TÓM LƯỢC
Trong quá trình thực tập tại công ty TNHH TM&DV Nga Việt, em nhận thấy
trong thời gian gần đây, hoạt động kinh doanh của công ty gặp nhiều khó khăn gây tổn
thất cho công ty. Nhận thấy vai trò của công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh
doanh, em lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH
TM&DV Nga Việt”. Khóa luận đã hệ thống hóa lý thuyết cơ bản về quản trị rủi ro, nội
dung của quản trị rủi ro, quy trình quản trị rủi ro từ đó làm cơ sở phân tích, đánh giá
thực trạng công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty, từ đó đưa
ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại công ty.
Khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp.
Trong chương này, khoá luận đã tổng hợp một số khái niệm cơ bản về rủi ro, quản trị
rủi ro, nội dung của quản trị rủi ro đồng thời chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến công tác
quản trị rủi ro trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH TM&DV Nga
Việt giai đoạn 2010 - 2012.
Trong chương này, khoá luận đã nêu khái quát về công ty TNHH TM&DV Nga Việt.
Phân tích các dữ liệu thu thập được, đánh giá về thực trạng, nguyên nhân ảnh hưởng,
kết quả của công tác quản trị rủi ro của công ty.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH
TM&DV Nga Việt.
Kết quả chương 3 là những đề xuất và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty TNHH TM&DV Nga Việt.
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại trường Đại học Thương Mại, là sinh viên khoa quản
trị doanh nghiệp thương mại, với sự cố gắng học tập của bản thân và sự giúp đỡ tận
tình của các thầy cô giáo trong trường. Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường,
em đã trau dồi được một lượng kiến thức vô cùng quý giá và có ích cho bản thân. Bên
cạnh đó, thời gian được thực tập tại công ty TNHH TM&DV Nga Việt đã giúp em vận
dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. Dựa vào đó em đã hoàn thành khóa luận
Bảng 2.5: Kết quả đánh giá các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh
của công ty TNHH TM&DV Nga Việt giai đoạn 2010 - 2012
6
Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc tổ chức của công ty TNHH TM&DV Nga
Việt
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Diễn giải
1 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
2 TM&DV Thương mại và Dịch vụ
3 TNDN Thu nhập doanh nghiệp
4 WTO Tổ chức thương mại thế giới
5 ĐVT Đơn vị tính
6 RR Rủi ro
7 HĐ Hợp đồng
iv
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nhiều công ty doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các công ty và doanh nghiệp
nhỏ và vừa họ thường bị cuốn theo vòng xoáy của công việc phát sinh hàng ngày (sản
xuất, mua, bán hàng, tìm kiếm khách hàng, giao hàng, thu tiền, ). Hầu hết những
công việc này được giải quyết theo yêu cầu phát sinh, xảy ra đến đâu giải quyết đến đó
chứ không được hoạch định hay đưa ra chiến lược một cách bài bản, quản lý một cách
có hệ thống và đánh giá hiệu quả một cách có khoa học. Các cấp quản lý họ bị các
công việc “dẫn dắt” đến mức “lạc đường” lúc nào không biết, không định hướng rõ
ràng mà chỉ thấy ở đâu có lối thì đi, mà càng đi lại càng lạc đường. Đó là cái mà các
công ty và doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi trong xu hướng toàn cầu hóa hiện
nay, bởi hiện nay chúng ta đang ngày cạnh tranh với các công ty, doanh nghiệp hùng
mạnh trên thế giới và việc các công ty, doanh nghiệp phải xác định rõ ràng được mục
tiêu, hướng đi, vạch ra một con đường hợp lý và phân bổ các nguồn lực một cách tối
mua hàng của công ty Cổ phần dược trung ương Mediplantex” - Luận văn tốt nghiệp -
Lê Thị Thu - Khoa Quản trị doanh nghiệp - Trường Đại học Thương Mại năm 2011.
Tác giả đã đưa ra một số lý thuyết về quản trị rủi ro trong hoạt động mua hàng,
từ đó đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động
mua hàng tại công ty.
Toàn bộ những bài viết, luận văn trên đóng góp cho em cơ sở lý luận về quản
trị rủi ro trong doanh nghiệp. Tuy nhiên chưa có bài viết, đề tài nào nghiên cứu về
“Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH TM&DV Nga Việt”. Do đó
em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH TM&DV
Nga Việt” làm khoá luận.
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá và phân tích công tác quản trị rủi ro của
công ty, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của công
ty TNHH TM&DV Nga Việt.
3. Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài nhằm đạt được những mục tiêu sau:
• Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về rủi ro trong doanh nghiệp và các phương pháp
quản trị rủi ro trong doanh nghiệp.
2
• Phân tích, đánh giá một cách khách quan thực trạng công tác quản trị rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của công ty.
• Đề xuất một số giải pháp và những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản tri rủi
ro trong hoạt động kinh doanh của công ty.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu, phân tích, đánh giá công tác quản trị
rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty TNHH TM&DV Nga Việt.
Phạm vi về thời gian: Đề tài phân tích, đánh giá công tác quản trị rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của công ty TNHH TM&DV Nga Việt trong 3 năm 2010, 2011
và 2012. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro
trong hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm tiếp theo.
Phạm vi nội dung: Từ những thực trạng về rủi ro và công tác quản trị rủi ro của
cũng như các kết qủa đã xử lý để đưa ra kết quả chung nhất về vấn đề đang nghiên
cứu. Khái quát rủi ro chính mà công ty gặp phải trong hoạt động kinh doanh của công
ty.
Tổng hợp lại thực trạng công tác quản trị rủi ro của công ty những thành tựu đạt
được, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó.
6. Kết cấu đề tài:
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ
đồ hình vẽ và danh mục từ viết tắt. Kết cấu khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH TM&DV Nga Việt
giai đoạn 2010 - 2012.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH TM&DV
Nga Việt.
4
Chương 1:
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Rủi ro và quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về rủi ro:
Rủi ro theo nghĩa chung nhất được hiểu là điều không tốt lành, không tốt bất
ngờ xảy ra. Đây là cách hiểu thông thường nhất, những gì được coi là rủi ro luôn là
những điều con người không mong muốn. Khi “rủi ro” xảy ra luôn đồng nghĩa với
việc chủ thể tiếp nhận nó phải chịu một sự thiệt hại nào đó.
Rủi ro gắn với một khả năng xảy ra một biến cố không lường trước, biến cố mà
ta hoàn toàn không biết chắc được. Rủi ro ứng với sai lệch giữa dự kiến và thực tế
hoặc rủi ro là sự không thể đoán trước được nguyên nhân dẫn đến kết quả thực khác
với kết quả dự đoán.
Có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro:
Theo quan điểm rủi ro gắn với những điều không may người ta quan niệm rằng:
rủi ro là sự không chắc chắn hoặc là các mối nguy hiểm, hay rủi ro là những kết quả
chúng đối với doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Mặc dù sự kết hợp của các rủi ro
là một quá trình phức tạp và khó nhận thấy nhưng mỗi rủi ro riêng lẻ thường có một
ảnh hưởng nhất định trong tổng rủi ro của doanh nghiệp. Để các hoạt động của mình
được liên tục, các doanh nghiệp phải thu được lợi nhuận. Mức lợi nhuận, hệ số tăng
trưởng và sự biến động của lợi nhuận này sẽ phụ thuộc vào các nguồn rủi ro khác
nhau. Do đó doanh nghiệp cần phải quản trị rủi ro để đảm bảo sự tồn tại và phát triển
của mình.
Quản trị rủi ro doanh nghiệp ngày nay được coi như là một bộ phận không thể
tách rời với chiến lược doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là, chiến lược của doanh
nghiệp sẽ được xem là không đầy đủ nếu thiếu vắng sự gắn kết với quản trị rủi ro.
Rủi ro và tính không ổn định luôn tồn tại mọi nơi trong cuộc sống của con
người và trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu môi trường kinh doanh quá nhiều
bất định mà không có biện pháp quản trị rủi ro tốt thì những nhà đầu tư sẽ chuyển sang
đầu tư cho các doanh nghiệp khác có khả năng quản trị rủi ro tốt hơn. Hơn nữa, quản
6
trị rủi ro không tốt sẽ làm tăng nguy cơ thất bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
dẫn đến kinh doanh không những không phát triển mà còn có nguy cơ đứng trước sự
sụp đổ. Vậy để quản trị rủi ro được tốt, các nhà quản trị cần thực hiện một số công
việc cụ thể. Doanh nghiệp cần dự kiến trước với chi phí nhỏ nhất các nguồn lực tài
chính cần thiết trong trường hợp có rủi ro xảy ra. Kiểm soát các rủi ro bằng cách loại
bỏ, giảm nguy cơ hoặc di chuyển một cách hợp lý rủi ro cho các đối tác kinh tế. Đo
lường những hậu quả của rủi ro gây ra và dự kiến các biện pháp tổ chức nhằm giảm
thiểu thiệt hại về người và của đối với công ty.
Như vây, quản trị rủi ro trong doanh nghiệp là những biện pháp mang tính chủ
động nhằm phát hiện, phòng ngừa, loại bớt rủi ro để giảm nhẹ tổn thất trên cơ sở tính
toán và so sánh với chi phí quản trị rủi ro.
1.2. Các nội dung của quản trị rủi ro
1.2.1. Nhận dạng rủi ro:
Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của tổ chức. Nhận dạng rủi ro nhằm tìm kiếm các thông tin về:
lý, rủi ro cạnh tranh, rủi ro thông tin, rủi ro văn hóa. Trong đó, rủi ro kinh tế từ suy
thoái kinh tế, khủng hoảng kinh tế; thâm hụt ngân sách, mất khả năng thanh toán nợ
nước ngoài; lạm phát cao, không kiểm soát được giá cả; những biến động bất lợi của
ngoại tệ, tỷ giá ngoại hối.
Rủi ro chính trị do tính ổn định về chính trị; các quan điểm về đầu tư nước
ngoài, xuất nhập khẩu; quyền sở hữu không chắc chắn, quốc hữu hóa và sung công;
thất thoát vốn ra nước ngoài; các chính sách của nhà nước về hạn ngạch, thuế quan,
chính sách lao động, kiểm soát ngoại hối và tiền tệ, chính sách lãi suất quy định về
môi trường.
Rủi ro pháp lý do sự thay đổi hay khác biệt về luật pháp liên quan đến kinh
doanh, thiếu kiến thức về pháp lý, thiếu chặt chẽ trong hợp đồng kinh tế, vi phạm pháp
luật quốc gia, các tranh chấp, kiện tụng trong kinh doanh.
Còn rủi ro cạnh tranh doanh nghiệp gặp phải do thiếu thông tin về sản phẩm và
công nghệ của đối thủ cạnh tranh; sự cạnh tranh của hàng giả, hàng nhái; doanh nghiệp
chủ quan không thay đổi, nâng cao năng lực cạnh tranh; sự cạnh tranh không lành
mạnh, không công bằng.
8
Rủi ro thông tin do doanh nghiệp thiếu thông tin về các đối tác; thiếu thông tin
về sự thay đổi giá cả trên thị trường; thiếu thông tin về thay đổi công nghệ; thiếu thông
tin về khách hàng, thị trường mục tiêu.
Rủi ro văn hóa do không am hiểu phong tục tập quán; không am hiểu về lối
sống, ngôn ngữ, các giá trị, chuẩn mực ứng xử.
1.2.2. Phân tích rủi ro:
Phân tích rủi ro là một hoạt động cần thiết và quan trọng, nó cho phép nhà quản
trị biết được về các rủi ro và từ đó mới có thể kiểm soát được chúng. Phân tích rủi ro,
bao gồm: phân tích nguyên nhân (mối nguy hiểm) của rủi ro và các nhân tố ảnh
hưởng.
Nguyên nhân của rủi ro có thể là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ
quan. Nguyên nhân khách quan bao gồm: nguyên nhân từ điều kiện tự nhiên, nguyên
nhân từ môi trường kinh doanh. Còn nguyên nhân chủ quan bao gồm: chính sách quản
Tần suất của tổn thất thể hiện số lượng các tổn thất xảy ra trong một khoảng
thời gian nhất định. Các tổ chức có thể dựa trên các dữ liệu thống kê để xác định tần
suất của tổn thất. Nếu có số mẫu phân tích đủ lớn, có thể xác định xác suất xảy ra của
các tổn thất theo số lượng tổn thất xảy ra trên tổng số mẫu phân tích.
Chi phí của rủi ro/ tổn thất:
Chi phí của rủi ro là toàn bộ những thiệt hại mất mát về người và của trong việc
phòng ngừa, hạn chế rủi ro, bồi thường tổn thất được quy thành tiền. Phân loại theo
biểu hiện của chi phí gồm: chi phí hữu hình, chi phí vô hình. Còn phân loại theo các
biện pháp quản trị rủi ro gồm: chi phí phòng ngừa rủi ro, chi phí khoanh lại/ cách ly rủi
ro, chi phí khắc phục rủi ro, chi phí bồi thường rủi ro/ tổn thất, và chi phí chia sẻ rủi ro
Phương pháp đo lường rủi ro: sử dụng thang đo ảnh hưởng, thang đo khả năng
xảy ra và sắp xếp ưu tiên các rủi ro; sử dụng phương pháp chuyên gia để đo lường các
rủi ro có thể xảy ra. Đo lường rủi ro nhằm xác định các rủi ro cần được ưu tiên kiểm
soát và tài trợ khi cần thiết. Đo lường rủi ro giúp doanh nghiệp nhận rõ các rủi ro có
liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp.
Thang đo ảnh hưởng
Đánh giá Ảnh hưởng tiềm năng
Nghiêm trọng Tất cả các mục tiêu đều không đạt
Nhiều Hầu hết các mục tiêu đều bị ảnh hưởng
Trung bình Một số chỉ tiêu bị ảnh hưởng, cần có sự nỗ lực điều chỉnh
Ít (nhỏ) Cần ít nỗ lực để điều chỉnh các chỉ tiêu
Không đáng kể Ảnh hưởng rất nhỏ, điều chỉnh bình thường
10
Thang đo khả năng xảy ra
Đánh giá Xác suất
Hầu như chắc chắn xảy ra Có thể xảy ra nhiều lần trong một năm
Dễ xảy ra Có thể xảy ra một lần/ năm
Có thể xảy ra Có thể xảy ra trong thời gian 5 năm
Khó xảy ra Có thể xảy ra trong thời gian 5 - 10 năm
Hiếm khi xảy ra Có thể xảy ra sau 10 năm
Né tránh rủi ro:
11
Né tránh rủi ro là việc thực hiện các biện pháp hạn chế hay loại bỏ những nguy
cơ rủi ro đối với hoạt động của tổ chức. Có nhiều cách né trách rủi ro như: chủ động
né tránh bằng cách không thực hiện các hoạt động hoặc né tránh bằng cách loại bỏ
nguyên nhân rủi ro. Né tránh rủi ro có những ưu điểm như: giúp loại bỏ hoàn toàn khả
năng gặp rủi ro/tổn thất, chi phí rẻ. Trong nhiều trường hợp, né tránh rủi ro là biện
pháp duy nhất và cuối cùng có thể áp dụng. Song nó cũng còn hạn chế là không thể
đảm bảo né tránh hoàn toàn các rủi ro. Trong nhiều trường hợp không thể áp dụng né
tránh rủi ro.
Ngăn ngừa rủi ro:
Ngăn ngừa rủi ro là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu số lần xuất hiện
các rủi ro (giảm tần suất của rủi ro). Ngăn ngừa rủi ro tác động vào chính đối tượng bị
rủi ro, tác động vào môi trường (nguy cơ rủi ro và các nhân tố ảnh hưởng).
Giảm thiểu tổn thất:
Giảm thiểu tổn thất là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu những thiệt hại,
mất mát mà rủi ro mang lại (giảm mức độ nghiêm trọng của rủi ro). Giảm thiểu rủi ro
nhằm cứu chữa tài sản/khoanh vùng rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch phòng
chống rủi ro, thực hiện công tác dự phòng.
Chuyển giao rủi ro:
Chuyển giao rủi ro là việc sử dụng các biện pháp tìm các chủ thể khác nhau để
cùng gánh chịu rủi ro. Có nhiều cách chuyển giao rủi ro như: chuyển tài sản/hoạt động
có nguy cơ rủi ro cho người khác, ký kết các hợp đồng chuyển giao rủi ro/chia sẻ trách
nhiệm.
Đa dạng hóa rủi ro:
Đa dạng hóa rủi ro là việc phân chia các rủi ro, các hoạt động thành các dạng
khác nhau, tận dụng sự khác biệt, sử dụng lợi ích từ hoạt động này bù đắp tổn thất của
những hoạt động khác.
1.2.5. Tài trợ rủi ro:
Tài trợ rủi ro là các hoạt động nhằm cung cấp những phương tiện để bù đắp các
vụ được giao; sự phối hợp về công việc giữa các bộ phận trong doanh nghiệp không
được liên kết chặt chẽ; các chính sách về tuyển dụng, khen thưởng, đãi ngộ, sa thải đối
với người lao động không phù hợp… Sự yếu kém này sẽ gây ra những rủi ro, tổn thất
lớn cho doanh nghiệp như: chất lượng sản phẩm không đạt tiêu chuẩn, hàng hoá bị trả
lại, chi phí đào tạo cao…
13
Việc đề ra một chiến lược kinh doanh không phù hợp với điều kiện của doanh
nghiệp hay một chiến lược kinh doanh không hoàn chỉnh sẽ gây ra những hậu quả
nghiêm trọng. Doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại, thua lỗ lớn có thể dẫn đến phá sản. Vì vậy,
ban lãnh đạo doanh nghiệp khi xây dựng chiến lược kinh doanh cần dựa trên cơ sở
khảo sát, phân tích chính xác các điều kiện môi trường bên trong và ngoài doanh
nghiệp để đưa ra chiến lược kinh doanh đúng đắn.
Quản trị rủi ro chỉ có thể thực hiện tốt xuất phát từ quan điểm, nhận thức của
ban lãnh đạo doanh nghiệp. Có những cán bộ hiểu sai về rủi ro và quản trị rủi ro, luôn
né tránh rủi ro, không muốn đối mặt với rủi ro, bởi họ không muốn bị cơ quan cấp trên
phê bình, khiển trách. Nếu doanh nghiệp có những cán bộ quản trị rủi ro như vậy thì
sự phát triển của doanh nghiệp sẽ không theo kịp với xu thế phát triển của nền kinh tế
hiện nay.
Vì vậy, nhận thức và quan điểm của ban lãnh đạo doanh nghiệp là yếu tố tiên
quyết để nâng cao năng lực quản trị rủi ro. Trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng của các
nhà quản trị rủi ro càng cao thì khả năng xảy ra rủi ro và tổn thất càng nhỏ và ngược
lại.
* Sự thiếu thông tin kinh doanh dẫn đến những quyết định sai lầm gây ra rủi ro trong
hoạt động kinh doanh
Để đưa ra được các quyết định đúng đắn, lãnh đạo doanh nghiệp phải dựa trên
các thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời về tình hình thị trường, thông tin sản phẩm,
đối tác kinh doanh, đối thủ cạnh tranh, môi trường kinh doanh trong nước và nước
ngoài…
Sự thiếu thông tin hay có những thông tin không chính xác, sẽ dẫn đến các
quyết định quản lý kinh doanh sai lầm, gây ra rủi ro cho doanh nghiệp.
Nhiều khi hợp đồng thương mại đã ký quy định cụ thể về các điều kiện và thời
gian thanh toán, song người bán hàng đơn phương thay đổi buộc nhà mua hàng phải
thanh toán luôn một lần toàn bộ số tiền hàng, mới nhận được hàng, điều này khiến cho
nhà mua hàng bị động phải vay từ ngân hàng để tài trợ cho việc thanh toán với phần
lãi phải trả. Nếu khoản vay lớn sẽ gây khó khăn trong việc vay vốn và ảnh hưởng đến
khả năng nhận hàng.
Khi nhà cung cấp cố ý giao hàng không phù hợp với hợp đồng, nhưng lại xuất
trình bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp với các điều khoản ký kết của hợp đồng thương
15
mại, hoặc nhà cung cấp lập bộ chứng từ giả mạo (không giao hàng) nhưng ngân hàng
vẫn theo bộ hồ sơ hoàn hảo và buộc phải thanh toán cho người hưởng lợi…
* Các nhân tố từ môi trường bên ngoài
Môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên như hiện nay đang là nơi chứa đựng rất nhiều hiểm hoạ,
nguy cơ rủi ro, tổn thất mang tính toàn cầu. Đó là những rủi ro do các thảm hoạ tự
nhiên như: gió bão, sóng thần, động đất, cháy rừng, tình trạng thời tiết khắc nghiệt đã
gây ra những tổn thất rất lớn cả về người và tài sản.
Mặc dù con người đã có những bước phát triển để nhằm giảm bớt những nguy
cơ đe doạ từ môi trường tự nhiên nhưng các thảm hoạ vẫn xảy ra khá nhiều, đe doạ
cuộc sống của con người, bởi các hiện tượng thiên tai vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát
của con người.
Môi trường chính trị:
Nguyên nhân chủ yếu xảy ra các cuộc xung đột chính trị trên thế giới xuất phát
từ những mâu thuẫn về chính trị, lợi ích kinh tế, về biên giới lãnh thổ… giữa các sắc
tộc, giữa các đảng phái, giữa các tôn giáo, các quốc gia, dân tộc, cộng đồng người rất
khó có thể dung hoà.
Sự ổn định chính trị là điều kiện vô cùng quan trọng đảm bảo cho một quốc gia
phát triển và thịnh vượng. Kinh doanh trong một môi trường chính trị ổn định là điều
kiện cần cho sự thành công của các doanh nghiệp. Với một môi trường chính trị bất
định, doanh nghiệp sẽ luôn gặp phải những rủi ro bất khả kháng không lường trước.
Chương 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÔNG TY TNHH
TM&DV NGA VIỆT GIAI ĐOẠN 2010 - 2012
2.1. Giới thiệu về công ty TNHH TM&DV Nga Việt
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Nga Việt được đăng ký
thành lập vào năm 2003.
Địa chỉ công ty: Số 49 Tôn Đản – Phạm Hồng Thái – Hồng Bàng – Hải Phòng
Số điện thoại / Fax: 0313.838.444 / 0313.831710
Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Nga Việt trải qua hơn 9
năm thành lập và đi vào hoạt động đã đạt được những thành tựu nhất định. Với đội
ngũ cán bộ, công nhân viên có trình độ, chuyên môn cao cộng với sự năng động, nhiệt
tình công ty đã mang tới cho khách hàng các sản phẩm chất lượng cao và dịch vụ hoàn
hảo.
Nắm bắt được xu thế phát triển của quận Hồng Bàng - một trong những quận có
tốc độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa hàng đầu của thành phố Hải Phòng, công ty
TNHH TM&DV Nga Việt đã không ngừng nâng cao về trình độ cũng như số lượng
của cán bộ, công nhân viên.
Hòa chung với tốc độ phát triển của quận Hồng Bàng nói riêng và thành phố
Hải Phòng nói chung, trong tương lai công ty TNHH TM&DV Nga Việt sẽ hứa hẹn là
một doanh nghiệp phát triển vững mạnh.
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty:
* Chức năng:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Nga Việt với chức năng
chính sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn, nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn nhân lực để
từ đó thực hiện kinh doanh và phân phối các sản phẩm điện lạnh, điện tử ,các loại máy
phục vụ cho nhu cầu của xã hội.
Ngoài ra, công ty còn thực hiện chức năng khác là dịch vụ sửa chữa.
18
* Nhiệm vụ:
phận
kho
Trung
tâm sửa
chữa và
dịch vụ
khách
hàng
19
Phòng kinh doanh: Phòng kinh doanh thực hiện chức năng nghiên cứu thị
trường, tìm kiếm khách hàng, phát triển mở rộng thị trường kinh doanh cho công ty.
Họ chịu trách nhiệm lập kế hoạch và thực hiện toàn bộ chiến lược kinh doanh của
công ty như: chương trình quảng cáo, marketing, các kế hoạch kinh doanh của công
ty.Họ giúp cho việc kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao.
Phòng kế toán: Phòng kế toán thực hiện nhiệm vụ lập báo cáo về tình hình tài
chính của công ty, đồng thời kiểm tra các khoản thu, chi trong công ty.
Bộ phận giao nhận: Bộ phận giao nhận thực hiện chức năng nhận hàng hóa từ
kho và đem giao cho khách hàng, báo cáo công tác giao nhận định kỳ.
Bộ phận kho: Bộ phận kho thực hiện chức năng xuất nhập hàng hóa ra vào kho,
sắp xếp và bảo quản hàng hóa ra vào kho.
Trung tâm sửa chữa và dịch vụ khách hàng: Bộ phận này thực hiện chức năng
chăm sóc khách hàng, giải đáp các thắc mắc và tư vấn cho khách hàng về các sản
phẩm của công ty, giải quyết những khiếu nại của khách hàng, thực hiện công tác hậu
mãi.
2.1.4. Ngành nghề kinh doanh của công ty:
Ngành nghề đăng ký kinh doanh của công ty:
+ Kinh doanh, mua bán các sản phẩm điện tử, điện lạnh
+ Dịch vụ sửa chữa các thiết bị, máy móc
20
2.1.5. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty: