1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG THỊ THU
SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM HÓA HỮU CƠ
NHẰM NÂNG CAO KĨ NĂNG GIẢI TOÁN HÓA
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HÓA HỌC)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Kim Long
HÀ NỘI - 2012
1.1.5. Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
16
1.2. Cơ sở lí luận về kỹ năng giải toán hóa học trung học phổ thông
18
1.2.1. Khái niệm kỹ năng
18
1.2.2. Bài tập hóa học
19
1.2.3. Tác dụng của bài tập hóa học
19
1.2.4. Kĩ năng giải toán hóa học
20
1.3. Điều tra việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy và
học hóa học ở trung học phổ thông
21
1.3.1. Nhiệm vụ điều tra
21
1.3.2. Nội dung điều tra
21
1.3.3. Đối tượng điều tra
21
1.3.4. Phương pháp điều tra
22
1.3.5. Kết quả điều tra
22
1.3.6. Đánh giá kết quả điều tra
23
Chƣơng 2: LỰA CHỌN, SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN NHẰM RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN HÓA
41
42
46
54
2.4. Hướng dẫn sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học
Hóa học ở trường THPT
71
2.4.1. Sử dụng câu hỏi khi học kiến thức mới
71
2.4.2. Sử dụng câu hỏi trong giờ luyện tập, ôn tập
73
2.4.3. Sử dụng câu hỏi trong giờ kiểm tra
75
2.4.4. Thiết kế giáo án bài dạy có sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách
quan nhiều lựa chọn
75
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
89
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm
89
3.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
89
3.3. Nội dung thực nghiệm sư phạm
89
105 ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
iii
DANH MỤ C BẢNG
Bng
Nộ i dung
Trang
1.1
Tần suất sử dụng câu hỏi trắc nghiệm có nội dung nhằm rèn
luyện kĩ năng gii toán hóa học đối với giáo viên trong dạy học
hóa học ở trường THPT 22
1.2
Kết qu điều tra sử dụng câu hỏi trắc nghiệm có nội dung nhằm
rèn luyện kĩ năng gii toán cho học sinh trong các tiết học
22
1.3
Ý kiến của giáo viên về sự cần thiết sử dụng câu hỏi trắc
nghiệm có nội dung nhằm rèn luyện kĩ năng gii toán
22
1.4
Kết qu tìm hiểu nguyên nhân của việc ít hoặc không đưa câu
hỏi trắc nghiệm có nội dung nhằm rèn luyện kĩ năng gii toán
97
3.6
Bng tổng hợp các tham số đặc trưng qua các bài kiểm tra
98 iv
DANH MỤ C HÌ NH
Hình
Nộ i dung
Trang
3.1
Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra 45 phút số 1
95
3.2
Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra 45 phút số 2
96
3.3
Đồ thị phân loại kết qu học tập của HS ( bài số 1)
97
3.4
Đồ thị phân loại kết qu học tập của HS ( bài số 2)
98
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Những năm gần đây nền giáo dục nước ta đã có những thay đổi về cả mục
đích, nội dung và phương pháp dạy học nhằm đáp ứng được nhu cầu của xã
hội và bắt kịp với sự bùng nổ tri thức của nhân loại
Trong điều 24.2 của Luật giáo dục có ghi: “phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh,
phù hợp với đặc điểm tứng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
[ ]
. Để đạt các mục tiêu đó thì
khâu đột phá là đổi mới phương pháp giáo dục từ lối dạy học truyền thụ một
chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực”. Làm cho “học” là
quá trình kiến tạo: tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và xử lí thông tin,
Học sinh tự mình hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. “Dạy” là quá
trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh: cách tự học, sáng tạo, hợp
tác, dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học.
Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm và cũng là môn học gắn bó với
các hiện tượng trong đời sống. Thực tiễn dạy học hóa học ở trường phổ thông,
bài tập hóa học giữ vai trò rất quan trọng vừa là nội dung vừa là phương pháp
dạy học hiệu quả, nó không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường
giành lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui trong quá trình giải các bài tập
hóa. Để giải bài toán hóa học bằng nhiều phương pháp khác nhau là một trong
những nội dung quan trọng trong giảng dạy hóa học ở trường trung học phổ
thông. Phương pháp giáo dục ở ta hiện nay còn nhiều gò bó và hạn chế tầm
suy nghĩ, sáng tạo của học sinh. Bản thân các em học sinh khi đối mặt với một
bài toán cũng thường có tâm lí tự hài lòng sau khi đã giải quyết nó bằng một
- Đề ra các biện pháp lựa chọn các câu trắc nghiệm khách quan.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần hóa học hữu cơ chương trình trung
học phổ thông rèn kĩ năng giải toán hóa học.
4.2. Khách thể nghiên cứu 3
Quá trình dạy học Hóa học
5. Mẫu khảo sát
Học sinh lớp 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ và trường THPT Dương
Xá.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để rèn kĩ năng giải toán hóa học cho học sinh trung học phổ thông?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Nếu xây dựng được hệ thống bài tập trắc nghiệm rèn kĩ năng giải toán hóa
học tốt và sử dụng tích cực, có hiệu quả trong các giờ dạy và học hóa học
thì dạy hóa học sẽ đạt kết quả cao hơn.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu liên quan về lí luận dạy học, tâm lí học, giáo dục học
và các tài liệu khoa học cơ bản liên quan đến đề tài. Đặc biệt nghiên cứu kĩ về
những cơ sơ lí luận của TNKQ và các phương pháp giải nhanh một số bài
toán hóa học hữu cơ trong chương trình THPT.
8.2. Điều tra cơ bản và trao đổi kinh nghiệm
+ Điều tra tổng hợp ý kiến các nhà nghiên cứu giáo dục, các giáo viên dạy
hóa ở trường THPT về nội dung, kiến thức và kĩ năng sử dụng các bài tóan
hóa học hứu cơ ở dạng câu TNKQ nhiều lựa chọn.
TNKQ đã có lịch sử phát triển gần một thế kỉ ở các nước phát triển trên
thế giới. Hiện nay TNKQ đã được đưa vào sử dụng trong kì thi tuyển sinh đại
học ở nước ta ở một số bộ môn : Vật lý; Hóa học; Sinh học và Ngoại ngữ.
Vậy TN là gì ? Theo nghĩa chữ Hán “trắc” là đo, “nghiệm” là suy xét,
xác nhận.
Theo GS. Dương Thiệu Tống : "Một dụng cụ hay phương thức hệ
thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi : thành tích của
các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với
một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến".
Theo GS. Trần Bá Hoành: "Test có thể tạm dịch là phương pháp TN, là
hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của HS
(thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý) hoặc để kiểm tra một số kiến thức,
kĩ năng, kĩ xảo của HS thuộc một chương trình nhất định.
Tới nay, người ta hiểu TN là một bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có kèm theo
câu trả lời sẵn yêu cầu HS suy nghĩ rồi dùng một kí hiệu đơn giản đã qui ước
để trả lời. TNKQ là phương pháp KT - ĐG kết quả học tập của HS bằng hệ
thống câu TNKQ. TN được gọi là khách quan vì cách cho điểm là khách quan
chứ không chủ quan như bài TNTL. Có thể coi kết quả chấm điểm là như
nhau không phụ thuộc vào người chấm bài trắc nghiệm đó.
1.1.2. Chức năng của trắc nghiệm
Nhiều tác giả đề cập tới chức năng của TNKQ, chúng tôi chỉ tập trung
tới chức năng của TNKQ đối với dạy học.
Với người dạy, sử dụng TNKQ nhằm cung cấp thông tin ngược chiều
để điều chỉnh phương pháp nội dung cho phù hợp, nắm bắt được trình độ
người học và quyết định nên bắt đầu từ đâu, tìm ra khó khăn để giúp đỡ người 6
học, tổng kết để thấy đạt mục tiêu chưa, có nên cải tiến phương pháp hay
không và cải tiến theo hướng nào, TNKQ nâng cao được hiệu quả giảng dạy.
Câu
điền
khuyết
Câu
đúng
sai
Câu
ghép
đôi
Câu
nhiều
lựa
chọn
Trả
lời
một
câu
Tự
trả
lời
Bài
toán 7
TNTL là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công
cụ đo lường là câu hỏi, học sinh trả lời dưới dạng bài viết bằng ngôn ngữ
chuyên môn của chính mình trong một khoảng thời gian đã định trước.
TNTL cho phép học sinh sự tự do tương đối nào đó để viết ra câu trả lời
tương ứng với mỗi câu hỏi hay một phần của câu hỏi trong bài kiểm tra nhưng
chương trình học, các mục tiêu làm cho học sinh có chiều hướng học lệch,
học tủ và có tư tưởng quay cóp trong lúc kiểm tra < 7 >, < 10 >, < 13 >.
1.1.3.2. Trắc nghiệm khách quan.
* Khái niệm :
TNKQ là phương pháp KT-ĐG kết quả học tập của học sinh bằng hệ
thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Trắc nghiệm được gọi là khách quan
vì cách cho điểm là khách quan chứ không chủ quan như TNTL. Có thể coi
kết quả chấm điểm là như nhau không phụ thuộc vào người chấm bài trắc
nghiệm đó < 19 >.
* Ưu, nhược điểm của TNKQ.
- Ưu điểm:
+ Trong một thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến thức cụ thể, đi vào
những khía cạnh khác nhau của kiến thức.
+ Nội dung kiến thức kiểm tra rộng có tác dụng chống lại khuynh hướng học
tủ, học lệch.
+ Số lượng câu hỏi nhiều, đủ cơ sở tin cậy, đủ cơ sở đánh giá chính xác trình
độ học của học sinh thông qua kiểm tra.
+ Tuy việc biên soạn câu hỏi tốn thời gian, song việc chấm bài nhanh chóng,
chính xác. Ngoài ra có thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật để chấm bài một
cách rất nhanh chóng và chính xác.
+ Gây hứng thú và tích cực học tập cho học sinh.
+ Giúp học sinh phát triển kĩ năng nhận biệt, hiểu, ứng dụng và phân tích.
+ Với phạm vi bao quát rộng của bài kiểm tra, học sinh không thể chuẩn bị
tài liệu để quay cóp. Việc áp dụng công nghệ mới vào việc ssoạn thảo các đề
thi cũng hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng nhìn bài hay trao đổi bài.
-Nhược điểm: 9
+ Phương pháp TNKQ hạn chế việc đánh giá năng lực diễn đạt viết hoặc nói,
Có hai dạng. Chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn hay là những
câu phát biểu với một hay nhiều chỗ để trống thí sinh phải điền vào một từ
hay một nhóm từ cần thiết. Lợi thế của nó là làm mất khả năng đoán mò của
học sinh. Họ có cơ hội trình bình những câu trả lời khác thường phát huy óc
sáng tạo, giáo viên dễ soạn câu hỏi thích hợp với các môn tự nhiên, có thể
đánh giá mức hiểu biết về nguyên lý, giải thích các sự kiện, diễn đạt ý kiến và
thái độ của mình đối với vấn đề đặt ra. Tuy nhiên khuyết điểm chính của loại
trắc nghiệm này là việc chấm bài mất nhiều thời gian và giáo viên thườnfg
không đánh giá cao các câu trả lời sáng tạo tuy khác đáp án mà vẫn có lý.
*Lọai trắc nghiệm nhiều lựa chọn:
Đây là loại câu trắc nghiệm có ưu điểm hơn cả và được dùng thông dụng
nhất.
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn là dạng câu hỏi có nhiều phương án thí sinh
chỉ việc chọn một trong các phương án đó. Số phương án càng nhiều thì khả
năng may rủi càng ít. Hiện nay thường dùng 4 đến 5 phương án. Câu hỏi dạng
này thường có hai phần: Phần gốc còn gọi là phần dẫn và phần lựa chọn. Phần
gốc là câu hỏi hay câu bỏ lửng (chưa hoàn tất) phải đặt ra một vấn đề hay đưa
ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho thí sinh hiểu rỏ câu hỏi trắc nghiệm để chọn
câu trả lời thích hợp. Phần lựa chọn gồm nhiều cách giải đáp trong đó có một
phương án còn lại là “mồi nhữ “ hay câu nhiễu.
Ưu điểm của loại câu hỏi nhiều lựa chọn:
- Giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này để kiểm tra đánh giá những mục tiêu
giảng dạy, học tập khác nhau chẳng hạn như:
+ Xác định mối tương quan nhân quả.
+ Nhận biết các điều sai lầm.
+ Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau.
+ Định nghĩa các thành ngữ.
+ Tìm nguyên nhân của một số sự kiện.
12
* Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể dùng thẩm định trí năng mức
biết, hiểu, khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp hay cả khả năng phán đoán
cao hơn.Vì vậy khi viết câu hỏi này giáo viên cần lưu ý:
- Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, rõ ràng, lời văn sáng sủa, phải diễn đạt
rõ ràng một vấn đề. Tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần
phải nhấn mạnh để học sinh không phải nhầm. Câu dẫn phải là câu có đầy đủ
ý để học sinh hiểu đươc mình đang được hỏi vấn đề gì.
- Câu chọn cũng phải rõ ràng dễ hiểu, phải có cùng loại quan hệ với câu dẫn
và chúng phải phù hợp về mặt ngữ pháp với câu dẫn.
- Nên có 4 đến 5 phương án để chọn cho mỗi câu hỏi. Nếu số phương án trả
lời ít hơn thì yếu tố đoán mò may rủi sẽ tăng lên. Nhưng nếu có quá nhiều
phương án để chọn thì khó khi soạn và học sinh thì mất nhiều thời gian để đọc
câu hỏi, các câu nhiễu phải có vẻ hợp lý và có sức hấp dẫn như nhau để học
sinh kém chọn. Trong một bài TNKQ cần lưu ý sắp xếp mỗi phương án đúng
trong các câu nhiều lựa chọn 5 phương án của bài trắc nghiệm nên xấp xỉ
bằng 20%, trường hợp thí sinh chỉ chọn một phương án cố định thì khi tính
điểm hiệu chỉnh thì sẽ có điểm theo công thức: Điểm số = -
- Phải chắc chắn chỉ có một phương án trả lời đúng, còn các phương án còn
lại thật sự nhiễu. Không được đưa vào hai câu chọn cùng một ý nghĩa, mỗi
câu kiểm tra chỉ nên viết về một nội dung kiến thức nào đó.
Thời gian để trả lời một câu hỏi ít từ 1 3 phút, do đó các môn khoa học tự
nhiên, đặc biệt là hóa học khi xây dựng các bài toán TNKQ nhiều lựa chọn
nên xây dựng và biên soạn các bài toán có thể giải nhanh giúp học sinh phát
sửa chữa sao cho hoàn chỉnh, loại câu hỏi này được sử dụng khi kiểm tra kiến
thức thực hành hoặc quan sát thí nghiệm của HS.
1.1.4. Đánh giá chất lượng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Để đánh giá chất lượng của câu TNKQ hoặc của đề thi TNKQ, người ta
thường dùng một số đại lượng đặc trưng.
1.1.4.1. Độ khó (hoặc độ dễ) 14
Khi nói đến độ khó, ta phải xem xét câu TNKQ là khó đối với đối
tượng nào. Nhờ việc thử nghiệm trên các đối tượng HS phù hợp, người ta có
thể xác định độ khó như sau:
Chia loại HS làm 3 nhóm:
- Nhóm giỏi: gồm 27% số HS có điểm cao nhất của kỳ kiểm tra.
- Nhóm kém: Gồm 27% số HS có điểm thấp của kỳ kiểm tra.
- Nhóm trung bình: Gồm 46% số HS còn lại, không phụ thuộc hai nhóm trên.
Khi đó hệ số về độ khó của câu hỏi (K ) được tính như sau :
K =
N
G
+ N
K
2n
. 100%
N
G
: Số HS thuộc nhóm giải trả lời đúng câu hỏi.
N
K
: Số HS thuộc nhóm kém trả lời đúng câu hỏi.
- Tỉ lệ HS nhóm giỏi làm đúng nhiều hơn nhóm kém thì độ phân biệt là dương
(độ phân biệt dương nằm trong khoảng từ 0-1).
- Tỉ lệ thí sinh nhóm giỏi làm đúng ít hơn nhóm kém thì độ phân biệt là âm.
Cụ thể như sau :
0 < P < 0,2: Độ phân biệt rất thấp giữa HS giỏi và HS kém.
0,2 < P < 0,4: Độ phân biệt thấp giữa HS giỏi và HS kém.
0,4 < P < 0,6: Độ phân biệt trung bình giữa HS giỏi và HS kém.
0,6 < P < 0,8: Độ phân biệt cao giữa HS giỏi và HS kém.
0,8 < P < 1: Độ phân biệt rất cao giữa HS giỏi và HS kém.
Những câu có P > 0,32: Dùng được
P từ 0,22 - 0,31: nên thận trọng khi dùng.
P< 0,22: không dùng được.
1.1.4.3. Độ tin cậy
TN là một phép đo lường để biết được năng lực của đối tượng được đo.
Tính chính xác của phép đo lường này rất quan trọng. Độ tin cậy của bài TN chính
là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ bài TN. Toán học thống
kê cho nhiều phương pháp để tính độ tin cậy của một bài TN : hoặc dựa vào sự ổn
định của kết quả TN giữa hai lần đo cùng một nhóm đối tượng hoặc dựa vào sự
tương quan giữa kết quả của các bộ phận tương đương nhau trong một bài TN.
1.1.4.4. Độ giá trị
Yêu cầu quan trọng nhất của bài TN với tư cách là một phép đo lường
trong giáo dục là nó đo được cái cần đo. Phép đo bởi bài TN đạt được mục
tiêu đó là phép đo có giá trị. 16
Độ giá trị của bài TN là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề
ra cho phép đo nhờ bài TN.
Để bài TN có độ giá trị cao, cần xác định tỉ mỉ mục tiêu cần đưa ra qua
bài TN và phải bám sát mục tiêu đó trong qúa trình xây dựng các bài toán TN,
giá và mức độ nhận thức của học sinh.
Ngoài ra, giáo viên phải chuẩn bị đủ tư liệu nghiên cứu, tài liệu tham
khảo để có kiến thức chuyên môn vững chắc, nắm vững nội dung chương
trình, nắm vững kỹ thuật biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
b) Giai đoạn thực hiện
Sau khi chuẩn bị đầy đủ các bước ở giai đoạn chuẩn bị mới bắt đầu
chuẩn bị câu hỏi. Muốn có bài tập trắc nghiệm khách quan hay, nên theo các
quy tắc tổng quát sau:
- Bản sơ thảo câu hỏi nên được soạn trước một thời gian trước khi kiểm tra.
- Số câu hỏi ở bản sơ thảo đầu tiên có nhiều câu hỏi hơn số câu hỏi cần
dùng trong bài kiểm tra.
- Mỗi câu hỏi nên liên quan đến mục tiêu nhất định. Có như vậy, câu
hỏi mới có thể biểu diễn mục tiêu dưới dạng đo được hay quan sát được.
- Mỗi câu hỏi phải được diễn đạt rõ ràng, không nên dùng các cụm từ
có ý nghĩa mơ hồ như: “thường thường”, “đôi khi”, “có lẽ”, “có thể” Vì như
vậy học sinh thường đoán mò câu trả lời từ cách diễn đạt câu hỏi hơn là vận
dụng sự hiểu biết của mình để trả lời câu hỏi.
- Mỗi câu hỏi phải mang đầy đủ ý nghĩa chứ không tuỳ thuộc vào phần
trả lời chọn lựa để hoàn tất ý nghĩa.
- Các câu hỏi nên đặt dưới thể xác định hơn là thể phủ định.
- Tránh dùng nguyên văn những câu trích từ sách hay bài giảng.
- Tránh dùng những câu có tính chất “đánh lừa” học sinh.
- Tránh để học sinh đoán được câu trả lời dựa vào dự kiện cho ở những
câu hỏi khác nhau. 18
- Các câu hỏi nên có độ khó vừa phải khoảng từ 40 % ữ 60 % số học
sinh tham gia làm bài kiểm tra trả lời được.
- Nên sắp đặt các câu hỏi theo thứ tự mức độ khó dần và câu hỏi cùng