I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KINH T
PHAN TH QUNH TM
QUảN Lý THUế THU NHậP DOANH NGHIệP
TRÊN ĐịA BàN Hà TĩNH
LUN VN THC S QUN Lí KINH T
CHNG TRèNH NH HNG THC HNH
H Ni 2014 I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KINH T
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ
THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 9
1.1. Một số vấn đề chung về thuế 9
1.1.1. Khái niệm và bản chất của thuế 9
1.1.2. Các cách phân loại thuế 13
1.2. Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 14
1.2.1. Các khái niệm liên quan đến quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 14
1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 16
1.2.3. Nội dung quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 19
1.2.4. Tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp . 28
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 32
1.3. Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp ở một số địa phương và bài học cho Cục
thuế Hà Tĩnh 37
1.3.1. Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại một số địa phương 37
1.3.2. Bài học cho Cục thuế Hà Tĩnh 40
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH 43
2.1. Khái quát sự phát triển các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Hà Tĩnh 43
2.1.1. Quy mô và cơ cấu doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Hà Tĩnh 43
2.1.2. Một số kết quả kinh doanh chủ yếu 46
2.2. Phân tích thực trạng hoạt động quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại tỉnh
Hà Tĩnh 2009-2012 48
2.2.1. Quản lý lĩnh vực lập kế hoạch thu thuế TNDN 48
2.2.2. Quản lý lĩnh vực đăng ký, khai và xử lý tính thuế 49
2.2.3. Quản lý lĩnh vực thanh tra, kiểm tra người nộp thuế TNDN 56
2.2.4. Quản lý lĩnh vực tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế 60
2.2.5. Quản lý lĩnh vực nợ và cưỡng chế nợ thuế. 63
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
CNTT
Công nghệ thông tin
2
DN
Doanh nghiệp
3
ĐKKD
Đăng ký kinh doanh
4
NSNN
Ngân sách nhà nước
5
QLT
Quản lý thuế
6
SXKD
Sản xuất kinh doanh
7
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
8
WTO
World Trade Organization (Tổ chức Thương mại
3
Bảng 2.3
Tình hình đăng ký và kê khai thuế của các
doanh nghiệp từ năm 2009 đến năm 2012
50
4
Bảng 2. 4
Thống kê tình hình nộp tờ khai thuế TNDN
52
5
Bảng 2.5
Kết quả thu thuế TNDN trên địa bàn
53
6
Bảng 2.6
Cơ cấu thuế TNDN trên địa bàn
54
7
Bảng 2.7
Kết quả thu thuế TNDN theo đơn vị quản lý thu
55
8
Bảng 2.8
Kết quả kiểm tra tại trụ sở DN
59
9
Bảng 2.9
Kết quả thanh tra qua các năm 2009-2012
60
10
2012
44
2
Biểu đồ 2.2
Quy mô vốn doanh nghiệp từ năm 2009 đến
năm 2012
44
3
Biểu đồ 2.3
Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp từ
năm 2009 đến năm 2012
48 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện mục tiêu đưa nước ta về cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Việt Nam cần có một lượng vốn
đầu tư rất lớn. Lượng vốn đó có thể được huy động từ nhiều nguồn, trong đó
thuế là một nguồn quan trọng, bởi nó vừa mang tính cơ bản vừa mang tính
bền vững lâu dài. Tại Việt Nam, mức thu từ thuế hàng năm thường chiếm
khoảng 90% tổng nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN), vậy nên, nếu
không bao quát được các nguồn thu sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách, theo đó
các khoản chi cho đầu tư phát triển cũng sẽ sụt giảm, và tốc độ tăng trưởng
kinh tế tất yếu sẽ bị chậm lại.
Thuế thu nhập doanh nghiệp(TNDN) là một loại thuế trực thu đánh vào
nguyên tắc hoạch định chính sách thuế TNDN và đặc biệt luận văn đã đi
sâu vào nghiên cứu chính sách thuế TNDN ở một số nước trên thến giới như:
Indonesia, Malaixia, Thai Land, Singapore. Bên cạnh đó luận văn đã đi sâu
đánh giá thực trạng về vấn đề này tại Việt Nam trong 5 năm 1999 – 2004.
Điểm nổi bật trong việc đánh giá thực trạng là tác giả đã phân tích và chỉ ra
được những hạn chế cơ bản của thuế TNDN hiện hành và chỉ rõ nguyên nhân
của những hạn chế đó để từ đó đề xuất một số nhóm giải pháp có tính hệ
thống để hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam đến năm 2020.
Các nhóm giải pháp cụ thể mà tác giả đã đưa ra bao gồm: nhóm giải pháp về
loại hình doanh nghiệp; nhóm giải pháp về đối tượng nộp thuế TNDN; nhóm
giải pháp về căn cứ tính thuế TNDN; nhóm giải pháp về thuế suất thuế
TNDN; nhóm giải pháp về xác định các khoản chi phí hợp lý; nhóm giải pháp
về vấn đề chống chuyển giá và cuối cùng là nhóm giải pháp về đổi mới công
tác quản lý thuế.
3
- Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế của Việt Nam trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế, luận văn thạc sỹ kinh tế của Mai Đình Lâm, Trường Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện năm 2006. Luận văn đã xây
dựng cơ sở lý luận về hệ thống chính sách thuế của Việt Nam trong thời kỳ
hội nhập kinh tế quốc tế và kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ
thống thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng cho phù hợp với thông lệ quốc
tế. Điểm nổi bật nhất của luận văn chính là việc tác giả đã "đi tắt, đón đầu"
được xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam như là một tất yếu khách
quan, chính vì vậy việc rà soát lại hệ thống chính sách thuế của Việt Nam để
hoàn thiện nó là một việc mang tính quyết định đối với sự phát triển kinh tế
của Việt nam trong thời kỳ hội nhập. Đặc biệt, trong phân tích thực trạng của
hệ thống chính sách thuế của Việt Nam tác giả đã nêu ra được những điểm
chưa phù hợp giữa pháp luật thuế của Việt Nam với những quy định của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) và những bất cập của hệ thống như: từng
thực trạng qua các thời kỳ cải cách chính sách thuế thu nhập là một điểm mới
của luận văn, nó giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về chính sách thuế
thu nhập để từ đó có thể hoàn thiện chính sách thuế thu nhập theo hướng vừa
kế thừa, vừa phát triển. Đồng thời luận văn cũng đã tham khảo thuế thu nhập
ở một số nước trên thế giới như: Trung Quốc, Singapor, Thái Lan để từ đó
đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện thuế thu nhập ở Việt Nam trong điều kiện
hội nhập WTO.
- Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam (qua
nghiên cứu thực tiễn Cục Thuế tỉnh Nghệ An), luận văn thạc sĩ của Trần Thị Ánh
Tuyết, Trường Đại học kinh tế Quốc Dân, năm 2010; Đề tài tập trung phân tích,
đánh giá thực trạng việc áp dụng thuế TNDN trên địa bàn Tỉnh Nghệ An từ năm
2008 đến năm 2010. Từ đó đưa ra những vấn đề cần hoàn thiện đối với cơ chế
5
quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế Việt
Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế Quốc tế. Tác giả đã đưa ra hai nhóm giải
pháp chính đó là: Hoàn thiện văn bản chính sách về QLT TNDN: Hoàn thiện bộ
máy phù hợp mục tiêu QLT. Bên cạnh đó tác giả còn đưa ra những kiến nghị với
Quốc hội như: Thực hiện giảm mức thuế suất chung theo lộ trình phù hợp để thu
hút đầu tư, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời đảm bảo nguồn thu cho
NSNN; Đơn giản hoá chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực; Bổ
sung quy định để bao quát được các hoạt động kinh tế mới phát sinh trong kinh
tế thị trường hội nhập, phù hợp với thông lệ quốc tế. Đề nghị bổ sung thêm chức
năng điều tra hành chính về thuế; Đề nghị sửa đổi về điều kiện gia hạn nộp thuế;
Sửa đổi các biện pháp cưỡng chế theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan
QLT khi thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả cao hơn
Các đề tài trên đã đề cập ở mức độ nhất định về quản lý thuế nói chung
và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng, nhưng cũng chưa có công
trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, nhất là với tư cách một
luận văn thạc sĩ, hay tiến sĩ về vấn đề quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên
14/2008/QH12 có hiệu lực thi hành thay thế Luật Thuế thu nhập doanh
nghiệp số 09/2003/QH11 (năm 2009) đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp chung
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử và các Chủ trương, Đường lối, Chính sách của Đảng
và Nhà Nước để nghiên cứu.
Luận văn đi từ nguyên lý chung về cơ chế QLT TNDN đến thực tiễn
kết quả vận dụng cơ chế QLT TNDN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong khoảng
7
thời gian 2009 đến 2012, từ đó đề ra yêu cầu phải có những giải pháp nhằm
hoàn thiện cơ chế QLT TNDN.
5.2. Phương pháp cụ thể
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, hệ thống.
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích từ những số liệu tập hợp
được từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế
thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh. Đồng thời luận văn sử dụng
phương pháp lôgic trong việc hệ thống hóa các yếu tố và đưa ra giải pháp
phù hợp.
Luận văn cũng kế thừa và sử dụng có chọn lọc một số đề xuất và các
số liệu thống kê trong một số công trình nghiên cứu liên quan của các tác
giả đi trước.
Dựa trên các tài liệu, báo cáo tổng kết hàng năm về công tác thu và
quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp của Cục thuế Hà tĩnh và của Tổng cục
thuế qua các năm từ năm 2009 đến nay.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Kế thừa các công trình nghiên cứu trong nước, luận văn có những đóng
góp sau:
9
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề chung về thuế
1.1.1. Khái niệm và bản chất của thuế
1.1.1.1. Khái niệm
Thuế là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính được biết đến gần
như cùng một lúc với sự ra đời, tồn tại và phát triển của phạm trù Nhà nước.
Theo Mác thì “thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn
đơn giản dể kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào
việc chi tiêu của Nhà nước”[27] và theo Angghen thì “để duy trì quyền lực
công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế
má”[2] Quan niệm về thuế của Mác và Angghen cho thấy hai ông thấy rõ
và nhấn mạnh khía cạnh công dụng của thuế khóa. Còn Lênin thì cho rằng
“thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu
thành nên phần thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai
và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu
nhập của người chịu thuế”[29].
việc đảm bảo ổn định nguồn thu NSNN và thực hiện phân phối thu nhập. Mức
thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế TNDN là
khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu
đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử
nhất định.
Xuất phát từ yêu cầu phải quản lý các hoạt động đầu tư và kinh doanh
11
trong từng thời kỳ nhất định, thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, đối
tượng chịu thuế, sử dụng thuế suất và ưu đãi thuế TNDN, Nhà nước thực hiện
các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô.
Ở Việt Nam, Luật thuế TNDN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.
Cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990, Luật thuế lợi tức
đã được ban hành. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần
bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt
Nam trong giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, Luật thuế TNDN đã được ban hành
nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai
đoạn mới.
Nhƣ vậy, có thể hiểu:
Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các
doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh hay nó là loại thuế tính trên thu nhập của
doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ.
1.1.1.2. Bản chất của thuế
Thuế do Quốc hội lập ra dưới hình thức một đạo luật – là hình thức
văn bản có tính pháp lý cao nhất do cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan lập
pháp đặt ra. Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn
phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta
phương tiện vật chất chủ yếu để duy trì quyền lực nhà nước. Thuế là một công
cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của
nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật.
13
* Bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ nhất, thuế TNDN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNDN là
các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
đồng thời cũng là “người” chịu thuế.
Thứ hai, thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp hoặc các nhà đầu tư. Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập
chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi
nhuận mới phải nộp thuế TNDN.
Thứ ba, thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân. Thu
nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần, lãi
tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết là phần thu
nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN. Do vậy, thuế TNDN cũng có thể coi
là một biện pháp quản lý thu nhập cá nhân.
1.1.2. Các cách phân loại thuế
1.2.1.1. Phân loại theo tính chất chuyển dịch về thuế
Bao gồm thuế gián thu và thuế trực thu để phân biệt đối tượng chịu thuế.
a. Thuế gián thu
Thuế gián thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là
người chịu thuế. Thuế gián thu là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận
cấu thành trong giá mua hàng hoá, nhằm động viên sự đóng góp của người
tiêu dùng. Thực chất người tiêu dùng phải trả khoản thuế đó nhưng lại nộp
thông qua nhà kinh doanh, nhà sản xuất, như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu…
b. Thuế trực thu
Thuế trực thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là
15
và bộ máy quản lý hành chính thuế (Quản lý hành chính thuế được hiểu là
chức năng, là hoạt động quản lý của cơ quan QLT đối với các thực hiện nghĩa
vụ thuế của người nộp thuế và được thực hiện bằng phương pháp hành chính)
Quản lý thuế là một nội dung quan trọng cuả công tác quản lý tài chính
Nhà nước. Quản lý thuế không thể tách rời quản lý Nhà nước nói chung và
quản lý Nhà nước vế kinh tế nói riêng.
1.2.1.2. Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Quản lý thuế TNDN là một một nội dung cơ bản và quan trọng của công
tác quản lý thuế. Vì vậy, về cơ bản cách hiểu về quản lý thuế đã nêu ở phần
trên cũng là cách hiểu về quản lý thuế TNDN. Tuy nhiên, quản lý thuế TNDN
có những nét đặc thù riêng như sau:
Chủ thể thực thi các giải pháp thu thuế là các cơ quan thuế từ Trung
ương đến địa phương. Các cơ quan thuế được Nhà nước giao trách nhiệm
chính cho việc tổ chức quản lý thu thuế. Cần phải có sự phối kết hợp giữa các
ban, ngành chức năng để quản lý thu thuế một cách hiệu quả nhất.
Đối tượng chịu sự quản lý là các doanh nghiệp có các hoạt động kinh tế
thuộc diện điều chỉnh của Luật quản lý thuế và các luật thuế. Quá trình tổ
chức và thực thi các giải pháp thu thuế là rất phức tạp, đa dạng và phong phú.
Các giải pháp đó không đơn thuần là các giải pháp hành chính, cưỡng chế mà
các giải pháp đó phải kết hợp giữa mệnh lệnh hành chính, tuyên truyền giải
thích, khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần.
Quản lý thuế TNDN được quy định bằng pháp luật nên các cơ quan
thuế không thể tuỳ tiện đề ra các biện pháp quản lý thu thuế trái ngược với
quy định của pháp luật. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là thủ tiêu tính
sáng tạo của từng cơ quan thuế trong việc tìm tòi các giải pháp cụ thể, miễn là
các giải pháp đó không trái với những quy định chung toàn ngành và phù hợp
với đặc thù sản xuất kinh doanh (SXKD) ở địa phương.
17
Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của NSNN. Điều này thể hiện ở
phạm vi áp dụng thuế TNDN rất rộng rãi, bao gồm mọi cơ sở kinh doanh có
thu nhập. Mặt khác, cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các
hoạt động kinh tế ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng
cao sẽ tạo ra nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN.
1.2.2.2. Do yêu cầu điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Thuế TNDN là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái
phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.
Như trên đã nói, thuế không chỉ đem lại nguồn thu ngân sách phục vụ
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà còn là công cụ để Nhà nước điều tiết các
hoạt động kinh tế và phân phối lại thu nhập. Vì vậy, thuế có vai trò to lớn
trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Vai trò của thuế trong nền
kinh tế được phát huy tốt nhất chính là nhờ vào việc hoạch định chính sách
thuế hợp lý và tổ chức quản lý thuế có hiệu quả. Ngược lại, sự yếu kém trong
công tác quản lý thuế sẽ làm cho thuế không thể hiện được vai trò, chức năng
tích cực vốn có của nó.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần
kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trên cơ sở pháp luật. Các
doanh nghiệp với lực lượng lao động có tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh
thì doanh nghiệp đó sẽ có ưu thế và có cơ hội để nhận được thu nhập cao;
ngược lại các doanh nghiệp với năng lực tài chính, lực lượng lao động bị hạn
chế sẽ nhận được thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập. Ðể hạn chế
nhược điểm đó, Nhà nước sử dụng thuế TNDN làm công cụ điều tiết thu nhập
của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể
kinh doanh vào NSNN được công bằng, hợp lý.
Thuế TNDN được tính trên số thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi tất cả
những khoản chi phí hợp lý theo quy định với thuế suất ổn định cho nên
18