ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHẠM THỊ HUYỀN Sö DôNG NGUåN NH¢N LùC CHÊT L¦îNG CAO
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Thị Hồng Điệp
HÀ NỘI - 2013
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của TS. Lê Thị Hồng Điệp.
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính
khách quan, khoa học. Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2013.
Tác giả luận văn
STT
Số
hiệu
Tên bảng
Trang
1
2.1
Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chia theo
trình độ chuyên môn kỹ thuật thời kỳ 2007-2010
39
2
2.2
Thực trạng chuyển dịch lao động từ khu vực Nhà
nước sang tư nhân tại một số tỉnh, thành, bộ, ngành ở
Việt Nam (từ 2005-2010)
50
3
2.3
Tỷ lệ lao động xin thôi việc so với tổng số lao động
hiện có trong khu vực nhà nước ở một số địa phương
52
4
2.4
Trình độ chuyên môn của lao động trong khu vực nhà
nước xin nghỉ việc ở một số tỉnh, bộ, ngành
53
5
2.5
Cơ cấu lứa tuổi của nhóm lao động xin nghỉ việc tại
một số bộ, ngành, địa phương
Danh mục các bảng ii
MỞ ĐẦU 0
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC
TIỄN VỀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO 8
1.1. Những vấn đề lý luận về sử dụng nguồn nhân lực chất lƣợng cao 8
1.1.1. Các khái niệm 8
1.1.2. Nội dung của sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao 14
1.2. Kinh nghiệm thực tiễn của một số nƣớc về sử dụng nguồn nhân lực
chất lƣợng cao 24
1.2.1. Kinh nghiệm thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng
cao của Mỹ 24
1.2.2. Kinh nghiệm thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng
cao của Singapore 27
1.2.3. Kinh nghiệm thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng
cao của Trung Quốc 32
1.2.4. Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 36
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƢỢNG CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 38
2.1. Khái quát về nguồn nhân lực chất lƣợng cao Việt Nam 38
2.2. Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở Việt Nam
hiện nay 41
2.2.1. Thực trạng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao 41
2.2.2. Tình hình sử dụng (bao gồm bố trí công việc, thực hiện chính sách
lương, thưởng và bổ nhiệm) nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt
Nam 55
4
2.2.3. Tình hình trọng dụng, đãi ngộ nhân lực chất lượng cao và đội
ngũ nhân tài ở Việt Nam hiện nay 60
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, nhờ sự phát triển như vũ bão của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nền kinh tế thế giới đang có sự chuyển
mình mạnh mẽ. Nhân loại đang từng bước đi vào sử dụng tri thức cho phát
triển, và xu hướng hình thành nền kinh tế tri thức là một xu thế phát triển kinh
tế chủ yếu của thời đại ngày nay.Tri thức, trí tuệ trở thành nguồn gốc và sức
mạnh quan trọng nhất quyết định trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn
nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) là chìa khóa chiếm lĩnh những đỉnh cao
của khoa học, công nghệ, và được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết
định sự thành bại của bất kỳ quốc gia nào.
Ở Việt Nam, vấn đề phát triển nguồn nhân lực, nhất là NNLCLC phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước là một
trong ba khâu đột phá quan trọng được Đảng ta đề ra tại Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Theo đó, NNLCLC là nhân tố giữ vai trò trung
tâm, là một trong ba yếu tố quan trọng nhất chi phối việc thực hiện các bước
phát triển đột phá khác. Phát triển NNLCLC phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,
trong đó, hai yếu tố tác động trực tiếp và quan trọng nhất tới quá trình này, đó
là đào tạo và sử dụng. Nếu như đào tạo giúp cho NNLCLC hội đủ những tố
chất cần thiết của lực lượng tiên phong thì sử dụng chính là quá trình làm cho
những tố chất đó phát huy và mang lại hiệu quả trong công việc. Tuy nhiên,
hiện nay, những nghiên cứu về phát triển NNLCLC thường chú trọng và tập
trung vào vấn đề đào tạo, chưa chú ý đúng mức tới tầm quan trọng của vấn đề
sử dụng NNLCLC. Vì vậy, đề tài: Sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao ở
Việt Nam hiện nay là một nghiên cứu cần thiết
Bên cạnh đó, việc sử dụng NNLCLC ở nước ta đang đặt ra rất nhiều
vấn đề cần phải giải quyết. Theo Bộ Giáo dục và đào tạo, hằng năm cả nước
2
có khoảng gần 319 nghìn sinh viên đại học, cao đẳng và hơn 15 nghìn học
viên cao học, nghiên cứu sinh tốt nghiệp ra trường. Đây là nguồn nhân lực dồi
chính thức đưa vào Văn kiện của Đại hội thì nghiên cứu về nhân tài, về đội
ngũ trí thức, về đội ngũ các nhà khoa học, về đội ngũ doanh nhân…càng
mang tính thời sự và luôn là chủ đề đươc quan tâm. Có nhiều bài viết, nhiều
luận văn, luận án và những nghiên cứu khoa học về vấn đề này.
Các công trình nghiên cứu trong nước
Vấn đề sử dụng NNLCLC thường là một trong số những nội dung được
đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực CLC
nói chung. Tiêu biểu có các công trình sau: “Phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn
Trịnh Kiểm, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 9/2007; “Phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Phạm
Thị Khanh, Tạp chí Lao động và xã hội, số 325/2007; “Nguồn nhân lực chất
lượng cao – lý luận và thực tiễn” của tác giả Vũ Thị Phương Mai, Tạp chí Lao
động và xã hội, số 308/2007.
Có nhiều công trình không trực tiếp nghiên cứu vấn đề sử dụng nguồn
nhân lực CLC nhưng lại tập trung làm nổi bật một nội dung quan trọng trong
quá trình sử dụng nguồn nhân lực CLC, đó là việc trọng dụng nhân tài. Các
công trình tiêu biểu như: TS. Lương Gia Ban (2004): “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về trọng dụng, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài”, Tạp chí Giáo dục, số 81 tháng
3;Nguyễn Đắc Hưng (2007), “Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn An Ninh (2008),Phát huy tiềm năng trí
thức khoa học xã hội Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nôi.
4
Tác giả Trần Kim Hải trong luận án tiến sĩ kinh tế: “Sử dụng nguồn
nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta” đã trình
bày một số khái niệm về nguồn nhân lực và những khía cạnh cơ bản trong sử
dụng nguồn nhân lực; đưa ra một số giải pháp có tác động mạnh đến việc sử
dụng nguồn nhân lực ở Việt Nam
Luận án tiến sĩ Lê Thị Hồng Điệp: “Phát triển nguồn nhân lực chất
Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu ở trên, các tác giả đều
khẳng định vai trò, tác động, ưu thế cũng như những mặt tích cực và hạn chế
của NNLCLC ở nước ta. Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao,
cũng được đề cập trên một số sách báo, tạp chí và ít nhiều được đề cập trong
các công trình nghiên cứu chung về NNLCLC. Tất cả những công trình nói
trên, ở những mức độ khác nhau, đã giúp tác giả luận văn có một số tư liệu và
kiến thức cần thiết để có thể hình thành những hiểu biết chung, soi rọi giúp
tiếp cận, đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao ở
Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng sử dụng
NNLCLC ở Việt Nam hiện nay, luận văn nhằm đề xuất những quan điểm và
giải pháp góp phần sử dụng NNLCLC ở Việt Nam một cách hợp lý và hiệu
quả.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao
và vấn đề sử dụng NNLCLC
6
- Phân tích thực trạng và đánh giá chung thực trạng sử dụng NNLCLC ở
Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả
NNLCLC ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy việc sử dụng NNLCLC ở Việt Nam hiện nay làm đối tượng
nghiên cứu. Đối tượng này được nghiên cứu gắn với những nội dung cụ thể.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
nguồn nhân lực chất lượng cao.
Chương 2: Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt
Nam hiện nay.
Chương 3: Những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm sử dụng có
hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam trong thời gian tới.
8
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ SỬ
DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO
1.1. Những vấn đề lý luận về sử dụng nguồn nhân lực chất lƣợng cao
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm “nguồn nhân lực chất lượng cao”
Để hiểu rõ hơn về thuật ngữ “nguồn nhân lực CLC” có thể khái quát
những vấn đề cơ bản về thuật ngữ “nguồn nhân lực”.
Thuật ngữ “nguồn nhân lực” được sử dụng và có nhiều góc độ tiếp
cận khác nhau (Xem thêm phụ lục 1). Mặc dù có những sự khác biệt do cách
tiếp cận về nguồn nhân lực nhưng nhìn chung đều nhấn mạnh đến những yếu
tố cốt lõi để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, đó là thể lực, trí lực và tâm
lực.
Có thể đi đến một cách hiểu thống nhất về nguồn nhân lực như sau:
Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông qua những
khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động. Nguồn nhân lực là
yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh
vai trò của nguồn nhân lực CLC; (2) Cách tiếp cận nhấn mạnh tới trình độ
chuyên môn cao và khả năng thích ứng nhanh của nguồn nhân lực CLC; (3)
Cách tiếp cận nhấn mạnh tới trình độ cao và khả năng thích ứng nhanh, đồng
thời nhấn mạnh tới phẩm chất và khả năng sáng tạo tri thức của nguồn nhân
lực CLC (Xem thêm phụ lục 2).
Dù các nhà nghiên cứu có những góc độ tiếp cận khác nhau về nguồn
nhân lực nhưng tổng hợp lại, có thể nhấn mạnh tới những đặc trưng cốt lõi
sau của lực lượng này:
10
Một là, về vai trò và tầm quan trọng: Nguồn nhân lực CLC là lực lượng
ưu tú nhất, thực hiện vai trò dẫn đường đối với nguồn nhân lực nói chung
trong quá trình phát triển KT- XH.
Hai là, về số lượng: Nguồn nhân lực CLC chỉ bao gồm một bộ phận
nhân lực trong tổng số nguồn nhân lực quốc gia.
Ba là, về chất lượng: Nguồn nhân lực CLC được đánh giá thông qua
các yếu tố cơ bản sau: (1) phẩm chất đạo đức, (2) trình độ chuyên môn nghiệp
vụ được đào tạo, (3) khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc.
Tổng hợp từ những cách tiếp cận nêu trên, có thể khẳng định rằng:
Nguồn nhân lực CLC là một bộ phận nhân lực quan trọng nhất của nguồn
nhân lực, có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao
động giỏi, có năng lực sáng tạo, đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đáp
ứng được những yêu cầu của thực tiễn; biết vận dụng tri thức, kỹ năng đã
được đào tạo vào trong quá trình sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng
và hiệu quả cao; có phẩm chất đạo đức tiêu biểu. (Theo đề tài NNLCLC gồm
những người được đào tạo ở cấp cao đẳng trở lên).
Như vậy, mặc dù thuật ngữ “nguồn nhân lực CLC” còn đang được giới
nghiên cứu bàn luận rất nhiều và chưa có một sự thống nhất nào được thừa
nhận, nhưng có ba điểm cốt lõi gắn liền với nguồn nhân lực CLC là: (1) trình
độ được đào tạo cao, (2) phẩm chất đạo đức tốt, (3) khả năng đáp ứng được
quyết định nhất tới việc gia tăng số lượng và phát huy hiệu quả nhất những tố
chất tiêu biểu của NNL CLC trong công việc.
1.1.1.3. Vai trò của việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Dù nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng của một nhân tài thì đó
vẫn chưa phải là yếu tố quyết định đến giá trị của họ đối với quốc gia, dân
tộc. Vấn đề sử dụng, hay chính xác hơn là vấn đề thu hút và trọng dụng mới
vừa là động cơ, vừa là cái đích, vừa là một khâu trong quá trình đào luyện và
12
hiện thực hóa giá trị của nguồn nhân lực CLC nói chung và nhân tài nói riêng.
Thực tiễn đã chứng minh, quá trình phát triển của các quốc gia diễn ra với tốc
độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng
trước hết tùy thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực và sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực. Hiện nay, nền kinh tế thế giới đã phát triển theo hướng kinh
tế tri thức, yếu tố tri thức đã chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm, tỷ lệ
lao động giản đơn trong sản phẩm chỉ còn 1/10, trí tuệ được coi là thước đo
trình độ CNH và động lực của quá trình phát triển. Mặt khác trong xu thế toàn
cầu hóa và mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế hiện nay, các nước có thể khắc
phục sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ thông qua con đường chuyển giao,
khắc phục sự thiếu vốn qua con đường nhập khẩu hoặc gia tăng nguồn vốn
bằng cách vay từ ngân hàng, quỹ phát triển của thế giới, nhưng không thể
khắc phục hoàn toàn sự yếu kém về nguồn nhân lực qua nhập khẩu lao động
hay vay mượn khả năng sáng tạo của con người. Vì vậy, tất cả các nước trên
thế giới đều quan tâm tới việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực và sử dụng có
hiệu quả nguồn lực này. Nguồn nhân lực CLC được sử dụng hiệu quả sẽ tạo
ra những tác dụng sau:
Một là, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực CLC góp phần thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Nếu như trong những năm 50-60 của thế kỷ XX
sự thiếu vốn và nghèo nàn về cơ sở vật chất là khâu chủ yếu cản trở tốc độ
tăng trưởng kinh tế thì vài thập niên cuối thế kỷ XX trở lại đây chỉ có một
trường quốc tế. Giải pháp cơ bản và quan trọng nhất để nâng cao sức cạnh
tranh chính là nâng cao chất lượng nhân lực. Trong xu hướng toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các quốc gia muốn vươn mình ra biển lớn
thì vũ khí lợi hại nhất chính là đội ngũ nhân lực CLC. Để đội ngũ này phát
huy hết tiềm năng, sức sáng tạo thì vấn đề quản lý, bố trí và sử dụng nhân lực
14
hợp lý, hiệu quả là một đòi hỏi cấp thiết.
Năm là, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực CLC đáp ứng yêu cầu xây
dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay. Nói đến nền kinh tế tri thức thì
yếu tố hàng đầu, yếu tố quyết định nhất chính là nguồn nhân lực CLC, là
những nhân tài của quốc gia. Sự khác biệt mang tính bản chất của nền kinh tế
tri thức so với nền kinh tế công nghiệp, đó là tri thức thay thế vốn và lao
động, trở thành yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất quyết định sức mạnh phát
triển trong thời đại ngày nay. Trong quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức thì
nguồn nhân lực CLC nắm vai trò tiên phong. Nhưng làm thế nào để đội ngũ
này phát huy được vai trò đầu tàu đó của mình? Đó chắc chắn là do cách sử
dụng nguồn nhân lực CLC của mỗi quốc gia.
1.1.2. Nội dung của sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Các nhà nghiên cứu đã khẳng định, từ xưa tới nay, triều đại nào, nhà
vua, nhà chúa nào mà sử dụng có hiệu quả nhân tài thì triều đại đó thịnh trị,
vua chúa đó làm được nhiều việc ích quốc lợi dân, tiếng thơm để ngàn thu.
Trái lại, triều đại nào, vua chúa nào không sử dụng được nhân tài thì triều đại
đó suy vong, vua chúa đó để lại tiếng xấu muôn đời.
Như vậy, việc thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực CLC không chỉ có
tác động trực tiếp tới việc phát triển lực lượng này mà còn quyết định tới sự
hưng vong của mỗi quốc gia. Các quốc gia luôn quan tâm đến việc sử dụng
một cách hiệu quả nhất, khoa học nhất đối với lực lượng này để phù hợp với
yêu cầu phát triển đất nước. Việc sử dụng nguồn nhân lực CLC cần được thực
hiện với những nội dung cơ bản sau:
sắc của nước ngoài, đặc biệt là những học sinh từ các nước kém phát triển hơn
đến thực hiện bậc học đại học tại quốc gia sở tại là một cách thu hút làm gia
tăng đáng kể lực lượng tạo nguồn cho đội ngũ nhân lực CLC của rất nhiều
16
quốc gia. Khi được thu hút theo học tại các trường đại học, đội ngũ sinh viên
nước ngoài thường được hưởng những ưu đãi lớn về tài chính kèm theo
những cam kết sẽ làm việc cho nước sở tại trong một khoảng thời gian nhất
định sau khi tốt nghiệp.
Như vậy, trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế,
hiện nay, bằng việc thu hút sinh viên nước ngoài theo học tại các nước sở
tại, rất nhiều quốc gia có cơ hội thuận lợi để gia tăng lực lượng tạo nguồn
cho đội ngũ nhân lực CLC của quốc gia mình. Đây là cách thức gia tăng
nguồn nhân lực CLC có chi phí đào tạo ít và thời gian đào tạo ngắn. Các
quốc gia này không phải bỏ ra những chi phí đào tạo nhân lực ở bậc phổ
thông và không phải thưc hiện quá trình đào tạo theo một lộ trình thời gian
đầy đủ của các cấp học.
Hai là, gia tăng trực tiếp đội ngũ nhân lực CLC.
Việc thu hút nhân lực CLC không chỉ tác động tới việc gia tăng lực
lượng tạo nguồn mà còn tác động tới việc gia tăng trực tiếp lực lượng này.
Hiện nay, rất nhiều quốc gia nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa
của việc thu hút nguồn nhân lực CLC nước ngoài, vì vậy, nhiều chiến lược
thu hút nhân tài nước ngoài đã được xây dựng cả ở các nước phát triển và các
nước đang phát triển.
Đối với các nước phát triển, việc thu hút nhân lực CLC chủ yếu tập
trung vào những người tài năng đến từ các nước kém phát triển hơn. Quá
trình thu hút chủ yếu dựa trên lợi thế về tiền lương, thu nhập, môi trường
làm việc và những điều kiện khác mà các nước kém phát triển hơn không
thể cung cấp được.
Đối với các nước đang phát triển, việc thu hút nhân lực CLC nước
nghiệp… nên chỉ trong một thời gian ngắn họ sẽ xin thôi việc để tìm đến
18
những nơi phù hợp hơn. Bên cạnh đó, chính cơ chế tuyển dụng ở VN bất cập
sẽ làm cho không ít người lao động có năng lực, thực tài và tâm huyết với
nghề không hài lòng với hiện tượng này và cách phản ứng lại là làm đơn xin
thôi việc.
1.1.2.3. Linh hoạt hóa và hiệu quả hóa quá trình sử dụng nhân lực chất
lượng cao sau khi tuyển chọn
Việc sử dụng nguồn nhân lực CLC là công việc hệ trọng, phải hết sức
công tâm, khách quan, chặt chẽ, kỹ lưỡng. Nếu sử dụng không đúng, không
hết tài năng thì dễ sinh tâm lý chán nản; trao cho công việc, trọng trách
không phù hợp, không ngang sức, ngang tài, khiến không yên tâm công tác,
làm việc cầm chừng, thiếu động cơ, thiếu tính tiến thủ. Nếu sử dụng quá tài
năng, sức lực sẽ dẫn đến hỏng việc, mất cán bộ, mất nhân tài. Vì vậy sử
dụng nhân lực là một nghệ thuật, đòi hỏi người lãnh đạo phải thực sự sáng
suốt. Sự linh hoạt hóa và hiệu quả hóa quá trình sử dụng nhân lực CLC
được thể hiện ở những điểm sau:
- Phân công, bố trí chỗ làm phù hợp, đúng chuyên môn, ngành nghề
được đào tạo nhằm phát huy tối đa sự năng động và tính sáng tạo của nhân lực.
Việc bố trí, sắp xếp lao động phải căn cứ vào yêu cầu công việc theo nguyên
tắc “tùy việc xếp người” chứ không phải “tùy người xếp việc” như vẫn thường
diễn ra trong các cơ quan Nhà nước, gây nên tình trạng làm việc không phù
hợp với chuyên môn, ngành nghề đào tạo, hạn chế hiệu quả sử dụng.
- Giao cho họ những nhiệm vụ có thể phát huy được ưu thế, năng lực sở
trường của họ.
- Tạo cơ hội cho nhân lực CLC được nâng cao trình độ, cọ xát, thử
thách và chứng minh tài năng của họ trong thực tế.
- Liên tục bồi dưỡng và đào tạo lại nhân lực chất lượng cao.
- Sớm phát hiện những tồn tại lệch lạc và tác hại của việc sử dụng
Ba là, chính sách đãi ngộ về mặt xã hội.
Ngoài tiền lương, những đãi ngộ về mặt xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới
sự gắn bó và cống hiến tài năng của nguồn nhân lực CLC cho công việc. Nếu
những chính sách về bảo hiểm xã hội, mạng lưới an sinh xã hội, cơ sở hạ tầng
xã hội… tạo thuận lợi cho đời sống sinh hoạt thường ngày của người lao động
và gia đình họ thì họ sẽ yên tâm cống hiến và gắn bó lâu dài với công việc.
Bốn là, chính sách hỗ trợ trong hoạt động nghiên cứu triển khai.
Trong thành phần nguồn nhân lực CLC, có nhóm nhân lực quan trọng
thực hiên các hoạt động nghiên cứu – triển khai nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sự
hình thành nền kinh tế tri thức. Đây là một hoạt động đặc thù và cần có điều
kiện làm việc hiện đại, được đầu tư lớn. Vì vậy, nếu chính sách hỗ trợ trong
hoạt động nghiên cứu triển khai thực sự quan tâm tới việc hỗ trợ và đầu tư để
nhóm nhân lực khoa học – công nghệ có những điều kiện làm việc lý tưởng
thì họ sẽ sản sinh ra rất nhiều sản phẩm trí tuệ mang tính sáng tạo cao và thích
ứng với nhu cầu của xã hội hiện đại. Đây chính là những sản phẩm có đóng
góp quan trọng vào việc hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức của các
quốc gia trong thời đại ngày nay.
Năm là, chính sách đầu tư trọng điểm để xây dựng cơ sở vật chất phục
vụ hoạt động chuyên môn của đội ngũ nhân tài.
Trong nền kinh tế tri thức, những sáng tạo khoa học công nghệ thường
gắn liền với điều kiện vật chất phục vụ cho công việc được đầu tư tốt. Đặc
biệt, có những phát minh khoa học – công nghệ cần một số vốn đầu tư cơ sở
vật chất khổng lồ. Vì vậy, mỗi quốc gia, tùy vào trình độ phát triển hiện tại và
tùy vào mục tiêu phát triển trong tương lai, cần phải có chính sách đầu tư
trọng điểm về cơ sở vật chất nhằm phục vụ tốt nhất cho hoạt động chuyên
môn của đội ngũ nhân tài.