Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của công ty TNHH Dược phẩm và Thương Mại Thành Công - Pdf 25

TÓM LƯỢC
Trong điều kiện kinh tế hội nhập như hiện nay, quản trị rủi ro là một hoạt động
vô cùng cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành
sản xuất và kinh doanh dược phẩm. Mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay
gắt gây áp lực cho các doanh nghiệp phải giảm các chi phí lãng phí xuống mức tối
thiểu, trong đó có chi phí gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy, các doanh
nghiệp muốn nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh và đứng vững trên thị trường đòi hỏi phải làm tốt công tác quản trị rủi ro.
Tuy nhiên, ở một phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, việc đầu tư nguồn
lực cho hoạt động quản trị rủi ro không được quan tâm một cách đầy đủ. Hơn nữa hiện
nay có rất ít các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện quản trị rủi ro một cách đồng bộ và
toàn diện dẫn đến thực trạng là các doanh nghiệp không có khả năng kiểm soát các rủi
ro và hạn chế tổn thất hiệu quả nhất. Vì vậy mà đề tài mà em trình bày dưới đây có nội
dung chính là:
Chương 1: Diễn giải một cách cơ bản lý thuyết về rủi ro và hoạt động quản trị
rủi ro của doanh nghiệp.
Chương 2: Đi sâu vào việc phân tích và làm rõ thực trạng công tác quản trị rủi
ro của Công ty TNHH Dược phẩm và thương mại Thành Công. Bằng các phương pháp
thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp và thứ cấp để tìm ra được các kết quả đạt được và
những tồn tại trong công tác quản trị rủi ro của Công ty.
Chương 3: Đưa ra một số đề xuất và kiến nghị hoàn thiện quản trị rủi ro trong
sản xuất và kinh doanh dược phẩm của công ty TNHH Dược phẩm và thương mại
Thành Công như:
Thiết lập bộ phận chuyên trách về quản trị rủi ro
Hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro kinh doanh
Nâng cao công tác vận chuyển, kiểm tra chặt chẽ quá trình giao nhận, dự trữ và
thanh toán tiền hàng.
Kiến nghị về vốn, về nhân lực của Công ty
Kiến nghị về việc nghiên cứu thị trường, xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch
kinh doanh.
i

ty (năm 2010 – 2012).
22
3
Bảng 2.3: Bảng đánh giá mức độ quan trọng của các mắt
28
iii
xích trong quy trình quản trị rủi ro
4
Bảng 2.4: Bảng đánh giá những vấn đề yếu kém của Công
ty hiện nay.
29
5
Bảng 2.5: Tình hình xảy ra rủi ro kinh doanh trong những
năm gần đây.
31
6
Bảng 2.6: Bảng đo lường tổn thất
33
7
Bảng 2.7: Bảng đánh giá rủi ro
34
8
Bảng 3.1: Bảng chỉ tiêu kế hoạch 3 năm 2013 – 2015.
38
.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết vắt Diễn giải
CBCNV Cán bộ công nhân viên
KT - CN Kỹ thuật – Công nghệ
WTO Tổ chức thương mại thế giới

đảm bảo không tồn tại những khu vực không được tiếp cận đánh giá, kiểm soát. Đồng
thời, lãnh đạo doanh nghiệp phải thật sự coi trọng công tác thông tin, tuyên truyền và
đào tạo để xây dựng văn hóa quản lý rủi ro đến mọi đối tượng trong DN. Trong điều
kiện kinh doanh khó khăn như hiện nay, lãnh đạo DN phải chuẩn bị một tâm thế thích
nghi và bản lĩnh ứng phó trước những thay đổi, biến động tiêu cực. Điều đó đang và sẽ
buộc không ít DN phải trả giá đắt cho sự yếu kém về năng lực quản trị rủi ro của mình.
Từ đây, các chủ DN sẽ thấu hiểu được tầm quan trọng của hoạt động quản trị rủi ro,
1
qua đó có sự chuẩn bị thực chất hơn, kỹ lưỡng và bài bản hơn để sẵn sàng đương đầu
với những sóng gió khác trên thương trường.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty TNHH Dược phẩm và
thương mại Thành Công cũng đã chú trọng đến công tác quản trị rủi ro, tuy nhiên nó
chưa thực sự đạt hiệu quả. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro
có ý nghĩa quan trọng đối với các DN hiện nay cũng như công ty TNHH Dược phẩm
và thương mại Thành Công, em chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của
công ty TNHH Dược phẩm và Thương Mại Thành Công”. Qua đây góp phần làm rõ
những mặt đạt được và tồn tại trong công tác quản trị rủi ro tại công ty TNHH Dược
phẩm và thương mại Thành Công.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Trong những năm gần đây, quản trị rủi ro đã và đang ngày càng được quan tâm
và trở thành vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Nhưng câu hỏi đặt ra là
làm thế nào để doanh nghiệp có thể làm tốt được công tác quản trị rủi ro, do vậy số lượng
đề tài nghiên cứu về vấn đề này cũng tương đối lớn. Có thể kể ra một số đề tài như:
Một là: “Hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng cho phát triển kinh tế trang trại trên
địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam của NH Nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam” của Vũ Thị Ngọc, khoa Quản lý kinh tế - Trường Đại học Thương
Mại: 2008. Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Văn Thanh.
Hai là: “Hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro đối với hoạt động
tín dụng tại ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu trong điều kiện kinh tế thị trường
hiện nay” của Nguyễn Thị Minh Thảo, khoa Khoa học kinh tế – trường Đại học

Bài khóa luận sử dụng:
a. Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua sưu tập số liệu phòng kinh doanh,
phòng kế hoạch, phòng kế toán tổng hợp, phòng kỹ thuật. Ngoài ra còn tìm hiểu trong
báo cáo tài chính, kết quả kinh doanh và dựa vào hoạt động nghiên cứu của công ty từ
những năm trước cũng như xem xét, phân tích các số liệu về tăng trưởng kinh tế trên
tạp chí doanh nghiệp thương mại.
+ Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra trắc nghiệm: Đây là phương pháp
thu thập dữ liệu qua phiếu điều tra để điều tra đối tượng là nhân viên.
Phiếu điều tra được chia thành 2 phần:
3
Quan điểm về quản trị rủi ro trong kinh doanh của Công ty.
Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại Công ty.
Phiếu điều tra gồm 10 câu hỏi chủ yếu tập trung để làm rõ quan điểm của
CBCNV trong công ty về rủi ro và công tác quản trị rủi ro tại Công ty. Trong cuộc
điều tra này đã có 10 phiếu điều tra được phát ra và thu về 10/10 phiếu.
- Phương pháp phỏng vấn.
Xây dựng câu hỏi phỏng vấn cho các đối tượng là nhà quản trị để làm rõ các rủi
ro mà Công ty gặp phải trong kinh doanh. Bảng câu hỏi phỏng vấn có 8 câu.
b. Phương pháp xử lý dữ liệu.
Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh rồi
đưa ra kết luận về hoạt động quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh dược phẩm của
Công ty: phân tích số lần xảy ra rủi ro trong các năm, phân tích số liệu thống kê về các
tổn thất qua các năm.
6. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa
luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro của doanh nghiệp.

+ Rủi ro suy đoán (đầu cơ): Rủi ro này tồn tại khi có một cơ hội kiếm lợi nhuận
cũng như một nguy cơ tổn thất, hay nói một cách khác rủi ro khả năng có lợi và tổn
thất có thể xảy ra (rủi ro có đặc tính 2 chiều).
Rủi ro suy đoán bao gồm:
- Rủi ro do thiếu kinh nghiệm và kỹ năng quản lý kinh doanh: ở tầm vĩ mô và vi
mô của các nhà quản trị dẫn đến những thiệt hại lớn về mặt kinh tế.
- Rủi ro do kém khả năng cạnh tranh: rủi ro này có thể gây phá sản cho doanh nghiệp.
5
- Rủi ro do sự thay đổi thị hiếu của khách hàng: rủi ro này bắt nguồn từ sự hạn
chế về marketing dẫn đến hàng hóa sản xuất ra không bán được. Từ đó gây tổn thất về
tài chính của công ty.
- Rủi ro do lạm phát: Rủi ro này là do chi phí đầu vào lớn hơn mức dự kiến, dẫn
đến thu nhập giảm.
- Rủi ro do điều kiện không ổn định của thuế: thuế là một công cụ để điều hành
thu nhập trong nền kinh tế. Nếu không được tính toán kỹ, công ty sẽ dễ bị thua lỗ và
có thể dẫn đến phá sản.
- Rủi ro do thiếu thông tin kinh tế và thiếu kinh nghiệm quản lý: Quyết định sai
lầm trong kinh doanh gây hậu quả tổn thất không lường được.
- Rủi ro tình hình chính trị bất ổn: Rủi ro này là một mối lo ngại đối với các nhà
đầu tư trong và ngoài nước. Khi các chính sách thay đổi có thể dẫn tới thiệt hại về tài
chính cho các nhà đầu tư và cho cả các doanh nghiệp.
b. Phân loại theo khả năng phân tán, chia sẻ.
+ Rủi ro có thể phân tán: Nếu có thể giảm bớt rủi ro thông qua các thỏa hiệp
như đóng góp tài sản, chia sẻ rủi ro cho mọi người cùng gánh chịu.
+ Rủi ro không thể phân tán: Là những thỏa hiệp đóng góp về tiền bạc hoặc
những tài sản của những người tham gia vào quỹ đóng góp chung và nó được sử dụng
khi người tham gia đó có thể giảm bớt được rủi ro như cổ phần hóa doanh nghiệp.
c. Phân loại theo phạm vi ảnh hưởng.
+ Rủi ro cơ bản: bao gồm các thiệt hại thông phàm về nguồn gốc và hậu quả.
Đó là các rủi ro, nguyên nhân của hầu hết các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị. Nó

phát triển. Mỗi một sự thay đổi về các quan niệm sống, quan hệ giữa người và người,
sự bình đẳng giữa nam và nữ, giai cấp…đều có thể là một tiềm năng của rủi ro. Đây
cũng là loại rủi ro vĩ mô vì nó tác động lên toàn xã hội. Loại rủi ro này có thể là:
- Sự thay đổi các quan niệm sống và hành vi của con người trong xã hội.
- Cấu trúc xã hội thay đổi.
- Nền văn hóa của một đất nước.
- Trình độ dân trí.
- Tệ nạn xã hội.
- Chế độ làm việc đối với người lao động, phụ nữ.
- Chính sách phát triển giáo dục và y tế cộng đồng.
+ Rủi ro từ môi trường kinh tế: Rủi ro kinh tế thường bị ảnh hưởng của môi
trường chính trị và ngược lại. Đây là loại rủi ro vĩ mô. Các rủi ro kinh tế bao gồm:
7
- Suy thoái kinh tế: sức mua của các cá nhân giảm làm cho doanh thu của doanh
nghiệp bị giảm.
- Lạm phát.
- Mất khả năng thanh toán do tỷ lệ nợ ngắn hạn lớn hơn mức dự trữ ngoại tệ.
- Dự trữ ngoại tệ nhỏ hơn kim ngạch nhập khẩu.
- Nợ nước ngoài lớn hơn GDP.
+ Rủi ro từ môi trường bên trong của tổ chức: Trong quá trình hoạt động (sản
xuất kinh doanh hay thực hiện dịch vụ ) một tổ chức có thể thực hiện theo quy trình:
tuyển dụng lao động, mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cần thiết, thực hiện
sản xuất hay dịch vụ, bán sản phẩm hoặc dịch vụ, thu tiền về. Quy trình này luôn tồn
tại những rủi ro tiềm năng ở bất cứ công đoạn nào. Các rủi ro này có thể là: tuyển dụng
và sa thải lao động, hư hỏng tài sản vật chất, tai nạn lao động, ô nhiễm môi trường do
thải chất độc làm tổn hại sức khỏe của cộng đồng, kiện tụng do tranh chấp hàng hóa,
kiện tụng do vi phạm hợp đồng kinh tế.
+ Rủi ro từ môi trường KT - CN: thiếu thông tin về sự thay đổi công nghệ.
+ Rủi ro từ môi trường tự nhiên: môi trường xung quanh là môi trường vật chất,
vì vậy nó có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ cuộc sống và sinh hoạt của tổ chức. Các

- Quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu, kết quả kinh doanh như
mong đợi: Có thể coi đây là vấn đề bao trùm nhất, lớn nhất, thành công hay thất bại
cũng dựa vào mục tiêu. Nếu nhà quản trị quản trị rủi ro tốt sẽ giúp doanh nghiệp đạt
được mục tiêu và ngược lại nếu làm không tốt sẽ đem đến hậu quả khó lường.
- Quản trị rủi ro giúp giảm các khoản chi phí trực tiếp và gián tiếp: điều này nói
lên mức độ tổn thất của chi phí đó. Thường các rủi ro xảy ra bất ngờ, không lường hết
được mức độ quan trọng, tổn thất mang tính gián tiếp thường kéo dài, chi phí trực tiếp
ảnh hưởng nhỏ hơn. Do vậy nhà quản trị nên kiểm soát tốt rủi ro, không nên xem nhẹ.
- Quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp nắm bắt hiệu quả các cơ hội kinh doanh: rủi
ro và cơ hội là hai mặt của một vấn đề. Doanh nghiệp thấy được cơ hội cần phải nắm
bắt được cơ hội và phải xử lý được rủi ro.
- Quản trị rủi ro giúp tăng vị thế, uy tín của doanh nghiệp và nhà quản trị: Quản
trị rủi ro tốt, ít sự cố thì doanh nghiệp sẽ tăng sự ổn định, giữ được chiều hướng phát
triển bền vững từ đó tăng độ an toàn, nâng cao vị thế.
- Quản trị rủi ro giúp tăng độ an toàn trong hoạt động của tổ chức.
9
- Quản tri rủi ro là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp thực hiện thành công các
hoạt động kinh doanh mạo hiểm: trong kinh doanh thường rủi ro càng cao thì lợi
nhuận càng lớn. Do vậy doanh nghiệp muốn tạo đột phá phải biết mạo hiểm nhưng
mạo hiểm không đồng nghĩa với liều lĩnh. Mạo hiểm phải dựa trên quản trị rủi ro, nhà
quản trị phải hiểu rõ để kiểm soát tình hình.
1.2. Nội dung quản trị rủi ro của doanh nghiệp.
1.2.1. Nhận dạng rủi ro.
Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1.1. Nội dung nhận dạng rủi ro.
Nhận dạng rủi ro nhằm tìm kiếm các thông tin về: tên và loại rủi ro, các mối
hiểm họa, các mối nguy hiểm, nguy cơ rủi ro.
- Mối hiểm họa: là các điều kiện tạo ra hoặc làm tăng khả năng xảy ra hay tăng
mức độ nghiêm trọng của rủi ro.

- Phương pháp dựa trên các báo cáo tài chính: A.H Cridle sử dụng lần đầu tiên
vào năm 1962 . Thông qua việc phân tích các báo cáo tài chính, nhà quản trị có thể
nhận dạng được các rủi ro, trước hết là các rủi ro tài sản cũng như các rủi ro khác.
- Phương pháp lưu đồ: Nhà quản trị xây dựng các lưu đồ về hoạt động kinh
doanh trong những điều kiện cụ thể, từ đó nhận dạng các rủi ro có thể phát sinh trong
từng bước, từng giai đoạn hoạt động (xác định trong mỗi bước có những rủi ro gì?
Chúng có những điểm chung và riêng gì ?).
- Phương pháp thanh tra hiện trường: thông qua việc quan sát, cảm nhận, đánh giá
trực tiếp của các bộ phận, các cá nhân, nhà quản trị nhận dạng các rủi ro có thể xảy ra.
- Phương pháp dựa trên các số liệu thống kê: thông qua việc tham khảo hồ sơ
lưu trữ về các tổn thất trong kinh doanh, nhà quản trị có thể dự báo các rủi ro có thể
xảy ra trong tương lai.
1.2.2. Phân tích rủi ro.
Phân tích rủi ro là một hoạt động cần thiết và quan trọng, nó cho phép nhà quản
trị biết được về các rủi ro và từ đó mới có thể kiểm soát được chúng.
1.2.2.1. Nội dung phân tích.
+ Phân tích nguyên nhân (mối nguy hiểm) của rủi ro:
- Nguyên nhân khách quan:
Nguyên nhân từ điều kiện tự nhiên: thiên tai bão lũ…
11
Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh: đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách
hàng…
- Nguyên nhân chủ quan:
Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô sai lầm, chính trị không ổn định, hệ thống
pháp luật thay đổi.
Sai lầm của tổ chức, doanh nghiệp về chiến lược kinh doanh.
Sai lầm trong việc lựa chọn chính sách, cơ chế quản lý của tổ chức.
Thiếu thông tin quản trị.
Thiếu kiến thức kinh nghiệm trong kinh doanh.
Do sơ xuất, bất cẩn, chủ quan hay mất tập trung trong hoạt động của doanh nghiệp.

rủi ro, so sánh định tính, so sánh từng cặp để sau đó tổng hợp và cho điểm.
1.2.3. Đo lường rủi ro.
+ Có độ tin cậy cao: dựa vào công cụ đo, người đo phải có thẩm quyền trách
nhiệm và có trình độ chuyên môn.
+ Có tính hữu ích.
+ Đảm báo tính hệ thống.
+ Tiết kiệm.
1.2.3.1. Các chỉ tiêu đo lường.
+ Mức độ nghiêm trọng của rủi ro/ tổn thất: mức độ nghiêm trọng của tổn thất
xác định mức độ, quy mô của tổn thất xảy ra. Thông thường người ta xác định sự
nghiêm trọng của tổn thất bằng cách lấy trung bình giá trị thiệt hại của các tổn thất khi
xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định.
Đơn vị đo là tiền. Mức độ nghiêm trọng của tổn thất xảy ra các lần khác nhau
thì giá trị lại khác nhau. Tùy từng doanh nghiệp mà họ chấp nhận mức độ khác nhau
dựa vào khả năng tài chính của doanh nghiệp.
+ Tần suất của rủi ro/ tổn thất: Tần suất của tổn thất thể hiện số lượng các tổn
thất xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định. Các tổ chức có thể dựa trên các dữ
liệu thống kê để xác định tần suất của tổn thất. Nếu có số mẫu phân tích đủ lớn, có thể
xác định xác suất xảy ra của các tổn thất theo số lượng tổn thất xảy ra trên tổng số mẫu
phân tích. Tần suất của rủi ro cao hay thấp do đặc thù của công việc. Tần suất cao thì
mức độ nghiêm trọng thấp và ngược lại tần suất thấp thì mức độ nghiêm trọng cao. Sẽ
không có những rủi ro mà cả tần suất và mức độ nghiêm trọng đều cao.
13
+ Chi phí của rủi ro/ tổn thất: là toàn bộ những thiệt hại mất mát về người và
của cải trong việc phòng ngừa, hạn chế rủi ro, bồi thường tổn thất được quy thành tiền.
Phân loại chi phí của rủi ro / tổn thất bao gồm:
- Phân loại theo biểu hiện của chi phí: chi phí hữu hình và chi phí vô hình.
- Phân loại theo các biện pháp quản trị rủi ro: chi phí phòng ngừa rủi ro, chi phí
khoanh lại/ cách ly rủi ro, chi phí khắc phục rủi ro, chi phí bồi thường rủi ro/ tổn thất,
chi phí chia sẻ rủi ro.

các rủi ro (giảm tần suất của rủi ro). Tác động vào chính đối tượng bị rủi ro; tác động
vào môi trường (nguy cơ rủi ro và các nhân tố ảnh hưởng).
- Giảm thiểu tổn thất: là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu những thiệt
hại mất mát mà rủi ro mang lại (giảm mức độ nghiêm trọng của rủi ro) bằng việc: cứu
chữa tài sản/ khoanh vùng rủi ro; xây dựng và triển khai kế hoạch phòng chống rủi ro;
thực hiện công tác dự phòng.
- Chuyển giao rủi ro: là việc sử dụng các biện pháp tìm các chủ thể khác nhau
để cùng gánh chịu rủi ro. Thực hiện bằng việc chuyển tài sản/ hoạt động có nguy cơ
rủi ro cho người khác; ký kết các hợp đồng chuyển giao rủi ro/ chia sẻ trách nhiệm.
- Đa dạng hóa rủi ro: là việc phân chia các rủi ro, các hoạt động thành các dạng
khác nhau, tận dụng sự khác biệt, sử dụng lợi ích từ hoạt động này bù đắp tổn thất của
những hoạt động khác.
1.2.5. Tài trợ rủi ro.
Là các hoạt động nhằm cung cấp những phương tiện để bù đắp các tổn thất khi
rủi ro xảy ra. Doanh nghiệp không thể chỉ thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro, mà
còn phải thực hiện tài trợ rủi ro. Mặc dù, có những nỗ lực nhất định đối với kiểm soát
rủi ro của các nhà quản trị nhưng những tổn thất vẫn xuất hiện. Vì vậy đòi hỏi có
những phương tiện để bù đắp nó và trên thực tế không bao giờ kiểm soát hết rủi ro.
+ Các biện pháp tài trợ rủi ro:
- Tự khắc phục rủi ro: là biện pháp cá nhân/ doanh nghiệp bị rủi ro, tự thanh
toán các chi phí tổn thất.
Tự khắc phục rủi ro chủ động: nhà quản trị nhận dạng được rủi ro, đánh giá
được mức độ tổn thất họ sẽ chủ động xây dựng các biện pháp phòng ngừa có kế hoạch
tài trợ.
Tự khắc phục rủi ro bị động: trong điều kiện nhà quản trị không nhận dạng
được rủi ro, không đo lường được mức độ rủi ro, không cố gắng xử lý các rủi ro. Khi
đó các biện pháp tự tài trợ sẽ mang tính bị động.
15
Nội dung thực hiện tự khắc phục rủi ro: xác định mức tự khắc phục; thực hiện
các hoạt động tự bảo hiểm; chi trả cho các tổn thất.

16
dẫn đến suy giảm sự phát triển và kết quả kinh doanh. Nhóm nhân tố kinh tế bao gồm:
sự biến động của chu kỳ kinh doanh, tài chính, tiền tệ, sự mất cân bằng cung – cầu, giá
cả, lạm phát, tình hình cạnh tranh…
+ Nhóm nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên.
Thế giới tự nhiên xung quanh chúng ta là một thế giới đầy bất trắc, bởi những
hiện tượng thiên tai như bão lụt, gió xoáy, động đất…Những rủi ro do những điều kiện
tự nhiên gây ra đang có xu hướng ngày càng gia tăng và là mối lo ngại của toàn nhân loại.
+ Nhóm nhân tố thuộc điều kiện kỹ thuật công nghệ.
Kỹ thuật là nhân tố nền tảng quyết định sản xuất, quyết định tăng năng xuất lao
động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Khoa học kỹ thuật phát triển nhằm để
phòng chống, hạn chế những rủi ro, chế ngự thiên nhiên, chống lại bệnh tật …nhưng
xét theo khía cạnh khác, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng tạo ra những loại rủi
ro mới trong cuộc sống. Mặt khác, trong kinh doanh, đôi khi khoa học kỹ thuật mới ra
đời và nhanh chóng được áp dụng sẽ là nguy cơ rủi ro trong đầu tư cho nhiều doanh
nghiệp đang áp dụng những kỹ thuật cũ.
+ Nhóm nhân tố thuộc điều kiện xã hội.
Trong kinh doanh không thể không đề cập đến môi trường xã hội, nếu như
thiếu hiểu biết về các vấn đề xã hội như: các mối quan hệ xã hội, tôn giáo, văn hóa,
phong tục tập quán…của từng địa phương mà doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh
sẽ phải đối mặt với nhiều bất trắc và rủi ro.
1.3.2. Nhóm nhân tố thuộc về môi trường bên trong.
Tác động của các nhân tố chủ quan tới quản trị rủi ro trong hoạt động kinh
doanh chính là sự ảnh hưởng của các nguồn lực bên trong doanh nghiệp bao gồm khả
năng tài chính, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, ban lãnh đạo DN.
+ Tình hình tài chính: Đây là yếu tố vô cùng quan trọng với doanh nghiệp, nó
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh doanh nghiệp. Tình hình tài chính yếu
sẽ khiến cho doanh nghiệp khi mua hàng bị ép giá bởi các nhà cung cấp, không có
được nhà cung cấp có chất lượng,
Ngoài ra tình hình tài chính còn ảnh hưởng tới ngân sách dành cho quản trị rủi ro

Thành Công.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Tên gọi : Công ty TNHH Dược phẩm và Thương mại Thành Công
Tên giao dịch quốc tế : TC Pharma.
Địa chỉ : Km 6 + 200, quốc lộ 38, Hạp Lĩnh, TP Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh
Điện thoại : 04.38560 948 Fax : 04.35146 344
Email : [email protected] Website: www.tcpharma.vn
Mã số thuế : 0100234851-005
Được thành lập năm 1993, tiền thân là công ty TNHH Dược phẩm Thành Công
chuyên kinh doanh các mặt hàng dược phẩm chữa bệnh cho người, TC pharma đã có
một vị trí uy tín nhất định trên thị trường với các dòng sản phẩm đến từ các quốc gia
có ngành công nghiệp sản xuất Dược phẩm nổi tiếng trên thể giới: Pháp, Hà Lan, Mỹ,
Thuỵ Điển, Hàn quốc, Thái Lan và Ấn Độ.
Từ năm 1999, song song với việc kinh doanh hàng Dược phẩm nhập khẩu,
Công ty tiến hành tham gia nghiên cứu một lĩnh vực mới: Sản xuất dược liệu, dược
phẩm, Thực phẩm chức năng. Các dòng sản phẩm được đưa ra thị trường đã thu về kết
quả khả quan, đặt nền móng cho việc phát triển quy mô, bài bản một mô hình sản xuất
tiên tiến, hiện đại.
Năm 2003, Công ty chính thức đi vào hoạt động.
2.1.2. Chức năng , nhiệm vụ của Công ty.
+ Chức năng:
Công ty sản xuất các sản phẩm thuốc đông và tây y: Good man New, Q-
thymodulin, khang linh đơn, Meraginp, Calci floode Calci Plus, Samin M50, Zinc Glu…
Sản xuất thuốc hóa dược, dược liệu, dược phẩm , thực phẩm chức năng, mỹ phẩm.
Sản xuất trang thiết bị Y tế
Kinh doanh và phân phối dược phẩm, dược liệu và nguyên liệu làm thuốc và
các sản phẩm thuốc tây y nhập khẩu.
+ Nhiệm vụ:
Thu mua dược liệu, nguyên phụ liệu, hóa chất phục vụ cho việc sản xuất của Công ty .
19

kế
toán
tài
chính
Phòng
điều
hành
sản
xuất
Bộ
phận
sản
xuất
Phòng
kiểm
tra chất
lượng
Phòng cơ
điện
Phân xưởng bào
chế tổng
hợp(xưởng
GMP)
Phân
xưởng
đông dược


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status