Tổ chức dạy học theo dự án phần văn học nước ngoài chương trình ngữ văn 11 trung học phổ thông - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ THÚY CHINH TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN PHẦN VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LL&PP dạy học (bộ môn Ngữ Văn)
Mã số: 601410
pháp là nhằm tăng cƣờng tính tích cực, chủ động, hƣớng tới hoạt động tự học
của học sinh, khắc phục thói quen học tập thụ động.
Chủ trƣơng đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích cực, lấy
ngƣời học làm trung tâm mở ra cơ hội cho giáo dục nƣớc ta ứng dụng nhiều
thành tựu của phƣơng pháp dạy học hiện đại trên thế giới, trong đó có những
phƣơng pháp dạy học tích cực nhƣ: dạy học tình huống, dạy học qua đóng
vai, dạy học theo dự án…
Nằm trong xu thế chung của chƣơng trình đổi mới giáo dục phổ thông,
việc đổi mới nội dung và phƣơng pháp dạy học môn Ngữ văn cũng là việc cần
thiết và tất yếu. Trong những năm qua, tại các hội nghị thay sách giáo khoa 2
Ngữ văn hay đổi mới phƣơng pháp dạy học môn học này, các nhà giáo đã
kiến nghị việc đổi mới nội dung phải song song với đổi mới phƣơng pháp dạy
học. Trên thực tế, chất lƣợng dạy học môn học thời gian qua giảm sút mạnh,
học sinh tỏ ra thờ ơ và ngại học môn học này. Hơn nữa, trong điều kiện
phƣơng tiện dạy học hiện đại nhƣ hiện nay cùng với việc chƣơng trình Ngữ
văn THPT hiện hành biên soạn lại theo hƣớng tích hợp kiến thức, tập trung
phát triển năng lực tự học của học sinh, yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học
môn học này càng trở nên cấp thiết. Việc đổi mới phƣơng pháp dạy và học
Ngữ văn với những phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực có sự
trợ giúp của công nghệ thông tin và phƣơng tiện dạy học hiện đại đang là một
hƣớng mới đƣợc đẩy mạnh áp dụng, trong đó có dạy học theo dự án.
Dạy học theo dự án đã có từ lâu trong thực tiễn dạy học ở Việt Nam,
nhƣng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và phƣơng tiện dạy học hiện đại
nhƣ hiện nay, dạy học theo dự án đang trở nên có nhiều ƣu việt, thu hút sự chú
ý quan tâm của giáo viên và học sinh. Dạy học theo dự án có đặc trƣng là tổ
chức dạy học gắn với thực tiễn, học sinh phải tự học là chủ yếu, thầy cô chỉ là
ngƣời tổ chức, ngƣời hƣớng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập. Dạy học

2. Lịch sử nghiên cứu
Những ý tƣởng đầu tiên về dạy học dự án xuất hiện ở Mỹ từ những
năm 30 của thế kỷ XX và sau đó đƣợc tiếp tục đƣợc nghiên cứu, tiếp cận với
những quan điểm khác nhau. Hai nhà sƣ phạm Mỹ là John Dewey (1859-
1952) và William H. Kilpatrick (1871-1965) là những ngƣời đặt nền móng
cho phƣơng pháp dạy học dự án, dựa trên những cơ sở lý luận về tính tích cực
của ngƣời học xuất phát từ sự quan tâm đối với chính môn học.
John Dewey đƣợc coi là ngƣời đầu tiên khởi xƣớng phƣơng pháp dạy
học dự án, dựa trên cơ sở lý luận là lý thuyết học sinh là trung tâm. Ông đề
cập đến việc xây dựng các dự án trong dạy học theo cách tạo điều kiện cho
học sinh tƣ duy các vấn đề và tìm cách giải quyết các vấn đề đó. Ông đánh
giá tầm quan trọng của dạy học dự án là việc ngƣời học tự rút kinh nghiệm
trong quá trình triển khai giải quyết vấn đề có liên quan đến thực tế, qua đó
tiếp thu kiến thức và kỹ năng mới, trau dồi những hiểu biết đã có mà không
phải kết quả cuối cùng của dự án. Với phƣơng pháp dạy học này, học sinh trở
thành trung tâm của quá trình dạy học, thầy cô có vai trò ngƣời tổ chức và 4
hƣớng dẫn. Sau tiền đề nghiên cứu của John Dewey, trong suốt thời gian dài,
dạy học theo dự án đã tạo nên sự vận động lớn trong nền giáo dục Mỹ. Các
nhà giáo dục đã có rất nhiều báo cáo chỉ ra những lợi ích của việc học dựa
trên kinh nghiệm, thực hành hƣớng vào ngƣời học.
Tiếp sau John DeWey, tiếp cận vấn đề dƣới quan điểm của một nhà tâm
lý học, nhà giáo dục William H.Kilpatric đã bổ sung vào hệ thống quan điểm
của John Dewey về dạy học theo dự án ở góc độ phƣơng pháp thực hành dự
án. Trong bài báo “Phương pháp dự án” (1925), ông đã chứng minh rằng học
sinh có thể dễ dàng bị thu hút bởi những hoạt động có mục đích đòi hỏi khả
năng tƣ duy và kỹ năng thực tế. Ông cũng đặc biệt nhấn mạnh dự án là một
hoạt động có mục đích cụ thể và diễn ra trong môi trƣờng học tập dân chủ,

viết nghiên cứu trên các báo, tạp chí khoa học, giáo dục và các luận án xung
quanh vấn đề dạy học dự án. Tiểu biểu nhƣ các bài viết và nghiên cứu của các
tác giả Nguyễn Văn Cƣờng và Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004), Đỗ Hƣơng Trà
(2007), Trần Thị Hoàng Yến (2010) đăng trên tạp chí giáo dục. Các bài viết
của các tác giả trên chủ yếu đi sâu vào tiến trình thực hiện dạy học theo dự án
thông qua việc ứng dụng trong một lĩnh vực hay một nội dung kiến thức cụ
thể của các bộ môn khoa học tự nhiên
Qua một số thống kê việc nghiên cứu và ứng dụng dạy học dự án, có
thể thấy rằng dạy học theo dự án không phải là xa lạ trong lĩnh vực giáo dục ở
nƣớc ta và trên thế giới. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở
những vấn đề về mặt lí thuyết của dạy học dự án, chƣa cung cấp một sự hỗ trợ
thực sự đầy đủ để ngƣời dạy có thể dễ dàng triển khai áp dụng, nhất là trong
lĩnh vực khoa học xã hội, khi mà việc triển khai dạy học theo dự án còn nhiều
khó khăn. Việc hiểu rõ ràng và cụ thể về dạy học theo dự án, quy trình hóa
việc tổ chức dạy học theo dự án, đánh giá trong dạy học dự án vẫn còn là
những vấn đề còn cần đƣợc nghiên cứu thêm.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài luận văn này là xây dựng và đề xuất quy trình tổ
chức dạy học theo dự án trang bị cho giáo viên Ngữ văn vận dụng vào dạy
học văn học nƣớc ngoài lớp 11, góp phần đổi mới và nâng cao hiệu quả dạy
học môn học. 6
4. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Ngữ văn lớp 11 ở trƣờng THPT.
- Đối tƣợng nghiên cứu: Khả năng vận dụng quy trình tổ chức dạy học theo dự
án cho dạy học Ngữ văn: phần văn học nƣớc ngoài lớp 11 (chƣơng trình nâng cao).
5. Giả thuyết nghiên cứu
Xây dựng và ứng dụng đƣợc quy trình tổ chức dạy học theo dự án phần

thu thập ý kiến về việc sử dụng phƣơng pháp dạy học Ngữ văn hiện tại đang
đƣợc sử dụng.
- Phƣơng pháp thực nghiệm: xây dựng quy trình tổ chức dạy học theo
dự án và vận dụng soạn giáo án, thực nghiệm giảng dạy để kiểm tra tính khả
thi của phƣơng pháp dạy học cho phần kiến thức này.
- Phƣơng pháp xử lí thông tin, phân tích kết quả: xử lý thông tin thu
thập đƣợc và đƣa ra những đánh giá riêng.
9. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa đƣợc một số vấn đề lí luận của dạy học theo dự án và làm
rõ đƣợc sự phù hợp của dạy học theo dự án khi áp dụng cho dạy học Ngữ văn ở
trƣờng THPT (phần văn học nƣớc ngoài chƣơng trình Ngữ văn 11 nâng cao).
- Xây dựng và đề xuất vận dụng quy trình dạy học theo dự án cho giáo viên
THPT trong dạy học phần văn học nƣớc ngoài lớp 11 chƣơng trình nâng cao.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn có kết cấu gồm có 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề lí luận về dạy học dự án
Chƣơng 2: Khả năng vận dụng dạy học theo dự án trong dạy học văn
học nƣớc ngoài lớp 11 chƣơng trình nâng cao.
Chƣơng 3: Quy trình tổ chức dạy học theo dự án và thực nghiệm sƣ phạm 8
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC DỰ ÁN
1.1. Khái niệm dạy học dự án
Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là project, có nguồn gốc từ tiếng La tinh và
ngày nay đƣợc hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế
hoạch trong đó đề án, dự thảo hay kế hoạch này cần đƣợc thực hiện nhằm đạt
mục đích đề ra. Khái niệm dự án đƣợc sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh
vực kinh tế - xã hội, trong sản xuất kinh doanh, trong nghiên cứu khoa học

nghiệp từ lâu cũng đã đƣợc sử dụng trong đào tạo đại học, các hình thức này
gần gũi với dạy học theo dự án. Tuy vậy, trong lĩnh vực lý luận dạy học, dạy
học dự án chƣa đƣợc quan tâm thích đáng nên việc sử dụng chƣa đạt hiệu quả
cao. Nhìn chung, trong thời gian gần đây mới thực hiện ở các trƣờng đại học,
còn ít hoặc chƣa đƣợc áp dụng cho các trƣờng THPT.
Hiện nay, có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo
dự án (Project - based learning). Dạy học theo dự án đƣợc nhiều nhà nghiên
cứu, nhiều tác giả coi là một hình thức tổ chức dạy học vì khi thực hiện một
dự án, có nhiều phƣơng pháp dạy học cụ thể đƣợc sử dụng. Tuy nhiên, khi
không phân biệt giữa hình thức và phƣơng pháp dạy học ngƣời ta cũng gọi là
phƣơng pháp dạy học theo dự án (phƣơng pháp dạy học dự án). Khi đó cần
hiểu đó là phƣơng pháp dạy học theo nghĩa rộng, một cách tiếp cận dạy học,
một phƣơng pháp phức hợp, hay nói cách khác cần hiểu dạy học theo dự án là
một phƣơng pháp dạy học trong nhiều phƣơng pháp dạy học. Nhƣ vậy có thể
dùng hình thức tổ chức dạy học hoặc phƣơng pháp dạy học để gọi dạy học
theo dự án, tuy nhiên cần hiểu là phƣơng pháp theo nghĩa rộng nhƣ đã nêu.
Nhƣ vậy, dù cách gọi dạy học dự án là phƣơng pháp dạy học hay hình
thức tổ chức dạy học thì bản chất của dạy học dự án (hay còn gọi là dạy học
theo dự án) vẫn là sự chuyển đổi ngƣời học sang cơ chế tự định hƣớng cá
nhân trong hoạt động học tập, cộng tác, chuyển từ cách dạy ―thầy nói‖ trên
bục giảng sang hƣớng dẫn ―trò làm‖ nhiệm vụ thực (From sage on the stage
to guide on the side, Alison King, 1993). 10
Khi tổ chức dạy học theo dự án tức là học sinh thực hiện một nhiệm vụ
học tập phức hợp gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành; nhiệm vụ
học tập đƣợc học sinh thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình
học tập từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện và kiểm
tra, điều chỉnh, đánh giá kết quả. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm và

tiễn nghề nghiệp cũng nhƣ thực tiễn đời sống. Chẳng hạn nhƣ: vấn đề về môi
trƣờng, giao thông, văn hóa ứng xử trong xã hội…Những chủ đề đó gợi ra
những nhiệm vụ thực, yêu cầu học sinh phải đối mặt và giải quyết những nhiệm
vụ đó. Nhiệm vụ dự án chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả
năng của ngƣời học, do đó không chỉ dừng lại ở việc mô tả về mặt lý thuyết.
Dạy học dự án mang ý nghĩa thực tiễn xã hội. Các dự án học tập góp
phần gắn việc học tập trong nhà trƣờng với thực tiễn đời sống xã hội. Trong
những trƣờng hợp lý tƣởng việc thực hiện các dự án có thể mang lại những
tác động xã hội tích cực: tác động vào nhận thức của ngƣời học, hoặc kết quả
của dự án có khả năng ứng dụng và rất sát với thực tế diễn ra trong cuộc sống.
Ví dụ: dự án cải tạo hồ nƣớc của trƣờng, dự án làm sạch môi trƣờng
nƣớc nơi em ở… Với dự án nhƣ thế này học sinh sẽ đóng vai là những kỹ sƣ
xây dựng, kỹ sƣ môi trƣờng, khảo sát điều tra mức độ ô nhiễm của hồ nƣớc và
môi trƣờng khu phố, tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất giải pháp, phƣơng án và
chi phí thực hiện…Trong thực tế dự án cải tạo hồ bơi đƣợc học sinh trƣờng
THCS Trần Văn Ơn (quận 1, thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện ở môn Toán.
Học sinh đóng vai kỹ sƣ xây dựng, khảo sát thiết kế, đo đạc diện tích, tính
toán số lƣợng gạch, tìm hiểu chủng loại, giá thành…Kết quả hồ bơi đƣợc tính
toán cải tạo với giá 30 triệu đồng, gần tƣơng ứng với số kinh phí thật mà nhà
trƣờng phải bỏ ra nếu muốn cải tạo hồ bơi này (theo báo Thiếu niên tiền
phong, số ra ngày 5/9/2006).
- Tính tích hợp, liên môn:
Nội dung kiến thức trong dạy học dự án là nội dung mang tính liên
môn, tích hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải 12
quyết một vấn đề, một tình huống thực mang tính phức hợp. Nhiều nhiệm vụ
đƣợc đặt ra cùng lúc trong quá trình thực hiện một dự án.
Mặt khác, dạy học dự án cho phép áp dụng phức hợp tối đa các nhóm

công công việc giữa các thành viên trong nhóm. Dạy học dự án đòi hỏi và rèn
luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham
gia, giữa giáo viên và học sinh…Sự cộng tác này có thể có ở nhiều mức độ,
quy mô và đối tƣợng khác nhau, giữa những ngƣời cùng tham gia dự án hoặc
hỗ trợ dự án:
+ Cộng tác giữa giáo viên và học sinh: Giáo viên hƣớng dẫn, tƣ vấn,
nhận xét quá trình làm việc đề học sinh có sự điều chỉnh kịp thời. Học sinh
thƣờng xuyên phản hồi thông tin cho giáo viên, thông báo tiến độ thực hiện
dự án học tập, và có thể đề xuất thêm những ý tƣởng mới.
+ Cộng tác giữa học sinh và học sinh: Đây là sự cộng tác phổ biến nhất
hiện nay, bởi việc tổ chức dạy học dự án thƣờng phân chia nhiệm vụ học tập
theo nhóm và việc hoàn thành các nhiệm vụ của dự án vì thế cũng thƣờng
đƣợc tiến hành theo nhóm. Kỹ năng làm việc nhóm cũng là một tiêu chí đánh
giá học sinh trong quá trình dạy học dự án.
+ Cộng tác giữa các lực lƣợng xã hội khác cùng tham gia dự án, ví dụ
nhƣ các bậc phụ huynh, các nhà tài trợ xã hội…
Đặc điểm này của dạy học dự án khiến cho dạy học dự án đƣợc gọi là
hình thức học tập mang tính xã hội.
- Định hướng sản phẩm dựa trên việc xác định chuẩn:
Trong dạy học dự án, các sản phẩm đƣợc tạo ra trong quá trình thực
hiện dự án. Các sản phẩm không giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết mà
đa số trƣờng hợp sản phẩm của các dự án học tập là những sản phẩm vật chất
của hoạt động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công
bố, hoặc giới thiệu.
Việc xác định sản phẩm của dự án đƣợc dựa trên căn cứ đƣợc gọi là
chuẩn. Dạy học dự án là dạy học hƣớng đến chuẩn và khi áp dụng tổ chức dạy
học dự án, ngƣời dạy cần xác định: chúng ta muốn học sinh biết đƣợc những
gì và học/làm đƣợc những gì? Việc giáo viên trả lời câu hỏi đó chính là việc

15
- Dạy học dự án yêu cầu áp dụng đánh giá thực và toàn diện trên cơ sở
sự thể hiện của ngƣời học trong suốt quá trình thực hiện dự án học tập.
Nhƣ vậy, dạy học theo dự án có những đặc điểm riêng của nó, khi triển
khai chúng ta nên chú ý đến những đặc điểm đó để thu đƣợc hiệu quả trong
quá trình áp dụng và thực hiện.
1.3. Các dạng của dạy học dự án
Dạy học dự án có thể phân loại theo nhiều phƣơng diện khác nhau. Có
thể dựa trên một số tiêu chí chung để phân chia các dự án học tập nhƣ:
- Theo chuyên môn
- Theo lĩnh vực, chủ đề, chủ điểm
- Theo quy mô tổ chức hoạt động
- Theo thời gian thực hiện
- Theo số lƣợng ngƣời tham gia
Dƣới đây là một số cách phân loại dạy học theo dự án:
 Phân loại theo chuyên môn
- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.
- Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm trong nhiều môn khác nhau.
- Dự án ngoài chuyên môn: là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào
các môn học.
 Căn cứ vào hoạt động chính của người học, Collins (1989) chia dự
án học tập thành:
- Dự án kiểu trò chơi
- Dự án đóng vai
- Dự án tham quan, dã ngoại
- Dự án mô tả (thuyết trình, nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt chủ đề)
- Dự án kiến tạo (ý tƣởng thực hiện hoạt động tạo ra một sản phẩm cụ thể).
 Căn cứ vào hình thức, quy mô tổ chức thực hiện có thể phân loại:


lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án học tập theo đặc thù 17
riêng. Các loại dự án sử dụng trong dạy học thƣờng là dự án nghiên cứu sâu
về các chủ đề thực tế và các vấn đề mà học sinh muốn tìm hiểu. Các dự án sẽ
kết hợp đƣợc các yếu tố nhƣ hoạt động đóng vai một cách sáng tạo nhất, thiết
kế, công nghệ, cộng đồng với các chủ đề đa dạng trong chƣơng trình nhằm
giúp học sinh tìm hiểu về nội dung và thể hiện đƣợc những điều mà các em
biết. Dƣới đây là một số ví dụ về ý tƣởng dự án:
- Học thông qua việc phục vụ cộng đồng: Những dự án này thƣờng gắn
với cộng đồng địa phƣơng và cho phép học sinh áp dụng bài học trong lớp
học vào tình huống thực tế. Chẳng hạn dự án xây dựng kế hoạch xử lý nƣớc
để làm sạch nƣớc ở khu vực các giếng nƣớc ở địa phƣơng em.
- Mô phỏng - đóng vai: Những dự án này thiết kế nhằm cung cấp cho
học sinh một kinh nghiệm thực tế đầu tay. Học sinh sẽ vào vai một ngƣời khác,
sống trong một tình huống mô phỏng tái tạo lại thời gian và không gian nhất
định. Mô phỏng đóng vai là cách hữu hiệu để phản ánh lịch sử, mang lại hiệu
quả tạo sự thấu cảm tốt. Chẳng hạn nhƣ dự án đóng vai ngƣời phát ngôn giới
thiệu về đất nƣớc bạn với chủ đề: điểm đến Việt Nam - tƣơng lai và hy vọng.
- Xây dựng, thiết kế: Những dự án này dựa trên nhu cầu thực tế, đòi hỏi
học sinh phải xây dựng đƣợc mô hình thực sự hay lập kế hoạch đề xuất giải
pháp cho các vấn đề thực tế. Chẳng hạn: xây dựng kế hoạch và thực hiện điều
chế axit sunfuric.
- Giải quyết vấn đề: Các dự án giải quyết vấn đề có thể gồm các chuỗi
sự kiện đáng tin cậy hay những vấn đề đang tranh cãi trên thực tế. Có thể là
những vấn đề của lớp học hay nhà trƣờng, vấn đề của cộng đồng nhƣ ô nhiễm
môi trƣờng, nguồn nƣớc…Học sinh sẽ đƣợc yêu cầu đề xuất giải pháp cho
các vấn đề thực tế bằng một kế hoạch.
- Hợp tác trực tuyến: Những dự án này là các nhiệm vụ giáo dục thực

đầu tiên cho ngƣời học trong quá trình dạy học theo dự án. Có hai cơ sở để
xác định tên đề tài, chủ đề của dự án, đó là:
Thứ nhất, căn cứ vào việc phân tích nội dung chƣơng trình môn học, khả
năng kết hợp nội dung các bài học trong bộ môn đó hoặc với các bộ môn khác. 19
Thứ hai, căn cứ vào các vấn đề thực tiễn đang đƣợc xã hội quan tâm, có
khả năng trở thành một tình huống cho học sinh giải quyết (còn gọi là mô
phỏng tình huống thực).
Tính tích cực chủ thể của ngƣời học cũng đƣợc thể hiện rõ trong bƣớc
lựa chọn tên chủ đề, đề tài dự án. Trên thực tế, việc lựa chọn tên đề tài, chủ đề
của dự án có thể tiến hành với sự tham gia của ngƣời dạy và ngƣời học ở
những mức độ khác nhau:
+ Giáo viên lựa chọn chủ đề, đề tài, giới thiệu và yêu cầu học sinh thực
hiện nhƣ là một bài tập với hình thức mới.
+ Giáo viên và học sinh cùng thảo luận để đi đến việc thống nhất tên đề
tài, chủ đề của dự án. Ý tƣởng của học sinh là cơ bản, giáo viên chỉ đóng vai
trò là ngƣời phân tích, đóng góp, điều chỉnh cho phù hợp hơn.
+ Học sinh chủ động đề xuất tên đề tài, chủ đề dự án và thuyết phục
giáo viên ủng hộ việc thực hiện dự án đó.
Một dự án học tập đƣợc coi là lý tƣởng khi phát huy tối đa vai trò chủ
động, tích cực của học sinh (học sinh chủ động đề xuất chủ đề dự án). Tuy
nhiên trên thực tế, việc triển khai dạy học dự án vẫn còn gặp khá nhiều khó
khăn và thách thức. Theo quan sát thì hiện nay hình thức giáo viên và học
sinh cùng thảo luận, lựa chọn ý tƣởng dự án là phổ biến nhất. Khi lựa chọn đề
tài, chủ đề dự án cần chú ý đến hứng thú của ngƣời học cũng nhƣ ý nghĩa xã
hội của đề tài.
- Xác định sản phẩm cuối:
Sản phẩm cuối của dạy học dự án không chỉ là những sản phẩm thuần túy

đƣợc thống nhất và tuyên bố ngay từ đầu quá trình học tập giúp học sinh xác
định đƣợc động cơ và phƣơng hƣớng học tập cho bản thân. Giáo viên sẽ viết
một bản kế hoạch đánh giá chi tiết và công bố cho tất cả ngƣời học. Đồng thời
giáo viên cũng phải chuẩn bị một phiếu tự đánh giá để giúp học sinh có thể tự
đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ dự án học tập của mình. Mỗi nhóm học
sinh sẽ phải lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ học tập và giáo viên cũng cần 21
đánh giá kỹ năng lập kế hoạch của học sinh vì đây là một kỹ năng quan trọng
và cần thiết đối các em.
- Lựa chọn nguồn tài nguyên cho dự án
Ngay từ khi bắt đầu dự án, để triển khai đƣợc dự án thuận lợi và hiệu
quả học sinh cần xây dựng đƣợc cho mình nguồn tài nguyên nhất định. Nguồn
tài nguyên này bao gồm các tƣ liệu về kiến thức, các thông tin liên quan, các
công cụ hỗ trợ thực hiện dự án cả dạng tƣ liệu và dạng điện tử (nếu
có)…Công việc này đòi hỏi học sinh phải tiến hành khoa học và có chiến lƣợc
phù hợp. Tìm kiếm, thu thập, hệ thống hóa các dạng tài nguyên là hoạt động
chính của học sinh trong bƣớc chuẩn bị thực hiện dự án. Khi đó, vai trò của
giáo viên chỉ là tham vấn, hỗ trợ, bổ sung khi cần thiết.
Tuy nhiên, cũng cần xác định là nguồn tài nguyên đƣợc xây dựng và
lựa chọn trong giai đoạn tiền đề của dự án mới chỉ mang tính chất định
hƣớng, là những nguồn tƣ liệu đầu tiên. Trong quá trình triển khai dự án, học
sinh sẽ bổ sung, mở rộng và đa dạng hóa các nguồn tài nguyên đó.
- Tạo nhóm làm việc
Trong dạy học dự án, làm việc theo nhóm là một trong những hình thức hoạt
động chủ yếu của học sinh. Tùy vào tình hình thực tế mà giáo viên sẽ lựa chọn và
áp dụng một số cách dƣới đây để chia nhóm làm việc cho học sinh. Cụ thể:
- Chia nhóm theo một số trật tự đã đƣợc quy định nhƣ: dựa vào thứ tự
danh sách lớp hoặc vị trí chỗ ngồi trong lớp học, giáo viên chia lớp thành từng

Đồng hành với học sinh trong quá trình hoạt động triển khai dự án là
vai trò điều phối, tƣ vấn, hỗ trợ, kiểm tra đánh giá, khuyến khích và thúc đẩy
các hoạt động từ phía giáo viên. Và cũng chính trong giai đoạn này giáo viên
bắt đầu triển khai việc đánh giá học sinh thông qua theo dõi, quan sát hoạt
động của các cá nhân, các nhóm.
 Giai đoạn 3: Hoàn thiện sản phẩm cuối
Đây đƣợc xem là giai đoạn để các nhóm hoàn thành nốt công việc của
mình. Trong quá trình làm việc học sinh thƣờng xuyên duy trì phản hồi, báo 23
cáo tiến độ công việc với giáo viên. Thông qua đó, giáo viên sẽ cung cấp
những thông tin mang tính chất định hƣớng, tƣ vấn hợp lý, giúp học sinh có
thể điều chỉnh cách thức làm việc hay suy nghĩ thêm ý tƣởng để hoàn thành
sản phẩm cuối tốt hơn. Giai đoạn này vẫn tiếp tục duy trì các hoạt động chính
của học sinh và giáo viên nhƣ trong giai đoạn trƣớc, nhƣng việc đánh giá của
giáo viên từ bên ngoài và đánh giá trong nội bộ nhóm học sinh đƣợc chú ý
đẩy mạnh hơn.
 Giai đoạn 4: Trình bày sản phẩm
Bên cạnh quá trình nỗ lực tạo ra sản phẩm, chất lƣợng sản phẩm còn
phụ thuộc vào việc trình bày sản phẩm đó một cách hấp dẫn và thuyết phục.
Việc trình bày sản phẩm này cũng góp phần rèn cho học sinh kỹ năng trình
bày vấn đề trƣớc đám đông (kỹ năng thuyết trình). Trong nhiều dự án, các sản
phẩm vật chất đƣợc tạo ra qua hoạt động thực hành, tuy nhiên sản phẩm của
dự án cũng có thể là những hoạt động phi vật chất nhƣ một vở kịch, bản báo
cáo (nghiên cứu lịch sử, khoa học, các bài báo…), thiết kế xây dựng (bài mẫu,
mô hình, triển lãm, giới thiệu…), bài luận cá nhân/nhóm (bài thuyết trình),
bản thiết kế…hay tổ chức một hoạt động nhằm tạo ra các tác động xã
hội…Sản phẩm của dự án có thể đƣợc trình bày giữa các nhóm trong lớp học,
có thể đƣợc giới thiệu trong nhà trƣờng hay ngoài xã hội tùy theo quy mô và

dạy học dự án, giúp phát huy tính tích cực, chủ động của ngƣời học không chỉ
trong việc thực hiện các nhiệm vụ dự án mà còn ở việc đánh giá, điều chỉnh
các nhiệm vụ đó để phù hợp với nhu cầu học tập của bản thân.
Có thể hình dung các giai đoạn trong tiến trình dạy học theo dự án bằng
bảng khái quát sau:

Trích đoạn Các hoạt động của giáo viên và học sinh trong dạy học theo dự án Những hạn chế Quy trình thực nghiệm Kết quả thực nghiệm Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status