Mã lớp học
phần:
202
Số thứ tự theo danh sách
lớp học phần
28
Tên học viên: Trịnh Thùy Linh Mã số học viên: NVSP28
TÂM LÝ GIÁO DỤC HỌC ĐẠI HỌC
TS. HUỲNH VĂN SƠN
NHỮNG YÊU CẦU VỀ PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH
CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC
Loại Tiểu luận : Cuối kì Giữa kì
Tiểu luận này được hoàn thành vào ngày 08/10/2012
NHỮNG YÊU CẦU VỀ PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH
CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC
Mở đầu
Một điều mà bất cứ ai cũng hiểu chất lượng đội ngũ giảng viên (thể hiện ở đạo đức
nghề giáo và năng lực dạy học) là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định
chất lượng đào tạo ở các bậc học trong đó bao hàm cả Đại học và Cao đẳng.
Nghiên cứu các làng có truyền thống hiếu học và khoa bảng cho thấy, thời phong
kiến, những người dạy học được tự do hành nghề, hoặc tại làng, hoặc tại các làng trong
vùng; khá nhiều trường hợp, các ông đồ từ Thanh Hóa, Nghệ An ra các làng quê ven Hà
Nội dạy học.
Qua hàng nghìn năm nuôi các thế hệ con em ăn học, cha ông ta đã tổng kết "Thầy
nào trò đó". Không phải ngẫu nhiên mà xưa kia, các bậc cha mẹ tìm, chọn thầy cho con rất
kỹ lưỡng: phải là những thầy "văn hay, chữ tốt", có nhân cách, có ảnh hưởng rộng lớn trong
làng xóm.
Điều quan trọng nhất, họ lấy sự thành đạt của học trò làm niềm vui, vinh dự nghề
nghiệp và cũng là sự thành đạt của mình. Không một tổ chức, cơ quan chuyên môn hay cơ
quan hành chính nào quản lý, giám sát việc dạy của các thầy, nhưng các thầy luôn biết "giữ
nhận dạy, có chế độ khen thưởng hay kỷ luật thỏa đáng. Kiên quyết không để người không
Trang 3
đủ năng lực chuyên môn, tư cách đạo đức kém đứng trên bục giảng. Có như vậy, thì chất
lượng đào tạo ở bậc học này mới thật sự đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới.
Và chính vì thế, chúng ta cần có một đội ngũ giảng viên đáp ứng được các tiêu chí
trên.
1. Phẩm chất nhân cách của người giảng viên đại học
1.1 Thế giới quan khoa học
Đối với giảng viên, quan trọng là phải có thế giới quan khoa học. Thế giới quan của
người thầy giáo là thế giới quan Mác – Lênin, bao hàm những quan điểm duy vật biện
chứng về các quy luật tự nhiên – xã hội và tư duy. Dựa trên những quan điểm day vật biện
chứng về các quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy, người giảng viên phải co 1cách nhìn nhận
thế giới một cách khoa học.Thế giới quan của người thầy giáo được hình thành dưới ảnh
hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như; trình độ học vấn của thầy; hoàn cảnh chính trị - xã
hội đất nước,… Thế giới quan của người giảng viên chi phối nhiều mặt hoạt động cũng như
thái độ của họ đối với các hoạt động đó, như việc lựa chọn nội dung và phương pháp giảng
dạy, việc kết hợp giữa giảng dạy, giáo dục với các nhiệm vụ chính trị xã hội, gắn nội dung
giảng dạy lý thuyết với thực hành. Thế giới quan Mác – Lênin là kim chỉ nam giúp giảng
viên đi tiên phong trong đội ngũ những người xây dưng xã hội chủ nghĩa; xây dựng niềm
tin cho thế hệ trẻ đang lớn, chống lại những biểu hiện tiêu cực của những tư tưởng lạc hậu
trong xã hội.
1.2 Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ
Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ là hạt nhân trong cấu trúc nhân cách của người giảng
viên. Lý tưởng là ngôi sao dẫn đường giúp cho người giảng viên luôn đi về phía trước, thấy
hết được giá trị lao động của mình với thế hệ trẻ; mặt khác cũng thấy được giá trị của người
thầy giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách sinh viên.
Trang 4
Biểu hiện: là niềm say mê nghề nghiệp, lòng tin yêu sinh viên, lương tâm nghề
nghiệp và sự tận tụy với người học; phong cách làm việc cần cù, có trách nhiệm; lối sống
giản dị và chân tình,…
viên tốt”.
2. Năng lực của ngường giảng viên đại học
Có nhiều quan điểm khác nhau về các nhóm năng lực của người giảng viên đại học.
Sau đây xét những năng lực điển hình trong các nhóm năng lực sư phạm:
2.1 Nhóm năng lực dạy học
2.1.1 Nhóm năng lực sư phạm
2.1.1.1 Năng lực hiểu sinh viên trong quá trình dạy học
Dạy học là một quá trình tương tác giữa người dạy và người học, vì vậy giảng viên
cần phải hiểu được sinh viên của mình. Năng lực hiểu sinh viên được biểu hiện ở việc giảng
viên nắm được sinh viên mong muốn gì, khối lượng kiến thức đã có, phạm vi lĩnh hội của
sinh viên, dự đoán được mức độ khối lượng kiến thức cần trình bày.
Trang 6
2.1.1.2 Tri thức và tầm hiểu biết của thầy giáo
Lao động của giảng viên là lao động trí óc chuyên nghiệp nên đòi hỏi giảng viên
phải có năng lực trí tuệ vượt trội, hay nói một cách khácgiảng viên ưu tú phải là người có trí
tuệ phát triển cao. Năng lực trí tuệ của giảng viên thể hiện rõ qua tri thức và tầm hiểu biết.
Hiểu sâu, biết rộng là năng lực cơ bản của năng lực giảng dạy. Để có được năng lực trí tuệ
phát triền, giảng viên phải tích cực tự học, tự bồi dưỡng để bổ túc và hoàn thiện tri thức của
mình.
2.1.1.3 Năng lực thiết kế bài dạy
Năng lực thiết kế bài dạy là sự gia công trí tuệ của giảng viên đối với tài liệu, thay
đổi hình thức và nội dung, lựa chọn phương pháp giảng dạy sao cho nó phù hợp tối đa với
trình độ, đặc điểm nhân cách của sinh viên mà vẫn đảm bảo chuẩn về mặt kiến thức, kỹ
năng và logic sư phạm.
Năng lực thiết kế bài dạy được thể hiện trước tiên ở việc giảng viên xác định được
mối quan hệ giữa yêu cầu chuẩn về mặt kiến thức và kỹ năng của môn học với trình độ
nhận thức của sinh viên, trên cơ sở đó thiết kế nội dung bài giảng sao cho bài giảng có sức
lôi cuốn sinh viên và sinh viên dễ tiếp thu nhất, mà vẫn đảm bảo được logic nhận thức,
logic sư phạm.
Như vậy, đòi hỏi giảng viên phải có trí tuệ cao, tư duy độc lập, sang tạo, có nền tảng
vực hoạt động đặc trưng của giáo dục đại học. Với hoạt động này, các trường Đại học
không chỉ là trung tâm đào tạo mà còn là trung tâm nghiên cứu khoa học, sản xuất, sử dụng,
phân phối, xuất khẩu và chuyển giao công nghệ mới hiện đại.
Nghiên cứu khoa học thực sự là nhiệm vụ đầy thách thức đối với giảng viên. Để
nghiên cứu khoa học hiệu quả, giảng viên cần phải nắm vững phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu khoa học, biết cách viết đề cương nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu, biết
cách trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu, sau đó cần phổ cập kết qủa nghiên cứu với
cộng đồng.
Năng lực nghiên cứu khoa học luôn gắn liền với năng lực học tập, bồi dưỡng nâng
cao trình độ. Để có những công trình nghiên cứu khoa học chất lượng đòi hỏi người giảng
viên phải có khả năng tự học, học mãi không ngừng. Với phương châm ”học tập suốt đời”,
giảng viên cần phải rèn luyện cho mình các kĩ năng tự học, học từ xa, vừa học vừa làm,….
Tự học sẽ tạo điều kiện cho tư duy độc lập, sáng tạo phát triển. Tự học vừa là quá trình
hoàn thiện mình vừa là nêu gương cho sinh viên.
2.1.4 Năng lực hoạt động xã hội
Tích cực tham gia đóng góp để phục vụ xã hội, phát triển cộng đồng cũng là một
nhiệm vụ quan trọng của giảng viên. Muốn đóng góp hữu ích cho xã hội đòi hỏi người
Trang 9
giảng viên phải được trang bị những kĩ năng sống, đặc biệt là những kĩ năng xã hội như kĩ
năng hợp tác, kĩ năng gây thiện cảm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thích ứng xã hội….Những
kĩ năng này giúp cá nhân nhanh chóng hội nhập, thích nghi với những điều kiện sống và
hoạt động của xã hội hiện đại và phát triển bản thân.
2.2 Sự hình thành uy tín của người giảng viên đại học
Muốn hình thành uy tín người giảng viên phải có những điều kiện sau đây:
- Thương yêu học sinh và tận tụy với nghề
- Công bằng trong đối xử (không thiên vị, không thành kiến, không cảm tính)
- Phải có chí tiến thủ (có nguyện vọng tự phát triển, nhu càu về mở rộng tri thức và
hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp)
- Có phương pháp và kỹ năng tác động trong dạy học và giáo dục hợp lý, hiệu quả và
sáng tạo.