Tăng cường công tác quản lý ngân sách Nhà nước của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHẠM HỒNG THÚY
TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
CỦA THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
CỦA THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐINH VĂN THÔNG


2.1.1. Về điều kiện tự nhiên và địa lý hành chính 30
2.1.2. Về kinh tế - xã hội: 31
2.2. Thực trạng công tác quản lý NSNN TP. Việt Trì giai đoạn 2006 - 2013 34
2.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý ngân sách nhà nƣớc của thành phố Việt Trì
34
2.2.2. Thực trạng thu, chi NSNN 38
2.2.3. Thực trạng quy trình quản lý thu, chi NSNN 48
2.3. Đánh giá chung về công tác quản lý ngân sách nhà nƣớc ở thành phố Việt Trì
giai đoạn 2006 - 2013. 51
2.3.1. Kết quả đạt đƣợc về quản lý thu, chi NSNN 51
2.3.2. Những hạn chế, yếu kém trong quản lý thu, chi ngân sách nhà nƣớc giai
đoạn 2006 - 2013. 56
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém về quản lý thu, chi ngân sách
nhà nƣớc 63
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ 69
3.1. Quan điểm 69
3.2. Phƣơng hƣớng và mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách nhà
nƣớc của thành phố Việt Trì 70
3.2.1. Phƣơng hƣớng nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSNN trên địa bàn
thành phố Việt Trì 70
3.2.2. Mục tiêu quản lý NSNN trên địa bàn TP. Việt Trì trong thời gian tới. 71
3.3. Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý NSNN của TP Việt Trì 72
3.3.1. Nhóm giải pháp quản lý thu ngân sách nhà nƣớc 72
3.3.2. Nhóm giải pháp quản lý chi ngân sách nhà nƣớc 79
3.3.3. Nhóm các giải pháp khác 86
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
8
NSNN
ngân sách nhà nước
9
QLNN
quản lý nhà nước
10
SXKD
sản xuất kinh doanh
11
TP
thành phố
12
UBND
ủy ban nhân dân
13
XDCB
xây dựng cơ bản
14
XHCN
xã hội chủ nghĩa

2.3
Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp - xây
dựng thành phố Việt Trì (theo giá cố định 1994)
33
4
Bảng
2.4
Thu NSNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và thành phố Việt Trì
(theo giá cố định 1994)
39
5
Bảng
2.5
Tổng hợp thu ngân sách trên địa bàn thành phố theo từng lĩnh vực
(phần do TP thực hiện thu theo phân cấp)
40
6
Bảng
2.6
Giá trị các khoản thu NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì
41
7
Bảng
2.7
Cơ cấu các khoản thu cân đối ngân sách nhà nước
42
8
Bảng
2.8
Tổng hợp chi ngân sách thành phố Việt Trì (2006 - 2013)

Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới chung của đất nước và thực hiện
chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước, quản lý ngân sách nhà nước
của Việt Nam cũng đã có những thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng để Việt
Nam thực thi thành công quá trình đổi mới, đặc biệt là từ khi Luật ngân sách nhà
nước được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 và có hiệu
lực thi hành từ năm ngân sách 2004 với mục tiêu và ý nghĩa hết sức quan trọng
trong việc quản lý và điều hành ngân sách nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội (KT
– XH); Tăng cường tiềm lực tài chính đất nước; quản lý thống nhất nền tài chính
quốc gia; xây dựng ngân sách nhà nước lành mạnh, sử dụng vốn và tài sản nhà nước
tiết kiệm, hiệu quả; Tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; Đảm bảo các nhiệm vụ quốc phòng an ninh và đối ngoại.
Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) ở nước ta đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng có hiệu quả các công cụ, chính
sách tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu, chi ngân sách nhà nước. Điều này
góp phần khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường thông qua việc sử dụng bàn tay
hữu hình, chủ yếu là chính sách tài chính nhằm điều tiết nền kinh tế. Mặt khác
thông qua sử dụng các công cụ này mới có thể quản lý thống nhất nền tài chính
quốc gia, động viên toàn bộ nguồn lực để phát triển KT - XH, đáp ứng yêu cầu của
công cuộc đổi mới đất nước.
Phú Thọ là một tỉnh miền núi, kinh tế còn chậm phát triển, số thu ngân sách
nhà nước trên địa bàn hàng năm còn hạn hẹp, để bảo đảm cân đối nhu cầu chi ngân
2

sách địa phương, ngân sách Trung ương phải bổ sung khoảng 66% (Tính bình quân
cho giai đoạn 2006-2010). Từ khi Luật ngân sách nhà nước ra đời và có hiệu lực, cơ
chế quản lý nguồn ngân sách nhà nước ở Phú Thọ đã dần từng bước được hoàn
thiện tạo được những bước ngoặt trong lĩnh vực quản lý thu chi ngân sách của các
đơn vị thụ hưởng ngân sách các cấp.
Trong bối cảnh chung của tỉnh Phú Thọ, thành phố Việt Trì những năm qua
đã đạt được những thành tựu nhất định về KT - XH, bộ mặt đô thị ngày càng đổi

sách Nhà nước của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài của luận văn
thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có những công trình nghiên cứu về quản lý
ngân sách nhà nước từ quy mô quốc gia cho đến quy mô cấp huyện, cấp xã ở Việt
Nam, trong đó có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
- Bài báo “Một số vấn đề pháp lý về phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Lê Thị Thu Thủy đăng trên Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN, chuyên san Luật học số 26 (2010). Trong công trình nghiên
cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu sâu thực trạng pháp luật về phân cấp quản lý
ngân sách nhà nước ở Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật về vấn đề này như cần có các quy định thể hiện sự phân cấp quản lý
về ngân sách nhiều hơn, rộng hơn cho các cấp chính quyền địa phương hay quy
định về thời hạn của ngân sách nhà nước là trung hạn (5 năm) thay vì một năm như
hiện nay.
Bài báo của tác giả đã đánh giá được thực trạng thu chi ngân sách do tác
động của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam, đặc biệt đối với các
tỉnh có bình quân thu nhập đầu người thấp như tỉnh Phú Thọ hiện nay. Nhưng trong
phạm vi hẹp của bài báo, tác giả chưa đưa ra các giải pháp cụ thể để cải thiện tình
trạng bội chi ngân sách như hiện nay, tác giả chưa đưa ra được các biện pháp cụ thể
nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách để hạn chế tình trạng “trông chờ, ỷ lại” vào trợ
cấp từ ngân sách cấp trên; cũng như chưa đưa ra được các giải pháp nâng cao hiệu
4

lực quản lý để công tác chi ngân sách nhà nước thực sự đem lại hiệu quả.
- Đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế tại Đại học Thái Nguyên “Thực trạng và giải
pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp huyện ở tỉnh Thái
Nguyên” của tác giả Hà Việt Hoàng. Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã đi
sâu nghiên cứu về thực trạng thu ngân sách cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái nguyên
qua đó đi đến kết luận thu ngân sách cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cho

Các báo cáo, văn bản của UBND tỉnh và UBND thành phố Việt Trì đã đưa ra
được cái nhìn tổng quát về tình hình KT - XH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung
và địa bàn thành phố Việt Trì nói riêng, nhưng các bài viết mới chỉ dừng lại ở các số
liệu và đánh giá sơ bộ về thu chi ngân sách địa phương, chưa thực sự có các phân
tích rõ nét về thực trạng và giải pháp cải thiện công tác quản lý thu chi ngân sách
trên địa bàn.
Có thể nói các đề tài, tài liệu và văn bản trên đã có đóng góp rất nhiều cho
việc nghiên cứu về hoạt động quản lý ngân sách. Tuy nhiên do mục đích và yêu cầu
khác nhau nên các công trình nghiên cứu trên chưa đề cập cụ thể đến hoạt động
quản lý ngân sách của thành phố Việt Trì. Với đặc thù là thành phố tỉnh lỵ của một
tỉnh miền núi trung du, quy hoạch là đô thị trung tâm vùng, hoạt động quản lý ngân
sách cũng như việc thực thi Luật ngân sách nhà nước có rất nhiều đặc điểm riêng.
Do đó, đề tài tôi lựa chọn mặc dù có tính kế thừa, nhưng nó cũng thể hiện các quan
điểm nghiên cứu độc lập.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Trên cơ sở hệ thống hóa một cách cơ bản hoạt động quản lý ngân sách nhà
nước luận văn tập trung làm rõ thực trạng quản lý ngân sách nhà nước của thành
phố Việt Trì giai đoạn 2006 - 2013 để thấy được những thành công cũng như những
tồn tại, hạn chế. Từ đó đề xuất ra một số giải pháp giúp công tác quản lý ngân sách
nhà nước trên địa bàn thực sự có hiệu quả.

- Nhiệm vụ nghiên cứu:
6

+ Hệ thống hoá những cơ sở lý luận về quản lý ngân sách.
+ Phân tích thực trạng quản lý ngân sách nhà nước ở thành phố Việt Trì.
+ Đề xuất một số gợi ý về giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
quản lý ngân sách của thành phố Việt Trì.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

giá tình hình thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Việt Trì qua các năm. Các
số liệu thu thập đã được mã hóa và xử lý trên máy vi tính bằng phần mềm Exell.
5.3. Phương pháp phân tích
5.3.1. Phương pháp phân tổ thống kê
Sử dụng phương pháp này để hệ thống hóa và phân tích các số liệu thu
thập được từ điều tra, qua đó nhận biết thực trạng của vấn đề nghiên cứu. Từ
phương pháp này có thể tìm hiểu mối liên hệ lẫn nhau của các nhân tố riêng biệt
như: môi trường pháp lý, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, công tác quy hoạch,
giải phóng mặt bằng, tiềm năng kinh tế, nguồn nhân lực.
5.3.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích
Tiến hành phân tích thực trạng về tình hình thu, chi ngân sách nhà nước của
thành phố Việt Trì trong những năm qua, về số lượng thu – chi, cũng như chất
lượng, hiệu quả của việc thu – chi cho phát triển kinh tế xã hội nói chung; những
thuận lợi và khó khăn trong việc quản lý thu, chi ngân sách nhà nước Phân tích, so
sánh các nguồn thu, cơ cấu nguồn thu ngân sách; phân tích, so sách các khoản chi,
cơ cấu chi ngân sách, trên cơ sở đó có thể đề ra các giải pháp phù hợp trong việc
quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trong thời gian tới.
Trong quá trình phân tích các vấn đề về quản lý ngân sách, luận văn còn sử
dụng các bảng biểu so sánh để làm tăng tính trực quan và sức thuyết phục của đề
tài.
Số liệu sử dụng: luận văn sử dụng các số liệu thống kê của các sở, ngành trên
địa bàn tỉnh; Nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và Quy hoạch tổng
8

thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ và của thành phố Việt Trì đến năm
2015 và tầm nhìn đến năm 2020; Các báo cáo của thành phố Việt Trì trong các năm
2006 - 2013.
6. Những kết quả đạt đƣợc của luận văn
Dự kiến luận văn có những đóng góp chủ yếu sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động quản lý ngân sách

1.1.1.1. Khái niệm về ngân sách nhà nước (NSNN)
* Khái niệm chung về NSNN
NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan và là phạm trù lịch sử, ra đời, tồn
tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và sự phát
triển của các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ. Nhà nước ra đời đã ban hành các luật
thuế để lấy tiền chi tiêu, nhưng cho tới chế độ phong kiến, việc thu - chi của nhà
nước rất tuỳ tiện, chủ yếu là theo quyết định của nhà vua; mọi khoản thu - chi
không có kế hoạch trước, không có sự phân loại và không có luật điều chỉnh. Đến
khi chủ nghĩa tư bản ra đời, giai cấp tư sản đấu tranh đòi nhà nước phải hỗ trợ tài
chính cho lĩnh vực kinh tế, đòi thiết lập trình tự lập kế hoạch chi tiêu và cơ chế kiểm
tra, giám sát đối với việc chi tiêu của nhà nước thì các nhân tố của NSNN mới được
quy tụ đầy đủ. Từ đó NSNN mới được hình thành với các đặc trưng của nó là tính
kế hoạch dự toán, tính cân đối thu - chi và tính niên độ. Ngày nay thuật ngữ NSNN
được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia. Tuy nhiên, đến
nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm này.
Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ
họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: NSNN là toàn bộ các khoản thu,
chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được
thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước. [2, Tr1]
Thu chi NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ
yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá
trị tiền tệ. Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần
chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực
10

hiện mục tiêu KT - XH. NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định,
thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua.
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Quỹ này thể hiện lượng tiền
huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước, có


lý hành chính Nhà nước được tổ chức 4 cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc
TW; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn. Mỗi cấp
chính quyền đều phải có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy
định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyền đó.
* Khái niệm thu ngân sách nhà nước
Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nước
dùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính dưới hình thức
giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Thu NSNN bao gồm toàn bộ các
khoản tiền được tập trung vào tay Nhà nước để hình thành quỹ NSNN đáp ứng cho
các yêu cầu chi tiêu xác định của Nhà nước.
Trong bất cứ xã hội nào, cơ cấu các khoản thu NSNN đều gắn liền với chức
năng, nhiệm vụ và quyền lực chính trị của Nhà nước. Sự ra đời, tồn tại và phát triển
của Nhà nước là điều kiện xuất hiện các khoản thu NSNN. Ngược lại, các khoản thu
NSNN là tiền đề vật chất không thể thiếu để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh
tế trong xã hội. Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền
đề đồng thời là yếu tố khách quan hình thành các khoản thu NSNN và quyết định
mức độ động viên các khoản thu của NSNN.
Thu ngân sách nhà nước ảnh hưởng lớn đến tốc độ, chất lượng và tính bền
vững trong phát triển của một quốc gia. Thu NSNN bao gồm thuế, các khoản phí, lệ
phí, thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu đóng góp của các tổ chức và cá
nhân, các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.[2,Tr1]
* Khái niệm chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối
và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho chi phí của bộ máy QLNN và thực hiện
các chức năng KT - XH mà Nhà nước đảm nhận theo những nguyên tắc nhất định.
Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ
NSNN. Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN hình thành các

13

củng cố vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh đối
với từng lĩnh vực trong nền kinh tế.
* NSNN có vai trò tác động đến nền kinh tế vĩ mô
Bằng công cụ thuế và chính sách chi tiêu, NSNN có khả năng tác động đến
quan hệ cung - cầu, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát. Bên cạnh đó việc lựa
chọn giải pháp bù đắp thâm hụt NSNN là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến tình
hình lạm phát. Nếu dùng biện pháp phát hành thêm tiền thì trực tiếp làm cho tình
hình lạm phát gia tăng, ngược lại biện pháp vay dân sẽ góp phần làm giảm lượng
tiền mặt trong lưu thông, tạo ra sự cân đối tiền - hàng và làm giảm tốc độ lạm phát.
* NSNN có vai trò trong phân phối và phân phối lại thu nhập
NSNN có khả năng điều tiết thu nhập, điều chỉnh tiêu dùng đảm bảo thu nhập
chính đáng, và nhất là đảm bảo sự công bằng xã hội thông qua các chính sách thu -
chi NSNN.
Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện các chính sách xã hội, trợ cấp xã
hội, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề, phòng, chống các
tệ nạn xã hội.[11]
1.1.2. Quản lý ngân sách nhà nước
1.1.2.1. Khái niệm, vai trò và chức năng của quản lý NSNN
a, Khái niệm quản lý ngân sách nhà nước.
* Khái niệm quản lý thu NSNN
Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ
chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào
NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng, khuyến khích sản xuất kinh doanh (SXKD)
phát triển. Đây là khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng
buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách. Phần lớn các
khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi
thành phần kinh tế phải tuân thủ thực hiện.
* Khái niệm quản lý chi NSNN

doanh của xã hội.
15

Thứ năm, quản lý thu ngân sách có vai trò tác động đến sản lượng và sản
lượng tiềm năng, cân bằng của nền kinh tế. Việc tăng mức thuế dẫn tới giảm sản
lượng của nền kinh tế, tức là thu hẹp quy mô của nền kinh tế. Ngược lại, giảm mức
thuế chung có xu thế làm tăng sản lượng cân bằng.
* Vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước
Quản lý chi NSNN có vai trò rất to lớn, thể hiện:
Thứ nhất, thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN. Thông
qua quản lý các khoản chi NSNN sẽ có tác động khác nhau đến đời sống KT - XH,
đặc biệt là giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội như: xoá đói giảm nghèo, giải
quyết việc làm, các hoạt động mang tính cộng đồng.
Thứ hai, Quản lý chi ngân sách góp phần điều tiết thu nhập dân cư, thực hiện
công bằng xã hội và góp phần khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị
trường.
Thứ ba, quản lý chi NSNN có vai trò điều tiết giá cả, chống suy thoái và
chống lạm phát. Sự mất cân đối giữa cung - cầu sẽ tác động đến giá cả tăng hoặc
giảm. Để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, Nhà nước sử dụng công cụ chi ngân
sách để điều tiết, can thiệp vào thị trường dưới hình thức cắt giảm chi tiêu, cắt giảm
đầu tư hoặc tăng đầu tư, tăng chi tiêu cho bộ máy QLNN, cũng như trợ vốn, trợ giá
và sử dụng quỹ dự trữ của Nhà nước.
Thứ tư, duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế. Thông qua quản lý các
khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, Nhà nước sẽ điều chỉnh phù hợp tạo
ra sự kích thích tăng trưởng nền kinh tế thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư vào
các ngành kinh tế mũi nhọn, đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
kinh tế mở để nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
c. Chức năng của công tác quản lý NSNN
* Hình thành cơ chế, chính sách quản lý ngân sách.
Cơ chế quản lý NSNN là tổng thể các hình thức và phương pháp hình thành,

Tổ chức quá trình thu - chi NSNN là một trong những nội dung quan trọng
của quản lý NSNN, bao gồm hai nội dung cơ bản: Xây dựng quy trình thu - chi
17

NSNN một cách hợp lý, và tổ chức bộ máy thu - chi NSNN ở tất cả các khâu, các
cấp ngân sách.
Quy trình thu - chi cần được xây dựng cụ thể cho từng loại thu và các khoản
mục chi cụ thể. Việc xác lập quy trình thu - chi ngân sách cụ thể, hợp lý bảo đảm
thực hiện tốt kế hoạch thu - chi NSNN, công khai hoá các nguồn thu và khoản mục
chi, tạo cơ sở cho việc kiểm soát NSNN được tốt hơn.
Bộ máy quản lý NSNN là bộ phận quan trọng, quyết định trong việc thực
hiện chính sách, cơ chế quản lý NSNN. Vấn đề hiện nay là tổ chức bộ máy quản lý
NSNN phải đảm bảo hoạt động có hiệu lực và hiệu quả cao.
* Kiểm soát thu - chi NSNN.
Kiểm soát thu - chi NSNN nhằm mục đích bảo đảm cho việc thu - chi ngân
sách được hiệu quả, đúng mục đích và an toàn. Tình hình chung của NSNN là
nguồn thu bị hạn chế và tăng chậm trong khi nhu cầu chi lại tăng, dẫn đến tình trạng
bội chi ngân sách. Một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất trong quá
trình quản lý ngân sách là đảm bảo cân đối giữa thu và chi. Trong nền kinh tế thị
trường đó là sự cân bằng động. Việc lựa chọn biện pháp nào phụ thuộc vào điều
kiện thực tế tại từng thời điểm cụ thể.
1.1.2.2. Nguyên tắc và nội dung của quản lý NSNN
a, Nguyên tắc của quản lý NSNN
* Nguyên tắc thống nhất
Đó là việc tuân thủ theo một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng,
thanh tra, kiểm tra, đến thanh quyết toán, xử lý những phát sinh trong quá trình thực
hiện NSNN đều mang tính thống nhất và xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở. Việc
thực hiện nguyên tắc này nhằm tăng cường sức mạnh vật chất trong tay Nhà nước,
đảm bảo tính công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng có nghĩa vụ hoặc được thụ
hưởng ngân sách.

Nguyên tắc này đòi hỏi trách nhiệm giải trình về các hoạt động ngân sách của
các tổ chức, cá nhân trong quá trình quản lý ngân sách. Quy trách nhiệm yêu cầu
phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc thực
hiện ngân sách.

Trích đoạn Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém về quản lý thu, chi ngân sách Quan điểm Phƣơng hƣớng và mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách nhà Mục tiêu quản lý NSNN trên địa bàn TP Việt Trì trong thời gian tới Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý NSNN của TP Việt Trì
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status