MỤC LỤC
PHIẾU KHẢO SÁT THÔNG TIN VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
THƯƠNG MẠI..............................................................................................................................3
LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin chân thành cảm ơn khoa quản trị doanh nghiệp trường đại học
Thương Mại đã tạo điều kiện tốt cho chúng em thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Chúng em xin chân thành cám ơn cô Trần Thị Hoàng Hà đã tận tình hướng dẫn
chỉ bảo chúng em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này.
Chúng em xin chân thành cám ơn thầy cô trong trường đã tận tình giảng dạy
trang bị cho chúng em kiến thức quý báu trong thời gian qua.
Một lần nữa, chúng tôi xin chân thành cám ơn các bạn sinh viên trong trường
đac giúp đỡ chúng tôi trong quá trình nghiên cứu điều tra phục vụ cho đề tài.
Mặc dù chúng em đã cố gắng hoàn thiện bài nghiên cứu trong phạm vi và khả
năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không thiếu khỏi những thiếu sót. Chúng em kính
mong nhận được sự thông cảm và tận tình chỉ bảo của thầy cô và các bạn.
Nhóm sinh viên thực hiện.
Đinh Thị Phương Liên
Đặng Thị Phương Thảo
Nguyễn Thị Lan
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1.SV Sinh viên
2.ĐHTM Đại Học Thương Mại
3.TM Thương mại
4.KNM Kỹ năng mềm
5.HCTC Học chế tín chỉ
6.GD Giáo dục
7.ĐT Đào tạo
8.VN Việt Nam
9.ĐH Đại học
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
mềm, cụ thể là kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giao tiếp....
Điều này đã không còn là trường hợp ngoại lệ đối với các sinh viên hiện nay. Đa số các
bạn sinh viên đều có thể tự làm tốt, thậm chí xuất sắc nhưng khi làm việc nhóm thì lại
đùn đẩy công việc, có tình trạng “cha chung không ai khóc”.
Các bạn sinh viên đang học ở trường cũng luôn khẳng định kỹ năng mềm rất
quan trọng trong việc học tập cũng như trong cuộc sống và trong môi trường làm việc
sau này của các bạn.Hình thức đào tạo cùng môi trường học tập trong trường giúp các
bạn sinh viên rất nhiều trong việc học tập và rèn luyện những kỹ năng mềm cần thiết
song phần lớn các bạn sinh viên đang học ở trường luôn nhận thấy bản thân còn rất
thiếu và yếu những kỹ năng mềm cần thiết. Nguyên nhân của những nhận thức đó một
phần do các bạn sinh viên còn thiếu chủ động trong việc nhận thức cũng như rèn luyện
những kỹ năng mềm.
1
Nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng mềm, việc đào tạo, phát triển và
rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên được nhà trường rất chú trọng. Tuy nhiên việc
mở các lớp đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên hiện nay ở trường vẫn còn rất hạn chế,
phần nhiều chỉ trên góc độ lý thuyết, vì vậy không tạo nên được niềm say mê và hứng
thú của sinh viên trong các khóa học. Dẫn đến việc hiện nay với nhiều bạn sinh viên, kỹ
năng mềm vẫn còn là một thuật ngữ khá xa lạ. Do vậy các bạn chưa có định hướng
đúng đắn cho việc phát triển và hoàn thiện kỹ năng mềm.
Từ ý kiến chủ quan của của những người nghiên cứu đề tài nhận thấy : việc
nghiên cứu và tìm ra giải pháp để hoàn thiện và nâng cao kỹ năng mềm cho sinh viên
là một vấn đề rất cần thiết, không chỉ sinh viên Thương Mại nói riêng mà còn mang ý
nghĩa với sinh viên các trường nói chung.
Xuất phát từ lý do trên, nhóm nghiên cứu nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu
đề tài này
1.2. XÁC LẬP VÀ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ TRONG ĐỀ TÀI
Từ tính cấp thiết của đề tài, nhóm nghiên cứu quyết định nghiên cứu về “giải
pháp nhằm tăng cường thực hành kỹ năng mềm cho sinh viên Thương Mại”. Nhóm
nghiên cứu sẽ thực hiện làm sáng tỏ: các kỹ năng mềm cần thiết phục vụ trong cuộc
kỹ năng mềm của các công ty hiện nay, các giải pháp nhằm tăng cường thực hành kỹ
năng mềm cho sinh viên Thương Mại.
1.6. Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU
Cung cấp cái nhìn tổng thể về những kỹ năng mềm mà sinh viên Thương Mại
hiện có và những yêu cầu về kỹ năng mềm cần có của mỗi sinh viên để thành công hơn
trong cuộc sống, học tập cũng như trong môi trường làm việc sau này. Đưa ra giải pháp
giúp sinh viên Thương Mại định hướng, nâng cao và phát triển các kỹ năng mềm.Ý
nghĩa sâu xa cuối cùng đối với những người làm đề tài này là tìm ra phương pháp học
tập một cách khoa học, hiệu quả.
3
CHƯƠNG II: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
KỸ NĂNG MỀM.
2.1. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA, KHÁI NIỆM CƠ BẢN.
2.1.1. Khái niệm kỹ năng.
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc
nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó
phát sinh trong cuộc sống.
Để giải thích nguồn gốc hình thành kỹ năng có lẽ không có cơ sở lý thuyết nào
tốt hơn 2 lý thuyết về phản xạ có điều kiện (được hình thành trong thực tế cuộc sống
của cá nhân) và phản xạ không điều kiện (là những phản xạ bẩm sinh mà cá nhân sinh
ra đã sẵn có). Trong đó, kỹ năng của cá nhân gần như thuộc về cái gọi là phản xạ có
điều kiện, nghĩa là kỹ năng được hình thành từ khi một cá nhân sinh ra, trưởng thành và
tham gia hoạt động thực tế cuộc sống. Ví dụ: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản trị chỉ
được hình thành trong hoạt động công việc của một cá nhân.
Bản thân chúng ta sinh ra chưa có kỹ năng về một khía cụ thể nào (trừ kỹ năng
bẩm sinh) nhất là kỹ năng công việc, đó là lý do hình thành hệ thống đào tạo nghề
nghiệp hiện có ở bất kỳ quốc gia nào. Như vậy, đa số kỹ năng mà chúng ta có được và
hữu ích với cuộc sống của chúng ta là xuất phát từ việc chúng ta được đào tạo. Và như
thế, nền tảng của sự thành công của chúng ta trong cuộc sống là do 98 % là do được
đào tạo và tự đào tạo rèn luyện kỹ năng, chỉ có 2 % là kỹ năng bẩm sinh tham gia vào
mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải là kỹ năng cá tính đặc biệt,
chúng quyết định khả năng bạn có thể trở thành nhà lãnh đạo, thính giả, nhà thương
thuyết hay người hòa giải xung đột. Những kỹ năng “cứng” ở nghĩa trái ngược thường
xuất hiện trên bản lý lịch - khả năng học vấn của bạn, kinh nghiệm và sự thành thạo về
chuyên môn. Bạn có phải là một người dễ chịu? Tận tâm? Bạn giao tiếp có ấn tượng
không? Giải quyết các vấn đề có hiệu quả không? Đây chính là các dạng câu hỏi ưa
dùng để xác định được mức độ kỹ năng “mềm” của bạn.
5
Yêu cầu về kỹ năng mềm của doanh nghiệp: Những nhà tuyển dụng rất coi
trọng các kỹ năng “mềm”, bởi vì các nghiên cứu cho thấy chúng là một nhân tố đánh
giá rất hiệu quả bên cạnh những kỹ năng công việc truyền thống hay còn gọi là kỹ năng
“cứng”. Một cuộc nghiên cứu mới đây cho thấy những tiêu chuẩn để đánh giá con
người như sự tận tâm, tính dễ chịu cũng là những nhân tố dự báo quan trọng đối với sự
thành công trong nghề nghiệp giống như khả năng về nhận thức và kinh nghiệm làm
việc.
Dựa trên kết quả nghiên cứu về “
Yêu cầu của nhà tuyển dụng về những kỹ
Yêu cầu của nhà tuyển dụng về những kỹnăng đối với sinh viên mới tốt nghiệp các ngành quản lý – kinh tế : Ứng dụng phương
năng đối với sinh viên mới tốt nghiệp các ngành quản lý – kinh tế : Ứng dụng phươngpháp phân tích nội dung
pháp phân tích nội dung
“
“
xuất –
chất
lượng
– mua
hàng
Hành
chính
–
nhân
sự
Tiếp thị -
kinh
doanh –
Chăm
sóckhách
hàng
Kế toán
– tài
chính
Nhóm 1: Cơ bản
1 Ngoại ngữ 78% 91% 69% 89% 68% 76% 80% 80% 81% 79% 79%
2 Tin họcvăn phòng 65% 68% 68% 70% 53% 62% 68% 57% 74% 60% 74%
3 Giao tiếp 42% 38% 42% 44% 47% 36% 46% 23% 53% 52% 24%
4 Làm việc độclập 30% 32% 30% 30% 25% 28% 31% 30% 33% 30% 24%
Nhóm 2: Giá trị gia
tăng
5 Tổ chức 19% 19% 25% 11% 10% 16% 21% 23% 29% 13% 10%
6
6 Quản Lý 19% 19% 19% 19% 17% 27% 11% 37% 14% 13% 17%
7 Phân tích 18% 18% 11% 22% 27% 14% 21% 17% 4% 25% 24%
doanh nghiệp trong lĩnh vự sản xuất. Và từ bảng kết quả trên, ta có thể nhận thấy rằng
doanh nghiệp trong lĩnh vự sản xuất. Và từ bảng kết quả trên, ta có thể nhận thấy rằngcác kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, làm việc độc lập… là tiêu chí
các kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, làm việc độc lập… là tiêu chíđánh giá của các nhà tuyển dụng.
đánh giá của các nhà tuyển dụng.
2.2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA KỸ NĂNG MỀM VỚI SINH VIÊN
2.2.1. Tầm quan trọng
7
a. Trong cuộc sống
Giao tiếp xã hội giữa con người và con người đã góp phần tạo nên những
truyền thống, nghi thức, quy tắc đạo đức, giá trị, chuẩn mực xã hội, và cả luật pháp. Tất
cả cùng nhau tạo nên những nền tảng của xã hội loài người. Có thể nói giao tiếp xã hội
là một trong những thuộc tính đặc biệt và duy nhất giúp loài người khác biệt so với các
sinh vật khác. Đó là sự tương tác giữa con người với con người với một cá nhân, tập
thể, một cộng đồng. Có thể nói con người không thể sống mà thiếu đi sợi dây liên kết
với xung quanh. Ngày nay khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc tạo ra sự kết
nối ngày càng mở rộng. Điều đó làm cho sự tương tác của con người với con người
không chỉ theo chiều rộng mà còn phát triển theo cả chiều sâu. Do đó ngoài các kỹ năng
giao tiếp con người còn phải chuẩn bị cho mình rất nhiều kỹ năng như: kỹ năng làm
việc nhóm, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng học và tự học, kỹ năng lãnh đạo bản
thân…..Kỹ năng mềm cần thiết cho tất cả mọi người từ nam đến nữ, người già người
trẻ , cho dù bạn vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường hay bạn đã đi làm . Với các bạn sinh
viên, việc học tập trau dồi kỹ năng mềm lại càng quan trọng . Khi trở thành sinh viên,
môi trường thay đổi . Khi còn là một học sinh , chúng ta chỉ biết học thế nào cho giỏi ,
để đậu vào đại học . Được bố mẹ lo lắng chu đáo cho từng cái ăn cái mặc, cho nên
để hỗ trợ phát triển năng lực ngành nghề (như có khả năng giao tiếp để trao đổi chuyên
môn cùng bạn bè, trao đổi chuyên môn với giảng viên chuyên ngành…
b.Trong môi trường làm việc sau này.
Kỹ năng mềm đóng vai trò chất xúc tác quan trọng giúp cá nhân trang bị
những phương pháp làm việc có khoa học, nhanh chóng. Người đã được trang bị kỹ
năng mềm biết phương pháp tự tạo cho bản thân điều kiện thuận lợi, những cơ hội để
phát triển năng lực chuyên môn, và hòa nhập môi trường làm việc sản xuất một cách
nhanh chóng và thuận lợi
Trong quá trình tuyển dụng:
Hầu hết các nhà quản lý và nhà tuyển dụng đều than phiền nhân viên trẻ thiếu
và rất yếu về kỹ năng mềm, đa số không đáp ứng được yêu cầu công việc dù họ có
bằng cấp rất tốt.
Một nghiên cứu khác của L&A cho thấy, khoảng 70% sinh viên ra trường khó
xin việc vì không có kinh nghiệm và thiếu các kỹ năng cần thiết. Cơ hội tìm được công
9
việc thích hợp, lương cao, môi trường tốt ở các công ty lớn hay tập đoàn nước ngoài là
khá xa vời. Ở các công ty, tập đoàn có bề dày hoạt động lâu năm và tổ chức hoàn chỉnh,
việc một nhân viên thiếu kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, nói
chuyện trước đám đông, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng làm chủ bản thân…là hạn chế
khiến họ khó có thể hòa đồng và tồn tại lâu.
Ví dụ: Intel từng thất vọng khi tuyển 2.000 nhân viên cho dự án đầu tư vào
Việt Nam nhưng chỉ có 40 ứng viên đủ trình độ kiến thức lẫn kỹ năng mềm. 40 ứng
viên này không dễ tuyển vì các ứng viên hầu như không nhận thức được thế mạnh bản
thân, hoặc biết nhưng không thể hiện được khả năng nổi trội của mình và thường bối
rối khi nói về bản thân. Một ví dụ khác: Trong một buổi phỏng vấn tuyển dụng vào
công ty A, đang trao đổi về nghiệp vụ kinh doanh, nhà tuyển dụng bỗng bất ngờ hỏi câu
hỏi chẳng ăn nhập gì với công việc đang tuyển, ví dụ: “Theo em, khi phi một con dao
vừa dùng để phết bơ thì mặt nào sẽ tiếp đất, mặt phết bơ hay không phết bơ?”. Thật ra,
ý đồ của các nhà tuyển dụng qua những câu hỏi “vu vơ” là nhằm kiểm tra kỹ năng mềm
của các ứng viên. Sẽ không có đáp án cụ thể nào cho câu hỏi này mà ứng viên phải
hài hòa với mọi người và thể hiện một thái độ tích cực đó là điều cốt lõi cho thành công
của bạn.
Khoảng trống kỹ năng:
Khi lực lượng lao động của công ty có rất nhiều kỹ năng chuyên môn nhưng lại
thiếu các kỹ năng mềm, như vậy là có khoảng trống. Các kỹ năng mềm đồng hành cùng
các kỹ năng cứng và chính nó giúp cho các kỹ năng cững được phát huy đến hết
mức. Chẳng hạn nếu bạn rất giỏi kiếm khách hàng, nhưng lại không giỏi để giữ họ, vậy
là có khoảng trống kỹ năng. Nếu công ty bạn có tỷ lệ nhân viên bỏ việc cao trong khi
lại phải giữ những người đã quen việc, chắc chắn đó là có khoảng cách kỹ năng.
Khi bạn có rất nhiều nhà quản lý nhưng lại không có những người lãnh đạo đúng nghĩa
– đó chính là khoảng trống kỹ năng mềm.
Trên thực tế, bất kỳ khi nào bạn không thể vốn hóa các kiến thức, kinh nghiệm
và tay nghề trong nhóm, trong tổ chức thì bạn phải đánh giá lại mức độ giao tiếp và các
kỹ năng quan hệ con người (interpersonal skills) đang có trong tổ chức của mình.
11
Môi trường tổ chức làm việc đã tạo ra những động lực về kỹ năng quan hệ con
người mà chúng ta không thể xem nhẹ. Hành động lắng nghe, trình bày ý tưởng, giải
quyết mâu thuẫn và thúc đẩy một môi trường làm việc cởi mở và trung thực tất cả đều
nằm ở chỗ làm thế nào để giữ được mối quan hệ giữa con người với nhau. Đó là những
mối quan hệ cho phép người ta tham gia một cách đầy đủ vào các dự án, đề án của
nhóm, thể hiện sự tôn trọng và đánh giá cao người khác và sẵn sàng giúp đỡ nhau trong
công việc. Là một người quản lý, bạn càng phải nhận thức được vai trò kỹ năng mềm
quan trọng thế nào trong đội nhóm, trong tổ chức của mình và bạn không chỉ phải phát
triển các kỹ năng đó cho riêng mình mà phải cả trong tổ chức. Những lĩnh vực kỹ năng
bạn cần quan tâm là:
Trách nhiệm giải trình của cá nhân.
Mức độ hợp tác.
Kỹ năng đàm phán cá nhân
Giải quyết mâu thuẫn.
Khả năng thích ứng và linh hoạt.
4. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
5. Kỹ năng tư duy sáng tạo (Creative thinking skills)
6. Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem)
7. Kỹ năng đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc (Goal setting/ motivation
skills)
8. Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp (Personal and career development
skills)
9. Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (Interpersonal skills)
10. Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork)
11. Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)
12. Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả (Organizational effectiveness)
13. Kỹ năng lãnh đạo bản thân (Leadership skills)
13
Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ cũng đã thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn
luyện các Kỹ năng Cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary
Skills - SCANS). Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo
dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức… nhằm mục đích “thúc đẩy
nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao”.
(http://wdr.doleta.gov/SCANS/)
Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA)
và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and
Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the
Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia
Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng
hành nghề cho tương lai” (năm 2002). Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà
người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có. Kỹ năng hành nghề (employability
skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong
tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến
lược của tổ chức. Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8 kỹ năng như sau:
1. Kỹ năng giao tiếp (Communication skills)
lao động. Bộ Đổi mới, Đại học và Kỹ năng được chính chủ thành lập từ ngày
28/6/2007, đến tháng 6/2009 thì được ghép với Bộ Kinh tế, Doanh nghiệp và Đổi mới
Pháp chế để tạo nên bộ mới là Bộ Kinh tế, Đổi mới và Kỹ năng. Bộ này chịu trách
nhiệm về các vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, một phần của giáo dục
nâng cao, kỹ năng, khoa học và đổi mới. (Nguồn: http://www.dius.gov.uk/). Cơ quan
chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) cũng
đưa ra danh sách các kỹ năng quan trọng bao gồm:
1. Kỹ năng tính toán (Application of number)
2. Kỹ năng giao tiếp (Communication)
15
3. Kỹ năng tự học và nâng cao năng lực cá nhân (Improving own learning
and performance)
4. Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information and
communication technology)
5. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving)
6. Kỹ năng làm việc với con người (Working with others)
Chính phủ Singapore có Cục phát triển lao động WDA (Workforce
Development Agency) WDA đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS
(Singapore Employability Skills System) gồm 10 kỹ năng
(http://wsq.wda.gov.sg/GenericSkills / ):
1. Kỹ năng công sở và tính toán (Workplace literacy & numeracy)
2. Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information &
communications technology)
3. Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định (Problem solving & decision
making)
4. Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative & enterprise)
5. Kỹ năng giao tiếp và quản lý quan hệ (Communication & relationship
management)
6. Kỹ năng học tập suốt đời (Lifelong learning)
7. Kỹ năng tư duy mở toàn cầu (Global mindset)
2. Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership &
Personal branding)
3. Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills)
4. Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising
skills)
5. Kỹ năng lắng nghe (Listening skills)
6. Kỹ năng thuyết trình (Presentation skills)
17
7. Kỹ năng giao tiếp và ứng xử (Interpersonal skills)
8. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
9. Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork)
10. Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)
Như vậy ngoài những kiến thức chuyên môn, người lao động cần phải được
trang bị thêm các kỹ năng hành nghề để đảm bảo có được việc làm mà còn để tiến bộ
trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng
chiến lược của tổ chức góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Lâu nay chúng ta chỉ nghĩ đến xuất khẩu lao động, nhưng một thực tế mới đang
thách đố người lao động Việt Nam là trong thời kỳ khủng hoảng người nước ngoài
đang đến tranh chỗ làm việc của ta. Chúng ta có thể bị thua ngay trên sân nhà. Rõ ràng
10 kỹ năng mềm thiết yếu này không những chỉ giúp người lao động nâng cao năng
suất, hiệu quả công việc mà thực chất là giúp ích rất nhiều trong mọi khía cạch cuộc
sống ở gia đình ngoài xã hội tại công sở, nâng cao đáng kể chất lượng cuộc sống và văn
hóa xã hội, góp phần thay đổi diện mạo con người Việt Nam.
(1) Kỹ năng học và tự học
Nhẩm tính sơ lược, ở cấp học phổ thông, mỗi học trò phải đọc trên 60 quyển
sách. Bốn năm đại học, mỗi sinh viên phải học và đọc trung bình trên 100 quyển sách.
Với những con số biểu tượng cho sự khổng lồ của kiến thức trong cuộc đời đi học, mỗi
học trò, mỗi con người cần tìm cho mình những công cụ, phương pháp, mà quan trọng
nhất là kỹ năng học và tự học để lãnh hội hết những kiến thức chuyên môn dành cho
mình.
mài lao động, có trách nhiệm với bản thân, có cái nhìn tích cực và lạc quan, xây dựng
phong cách làm việc chuyên nghiệp, sống hòa đồng với tập thể. Khi đã xây dựng và
phát triển được thương hiệu cá nhân cũng là lúc bạn đã có vị thế trong lĩnh vực nghề
nghiệp, được nhiều người xem là một tấm gương để vươn đến hoặc thậm chí là đánh
bật bạn ra khỏi vị trí của mình. Chính vì vậy, càng được biết đến thì càng nên cẩn trọng
và không ngừng phấn đấu.
Bạn có thể trở thành người lãnh đạo ở nhiều lĩnh vực, cấp độ khác nhau, nhưng
trước hết cần phải lãnh đạo được chính bản thân mình. Lãnh đạo bản thân là tự mình
19
chiến thắng sự yếu kém, buồn chán, cám dỗ... để thực hiện những mục tiêu lâu dài mà
mình đã đặt ra. Có bạn cho rằng, để lãnh đạo bản thân, quan trọng nhất là phải rèn được
ý chí và quan niệm sống đúng đắn. Bạn khác thì chia sẻ kinh nghiệm: “Chỉ cần đặt ra
nguyên tắc sống đúng đắn và tuân thủ theo những nguyên tắc đó thì đã chiến thắng
được chính mình”. Lãnh đạo bản thân giúp con người khám phá thế giới bên trong để
hiểu mình hơn. Từ những nhận thức đúng đắn về mình sẽ giúp bản thân có thể xây
dựng cho mình kế hoạch hành động nhằm đạt được những mục tiêu và ước mơ trong
cuộc sống. giúp con người tư duy tích cực hơn để sống tự tin, hạnh phúc và thành đạt.
(3) Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm
Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm bao gồm trong nó nhiều kỹ năng. Đầu
tiên phải kể tới kĩ năng thường được gọi là "khả năng liên kết". Nó thuộc dạng kĩ năng
có được sau quá trình tích lũy kinh nghiệm, cho phép một số người có khả năng sáng
tạo hình thành những mối liên kết giữa những câu hỏi, vấn đề hay các ý tưởng dường
như chẳng có mối liên quan nào. Kế đến phải kể tới là kĩ năng đặt câu hỏi - những câu
hỏi mang tính thách thức tình thế hiện tại và mở ra một bức tranh rộng lớn hơn như
"Tình hình sẽ như thế nào nếu...", "Tại sao...", "Tại sao lại không...". Nằm thứ ba trong
danh sách này là khả năng nhìn thấu các tiểu tiết, đặc biệt là về hành vi, lối ứng xử của
con người. Ngoài ra, khả năng trải nghiệm cũng là một yếu tố cấu thành thiết yếu.Và
cuối cùng, những người đột phá thành công thường thực sự giỏi trong việc xây dựng
mối quan hệ với những người ít nhiều có nét tương đồng với họ và chắc chắn có gì đó
để họ học hỏi.
khai thành các lớp học, các hội nghị chuyên đề ở các cơ quan, tổ chức xã hội, chính trị,
chính trị - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của cá nhân hay tập thể. Ở các
trường trung học của các nước phát triển, một số phương pháp quan trọng như tập kích
não, giản đồ ý cũng đã được áp dụng cho học sinh biết cách áp dụng dưới dạng thô sơ;
đồng thời cũng đã có nhiều cơ sở giáo dục tư thục giảng dạy các chuyên đề về phương
pháp tư duy sáng tạo cho học viên mọi lứa tuổi.
(4) Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc
Việc nhà, việc cơ quan, xã hội, có quá nhiều việc cần làm và con người hiện
đại dường như không đủ thời gian để cân bằng cuộc sống. Ai cũng có hàng núi công
việc phải giải quyết nhưng số người cảm thấy hoàn thiện và thoả mãn là rất ít. Không
21