu về giới tính, sinh sản, sức khoẻ sinh
sản, làm cơ sở để xây dựng bảng trọng số về các nội dung cần tích hợp.
Tìm hiểu các nội dung kiến thức về giáo dục giới tính, lựa chọn nội dung
cần thiết, phù hợp để tích hợp.
Đề xuất phƣơng án tích hợp các nội dung đã lựa chọn vào một số bài cụ
thể nội dung Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11 – Trung học phổ thông.
Thực nghiệm sƣ phạm để kiểm định tính khả thi cũng nhƣ hiệu quả của
việc giáo dục giới tính bằng tích hợp trong dạy học nội dung Sinh học cơ thể

hành giảng dạy tích hợp vấn đề này.
* Phương pháp thực nghiệm
Đƣợc tiến hành dƣới các dạng: Trắc nghiệm khách quan bằng hệ thống
câu hỏi test trƣớc, trong và sau khi thực nghiệm. Trắc nghiệm chủ quan bằng
hệ thống câu hỏi kiểm tra truyền thống. Đây là phƣơng pháp sử dụng để kiểm
tra tính đúng đắn của mục đích đã đề ra, kiểm định tính khả thi và hiệu quả
của các hình thức giáo dục giới tính.
* Phương pháp thống kê toán học
Đƣợc sử dụng để phân tích và xử lý các kết quả thu đƣợc qua điều tra và
thực nghiệm sƣ phạm.
9. Những đóng góp của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của việc tích hợp giáo dục
giới tính trong dạy học Sinh học ở trƣờng phổ thông.
Khái quát đƣợc những đặc điểm chung về thực trạng giáo dục giới tính
tại một vài trƣờng phổ thông trên địa bàn Hà Nội. Từ đó, chọn ra những vấn
đề cấp thiết đƣa vào tích hợp trong dạy học Sinh học lớp 11 trung học phổ
thông.
Tích hợp, cụ thể hóa nội dung giáo dục giới tính vào từng bài dạy môn
Sinh học lớp 11 trung học phổ thông.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Tích hợp nội dung giáo dục giới tính trong dạy học nội dung
Sinh học cơ thể động vật – Sinh học 11
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
CHƢƠNG 1

cùng một môn học".
1.1.1.2. Mục đích của sư phạm tích hợp
Tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với
cuộc sống hàng ngày.
Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn. Cái cốt yếu là những
năng lực cơ bản cần thiết giúp học sinh vận dụng để xử lý những tình huống
có ý nghĩa trong cuộc sống hoặc đặt cơ sở không thể thiếu trong quá trình học
tập tiếp theo.
Dạy học theo quan điểm tích hợp giúp học sinh vận dụng kiến thức trong
những tình huống cụ thể. Thay vì chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức
thuần túy thì việc tập dƣợt cho học sinh nhiều kiến thức, kĩ năng vào các tình
huống thực tế, có ích cho cuộc sống lại đƣợc chú trọng hơn.
Ngoài ra, tích hợp trong dạy học là giúp ngƣời học xác lập mối quan hệ
giữa các khái niệm đã học.
1.1.1.3. Các phương thức tích hợp trong dạy học
Theo Xanvier Roegiers có 4 phƣơng thức tích hợp. Thứ nhất, những ứng
dụng chung cho nhiều môn học đƣợc thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp
học. Ví dụ: Các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học vẫn đƣợc dạy riêng rẽ nhƣng
đến cuối năm hoặc cuối cấp có một phần, một chƣơng về những vấn đề chung
của khoa học tự nhiên và thành tựu ứng dụng thực tiễn, học sinh đƣợc đánh
giá bằng bài thi tổng hợp kiến thức.
Thứ hai, những ứng dụng chung cho nhiều môn học đƣợc thực hiện ở
những thời điểm cụ thể đều đặn trong năm học. Ví dụ: Các môn Vật lý, Hóa
học, Sinh học vẫn đƣợc dạy riêng rẽ, hoặc vì bản chất và logic phát triển nội
dung từng môn học, hoặc vì các môn này do các giáo viên khác nhau đảm
nhiệm. Tuy nhiên, chƣơng trình có bố trí xen một số chƣơng trình tích hợp
liên môn nhằm làm cho học sinh quen dần với việc sử dụng kiến thức những
môn học gần gũi nhau.
Thứ ba, phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề
tài tích hợp. Cách này đƣợc áp dụng cho những môn học gần nhau về bản

tình huống tích hợp.
Dạy học tích hợp giúp học sinh sử dụng một cách tối đa các kiến thức đã
học ở tất cả các môn vào gải quyết một vấn đề, đồng thời kéo kiến thức trong
nhà trƣờng gần lại với kiến thức xã hội.
Dạy học tích hợp giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạo
kiến thức, kỹ năng và phƣơng pháp của khối tri thức toàn diện, hài hòa và hợp
lí trong giải quyết những tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống
hiện đại.
Ngoài ra, dạy học tích hợp còn đảm bảo cho học sinh khả năng huy động
có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu
ích một tình huống xuất hiện,và nếu có, để đối mặt với một khó khăn bất ngờ,
một tình huống chƣa gặp.
Học sinh có thể học tập nhiều hơn nếu đƣợc cung cấp đầy đủ tƣ liệu học
tập đƣợc biên soạn trong khuôn khổ một chƣơng trình tích hợp các khoa học
một cách hợp lý.
1.1.2. Tích hợp giáo dục giới tính trong dạy học Sinh học
1.1.2.1. Khái niệm về giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính là một lĩnh vực phức tạp. Có nhiều quan niệm, nhiều ý
kiến khác nhau về vấn đề này.
Có những ý kiến cho rằng chỉ nên tiến hành giáo dục giới tính khi các
em vào thời kì chín muồi giới tính. Nhƣng A. V. Petrovxki đã khẳng định:
"Quan niệm đó không đúng bởi vì một loạt vấn đề liên quan đến giáo dục giới
tính phải được giải quyết ngay từ thời kì thơ ấu".
Một số ý kiến nhầm lẫn giáo dục giới tính với giáo dục tính dục hoặc
giáo dục tình dục, giáo dục tình yêu. Thực ra tính dục chỉ là một bộ phận của
giới tính. Sự thu hẹp phạm vi của giáo dục giới tính nhƣ vậy có thể sẽ đƣa đến
tác dụng phản diện hoặc hạn chế hiệu quả của giáo dục giới tính.
Có một số ngƣời cho rằng, không nên giáo dục giới tính, vì nhƣ thế làm
hoen ố tâm hồn trong sáng, non nớt của các em, là thiếu tế nhị, không phù hợp
với môi trƣờng sƣ phạm là "vẽ đường cho hươu chạy".

em mình. “Không thể hi vọng vào chỗ gia đình đảm nhiệm tốt chức năng giáo
dục giới tính… Nhiều bậc cha mẹ than phiền không biết kể cho con nghe
chuyện bí mật của giới tính như thế nào. Và thường người lớn không biết kể
cái gì và khi nào. Kinh nghiệm bản thân không đủ, sách vở khoa học vấn đề
này thì ít, thậm chí dù có đủ tài liệu, các bậc cha mẹ cũng phải khước từ đàm
đạo về chuyện này”. Phải có ngƣời đƣợc đào tạo chuyên biệt, thầy cô giáo
hay bác sĩ làm việc giáo dục giới tính này mới có hiệu quả. Hoạt động giáo
dục này phải đƣợc tiến hành bởi những ngƣời có chuyên môn, trình độ, đƣợc
đào tạo một cách chu đáo và hệ thống giống nhƣ việc giáo dục, giảng dạy
những bộ môn khoa học khác nhau trong nhà trƣờng.
1.1.2.3. Mục tiêu của giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính là vấn đề cấp thiết nhằm đảm bảo mộ số mục tiêu sau:
Hình thành và trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học, thái độ và
quan niệm đúng đắn về những hiện tƣợng của đời sống giới tính, sinh lí tính
dục, về cấu trúc và chức năng của các hệ cơ quan của cơ thể, nhất là hệ cơ
quan sinh dục, về sự cƣ xử đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ với mọi
ngƣời, với ngƣời khác giới, về những vấn đề đạo đức giới tính, thẩm mĩ giới
tính, tình yêu, hôn nhân và đời sống gia đình, v.v…
Giúp cho các em có bản lĩnh vững vàng bƣớc vào đời sống xã hội, biết
bảo vệ, giữ gìn sức khỏe cho ngƣời bạn và cho chính mình, có khả năng
chống chọi lại những cạm bẫy, quyến rũ của lối sống ăn chơi đồi trụy, biết
phê phán, bác bỏ những quan niệm không đúng về tình yêu, tình dục, quan hệ
tình dục quá sớm hoặc buông xuôi, cả nể, dẫn tới quan hệ tình dục bừa bãi,
yêu nhau, bỏ nhau quá dễ dàng.
Giúp cho các em biết trân trọng và bảo vệ những giá trị cao cả và thiêng
liêng của tình bạn thân thiết và gắn bó, của tình yêu sâu nặng và chung thủy,
biết đƣợc cái hay cái đẹp của nếp sống văn hóa văn minh.
Chuẩn bị về tinh thần và khả năng thực tiễn cho thế hệ trẻ, giúp cho họ
phát triển nhân cách toàn diện, biết cách tổ chức và xây dựng cuộc sống gia
đình hạnh phúc, nâng cao chất lƣợng cuộc sống, góp phần xây dựng và thúc

hành vi của các em.
Để đạt đƣợc những mục tiêu trên, một yêu cầu lớn đặt ra là phải đổi mới
phƣơng pháp dạy học theo tinh thần nâng cao vai trò chủ động và tích cực của
ngƣời học. Dƣới đây là những phƣơng pháp dạy học mới có thể sử dụng trong
quá trình giáo dục giới tính. Những phƣơng pháp này cũng có thể rất hữu ích
và phù hợp với việc giảng dạy các môn học hoặc cho giáo dục cộng đồng.
* Phƣơng pháp thuyết trình với sự tham gia tích cực của học sinh
Phƣơng pháp thuyết trình là 1 phƣơng pháp dạy học phổ biến nhất
thƣờng đƣợc giáo viên vận dụng trong quá trình dạy học. Dạy học theo
phƣơng pháp thuyết trình thƣờng đƣợc hiểu là: Gáo viên trình bày bài giảng
trên lớp, bằng cách:
Giới thiệu khái quát chủ đề.
Giải thích các điểm chính của bài.
Giao bài tập cho học sinh.
Phƣơng pháp thuyết trình là phƣơng pháp dạy học “một chiều”. Tuy
nhiên, giáo viên không nên sử dụng quá thƣờng xuyên phƣơng pháp này mà
phải kết hợp với các phƣơng pháp khác để học sinh tham gia tích cực hơn vào
quá trình dạy – học.
Về cách tiến hành, trƣớc tiên, giáo viên thu hút sự chú ý của học sinh,
giới thiệu chủ đề mục đích để học sinh biết đƣợc ý nghĩa và nội dung của bài.
Trình bày chủ đề một cách rõ rành và súc tích. Sử dụng ngôn ngữ đơn giản và
dễ hiểu đối với học sinh. Đồng thời, chia nội dung bài học và công việc phải
làm theo từng giai đoạn. Nêu rõ việc nào phải làm trƣớc và việc nào làm tiếp
theo (có thể dùng bảng hoặc phiếu học tập và để giúp học sinh nhớ thứ tự
công việc phải làm). Soạn ra nhƣng câu hỏi gợi ý nhằm chỉ dẫn học sinh cách
tiếp thu kiến thức mới trong quá trình học. Kiểm tra xem các em có thực sự
hiểu bài bằng cách đƣa ra những câu hỏi phù hợp với bài học ngay sau khi
trình bày. Khuyến khích học sinh đƣa ra câu hỏi. Chuẩn bị và sử dụng các đồ
dùng dạy học để hỗ trợ cho việc trình bày bài giảng đƣợc rõ ràng và sinh
động.

* Phƣơng pháp điểu tra - phát hiện
Phƣơng pháp điều tra - phát hiện là phƣơng pháp nhằm giúp học sinh tự
mình tìm ra giải pháp trƣớc một vấn đề mà lời giải của nó chƣa có sẵn trong
sách.
Bắt đầu bằng việc xác định vấn đề, giáo viên gợi ý để học sinh tự đƣa ra
một giải pháp - giả thuyết có liên quan tới vẫn đề. Sau đó, hƣớng dẫn học sinh
thu thập thông tin, thử nghiệm giả thuyết và rút ra kết luận.
Lƣu ý: Chỉ nên dung phƣơng pháp này nếu các vấn đề không quá phức
tạp. Hƣớng dẫn học sinh tự vận dụng phƣơng pháp này theo các bƣớc đơn
giản bằng cách tự đặt ra và trả lời nhƣng câu hỏi thích hợp: Cần phải tìm cái
gì? Hỏi cái gì? Tìm thông tin ở đâu? Hỏi ai? Khi nào? Ghi chép ra sao? Có
thể rút ra những kết luận gì từ thông tin thu thập đƣợc?
Gợi ý: Có thể áp dụng phƣơng pháp này cho các chủ đề nhƣ: Tác động
của sự gia tăng dân số đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng, tình
hình phân biệt đối xử với phụ nữ trong cộng đồng, mối quan hệ giữa cha mẹ
và vị thành niên.
* Phƣơng pháp giải quyết vấn đề
Giải quyết vấn đề là kỹ năng cơ bản cần phát triển ở học sinh. Đó là
những khả năng xem xét, phân tích điều đang xảy ra, và xác định các bƣớc
nhằm cải thiện tình hình. Khi biết cách sử dụng phƣơng pháp giải quyết vấn
đề, chúng ta có thể tìm ra cách giải quyết cho từng vấn đề cụ thể gặp phải
trong cuộc sống hàng ngày.
Giáo viên có thể hƣớng dẫn học sinh thực hiện giải quyết vấn đề theo
quy trình sau: Xác định vấn đề: suy nghĩ xem vấn đề gì phải giải quyết? Thu
thập thông tin có liên quan tới vấn đề và nêu các câu hỏi giúp giải quyết vấn
đề: Vấn đề này xảy ra trong điều kiện nào? Xảy ra khi nào? Xảy ra ở đâu?
Vấn đề có liên quan đến ai?
Lƣu ý: Vấn đề đƣợc lựa chọn phải phù hợp với mục đính học tập và gắn
với thực tế. Kích thích sự sáng tạo của học sinh. Cách giải quyết vấn đề phải
là giải pháp tốt nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status