ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LƢƠNG THỊ PHƢƠNG THẢO
QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
Chuyên ngành: Tài chính & Ngân hàng
Mã số : 60 34 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ THƢ Hà Nội – 2013
17
1.3 Kiểm định các giả thiết về khả năng thanh khoản
32
1.3.1 Kiểm định về chỉ số trạng thái tiền mặt
33
1.3.2 Kiểm định về chỉ số năng lực cho vay
34
1.3.3 Kiểm định về chỉ số dư nợ/tiền gửi khách hàng
34
1.3.4 Kiểm định về chỉ số chứng khoán thanh khoản
34
Kết luận Chương 1
35
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động
của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
36
2.1 Khái quát về hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Á
Châu
36
2.2 Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương
mại cổ phần Á Châu giai đoạn 2009 – 2011
40
2.2.1 Quy định về hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân
40
hàng thương mại cổ phần Á Châu
2.2.2 Các chỉ số đo lường thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản
của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
41
2.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng
tích kịch bản (“what if” analysis)
67
3.2.2 Xét tới cả các yếu tố bên trong ngân hàng và bên ngoài (liên
quan tới thị trường)
68
3.2.3 Kế hoạch ứng phó tình trạng khẩn cấp thanh khoản
71
3.2.4 Đánh giá xác suất diễn biến của các dòng tiền để gán một lịch
trình các dòng tiền của từng loại tài sản và nợ.
73
3.2.5 Gắn rủi ro thanh khoản với rủi ro thị trường trong quản trị
74
3.3 Biện pháp của cơ quan quản lý: Chính phủ và Ngân hàng Nhà
nước
76
KẾT LUẬN
79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
PHỤ LỤC
5
BIDV
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
6
CTG
Ngân hàng Công thương Việt Nam
7
DTBB
Dự trữ bắt buộc
8
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
9
HĐQT
Hội đồng quản trị
10
MBB
Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
11
NH
Ngân hàng
12
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
13
NHTM
Ngân hàng thương mại
14
NHTW
Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 1.1
Bảng thống kê mô tả về các hệ số an toàn và
chỉ số thanh khoản trung bình
33
2
Bảng 2.1
Số tiền tối thiểu cho mỗi lần điều vốn
41
3
Bảng 2.2
Các chỉ số đo lường thực trạng quản trị rủi ro
thanh khoản của ngân hàng thương mại cổ
phần Á Châu
41
4
Biểu 2.1
Vốn tự có của top 10 ngân hàng
Chỉ số chứng khoán thanh khoản - H6
49
12
Biểu 2.9
Chỉ số trạng thái ròng đối với các TCTD - H7
50
13
Biểu 2.10
Chỉ số (tiền mặt+tiền gửi tại các TCTD)/tiền
gửi khách hàng
51
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản là yếu tố quyết định sự an toàn
trong hoạt động của bất kỳ ngân hàng thương mại nào. Trong tình hình hiện
nay, nhiều ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng căng thẳng thanh
khoản, khi mà sự cạnh tranh khốc liệt về thu hút tiền gửi buộc các ngân hàng
phải tìm kiếm các nguồn tài trợ khác. Khả năng thanh khoản không hợp lý là
dấu hiệu đầu tiên của tình trạng bất ổn về tài chính. Cùng với sự phát triển của
thị trường tài chính, cơ hội và rủi ro trong quản trị thanh khoản của các ngân
hàng thương mại cũng gia tăng tương ứng. Điều này cho thấy tầm quan trọng
của việc kế hoạch được nhu cầu thanh khoản bằng các phương pháp mang
tính ổn định và chi phí thấp để tài trợ cho hoạt động của các ngân hàng
- Nguyễn Thị Mùi (2008). Thị trường Tài chính - Tiền tệ, số 10 trang 18 -
20: “Ổn định thanh khoản: Yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của các
ngân hàng thương mại Việt Nam”.
- PGS.TS Nguyễn Đắc Hưng (2008). “Phân tích nguyên nhân ảnh hưởng
đến thanh khoản của ngân hàng thương mại”.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ mới đề cập sơ lược lý thuyết về công
tác quản trị rủi ro thanh khoản mà chưa đi sâu vào nghiên cứu các chuẩn mực
quốc tế áp dụng trong việc đo lường, đánh giá, kiểm soát rủi ro thanh khoản
tại các ngân hàng thương mại hiện nay. Từ năm 2009 đến nay thị trường tài
chính cũng đã có những biến đổi khác biệt mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nhằm nghiên cứu những vấn đề lý thuyết cơ bản về quản trị rủi ro
thanh khoản tại ngân hàng thương mại, thông qua việc hệ thống hóa lý
4
thuyết và các chuẩn mực quốc tế trong chính sách quản trị rủi ro thanh
khoản và các bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới cũng như cái
nhìn thực tế cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn thời gian qua. Qua việc đánh
giá thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản và các nguy cơ rủi ro thanh khoản
tiềm ẩn tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, từ đó đề xuất một số kiến
nghị, giải pháp quản trị rủi ro thanh khoản phù hợp, khả thi. Mục tiêu, nhiệm
vụ của đề tài:
Tìm ra giải pháp quản trị rủi ro thanh khoản khả thi cho ngân hàng thương
mại cổ phần Á Châu.
Xác định được thời điểm và cách quản trị rủi ro thanh khoản thích hợp với
ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: bản chất của giải pháp quản trị rủi ro thanh khoản
khả thi cần xem xét và làm rõ; phân tích nội dung cơ bản của quản trị rủi ro
thanh khoản trong kinh doanh ngân hàng; đánh giá tính thanh khoản và hoạt
thập và giải thích dữ liệu. Nghiên cứu hồi cứu kiểm tra nguy cơ có thể và các
biến bảo vệ liên quan đến một kết quả đã được thành lập tại thời điểm bắt đầu
nghiên cứu.
Cần phải được thực hiện cẩn thận cụ thể với các nghiên cứu hồi cứu vì
những lỗi do nhiễu và thiên vị là phổ biến hơn trong các nghiên cứu hồi cứu
hơn là trong các nghiên cứu tiền cứu tương lai.
Ưu điểm
Nghiên cứu hồi cứu, có những ưu điểm tốt khi so sánh với các nghiên cứu
tiền cứu tương lai, bao gồm cả quy mô nhỏ hơn mà nghiên cứu hồi cứu
thường đòi hỏi. Một lợi ích quan trọng của nghiên cứu hồi cứu là thường đòi
hỏi ít thời gian để hoàn thành. Một ưu điểm khác là nghiên cứu hồi cứu là tốt
6
hơn cho phân tích nhiều kết quả. Và một trong những lợi ích lớn nhất đối với
một nghiên cứu hồi cứu trong một bối cảnh kinh tế là khả năng để giải quyết
các chỉ tiêu quan tâm hiếm, mà sẽ đòi hỏi đội quân rất lớn trong các nghiên
cứu tiền cứu tương lai. Trong nghiên cứu này, chỉ tiêu quan tâm đã được xác
định, do đó, các nghiên cứu hồi cứu đặc biệt hữu ích trong việc giải quyết chỉ
tiêu quan tâm tỉ lệ thấp. Thực tế là nghiên cứu hồi cứu nói chung là ít tốn kém
hơn so với các nghiên cứu tiền cứu cũng có thể là một lợi ích quan
trọng. Những nghiên cứu này có xu hướng ít tốn kém một phần là do kết quả
và yếu tố quan tâm đã xảy ra, và các nguồn lực chủ yếu hướng vào thu thập
dữ liệu. Ngoài ra, nó có về cơ bản tất cả những lợi ích của một nghiên cứu
đoàn hệ (thống kê)
Nhược điểm
Nghiên cứu hồi cứu cũng có những nhược điểm như là nghiên cứu tiền
cứu. Trong số những khó khăn là một số số liệu thống kê quan trọng không
thể được đo, và những thành kiến đáng kể có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn
của các yếu tố kiểm soát được. Ngoài ra, những thành kiến lớn với các nghiên
cứu hồi cứu có thể ảnh hưởng đến việc thu hồi tiếp xúc với cựu biến nguy
Phân tích tổng hợp cũng không phải là không có những khiếm khuyết. Nếu
các dữ liệu được sử dụng trong phân tích không có chất lượng cao thì kết quả
phân tích tổng hợp cũng chẳng có giá trị khoa học gì. Do đó, vấn đề quan
trọng nhất trong phân tích tổng hợp là chọn dữ liệu và nghiên cứu để phân
tích. Vấn đề này cần phải được cân nhắc cực kì cẩn thận để đảm bảo tính hợp
lý và khoa học của kết quả.
6. Đóng góp mới của luận văn
8
Làm rõ cơ sở lý luận của công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân
hàng thương mại và khung lý thuyết để đánh giá công tác quản trị rủi ro thanh
khoản tại các ngân hàng thương mại.
Áp dụng khung lý thuyết vào quản trị rủi ro thanh khoản ngân hàng và chỉ
ra các điểm hạn chế tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu hiện nay.
Giải pháp khả thi cho công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng
thương mại cổ phần Á Châu hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết quả
nghiên cứu đề tài được bố cục thành 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động
của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân
hàng thương mại cổ phần Á Châu.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản
trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu.
chính sách, ngân hàng hợp tác xã” (Khoản 2 Điều 4). Luật các tổ chức tín
dụng còn xác định “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số
hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân
dân” (Khoản 1 Điều 4) và “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung
10
ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây a/ Nhận tiền gửi. b/
Cấp tín dụng. c/ Cung ứng dich vụ thanh toán qua tài khoản” (Khoản 12 Điều
4).
Đạo luật ngân hàng của Cộng hòa Pháp khẳng định ngân hàng thương mại
là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công
chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới hình thức khác và sử dụng nguồn lực
đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.
Như vậy, ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian quan
trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian
này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động,
tập trung lại, đồng thời số vốn đó được sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ
chức kinh tế và cá nhân với mục đích phát triển kinh tế xã hội.
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và hệ thống ngân hàng phát
triển, ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản chức năng trung gian tín
dụng, chức năng trung gian thanh toán và chức năng cung ứng dịch vụ ngân
hàng.
* Chức năng trung gian tín dụng: ngân hàng thương mại đóng vai trò trung
gian trong việc tập trung, huy động các nguồn tiền tệ tạm thời, nhàn rỗi trong
nền kinh tế, bao gồm tiền tiết kiệm của dân cư, vốn bằng tiền của các đơn vị,
tổ chức kinh tế; biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng),
đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu
cầu vốn tiêu dùng của xã hội.
một NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm việc
giữ tài sản thanh khoản và khả năng huy động mới. Đó là các khoản vốn, các
nguồn cung cấp làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, bao gồm:
12
- Các khoản tiền gửi đang đến.
- Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi.
- Thu hồi các khoản tín dụng đã cấp.
- Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng.
- Vay mượn trên thị trường tiền tệ.
Trong các nguồn cung thanh khoản trên, luồng tiền thu về từ huy động vốn
tiền gửi chiếm khối lượng lớn và là nguồn cung thanh khoản mới chủ yếu của
ngân hàng.
Cầu về thanh khoản: cầu về thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục
đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng. Thông
thường, trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động tạo ra cầu
về thanh khoản bao gồm:
- Khách hàng rút tiền từ tài khoản.
- Yêu cầu vay vốn từ những khách hàng có chất lượng tín dụng cao.
- Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi.
- Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ.
- Thanh toán tổ tức bằng tiền.
Trong các nhu cầu thanh khoản mà ngân hàng phải đối mặt trên, lượng tiền
cần để giải ngân cho các hợp đồng tín dụng chiếm số lượng lớn.
* Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản
Những nguyên nhân tiền đề: thanh khoản của một ngân hàng phải đối mặt
với rủi ro có thể do các nguyên nhân cơ bản sau đây:
Một là, sự không cân xứng về kỳ hạn giữa TSC và TSN, ngân hàng vay
mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài
chính khác; sau đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn. Cho
khác, trên bảng cân đối kế toán của NHTM, bên TSN luôn có một tỷ lệ nhất
14
định các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn nhưng có thể rút
trước hạn. Đây là những TSN mà NHTM có nghĩa vụ phải trả ngay lập tức
nếu khách hàng có nhu cầu rút, vì thế NHTM luôn luôn phải sẵn sàng đáp ứng
nhu cầu thanh khoản.
Những nguyên nhân từ hoạt động: rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ
hoạt động bên tài sản và nguồn vốn của NH.
- Nguyên nhân bên tài sản: rủi ro thanh khoản phát sinh liên quan đến các cam
kết tín dụng. Một cam kết tín dụng cho phép người vay tiến hành rút tiền vay
bất cứ lúc nào trong thời hạn của nó. Khi một cam kết tín dụng được người
vay thực hiện,thì NH phải bảo đảm có đủ tiền ngay tức thời để đáp ứng nhu
cầu của khách hàng, nếu không NH phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Để
đáp ứng nhu cầu thanh khoản bên tài sản, NH có thể giảm số dư tiền mặt,
chuyển hoá các tài sản khác thanh tiền hoặc đi vay các nguồn vốn bổ sung
trên thị trường tiền tệ.
Một dạng khác của rủi ro thanh khoản bên tài sản phát sinh từ sự giảm sút
giá trị thị trường của danh mục đầu tư. Khi lãi suất thay đổi (tăng) ngoài dự
tính, giá trị của danh mục đầu tư giảm sút, có thể gây thiệt hại lớn. Thanh
khoản thị trường có thể xấu đi, vì không có người mua trong khi nhiều người
muốn bán (hành vi bầy đàn). Thanh khoản cạn, các chứng khoán chỉ bán được
với giá rẻ làm rủi ro thanh khoản của ngân hàng tăng.
- Nguyên nhân bên nguồn vốn (bên nợ): Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh
bất cứ khi nào khi những người gửi tiền thực hiện rút tiền ngay lập tức. Khi
những người gửi tiền rút tiền đột ngột, buộc NH phải đi vay bổ sung hoặc bán
bớt tài sản (chuyển hoá tài sản thành tiền mặt) để đáp ứng khả năng thanh
khoản. Trong tất cả các nhóm thuộc loại tài sản, thì tiền mặt có mức độ thanh
khoản cao nhất, chính vì vậy, NH sử dụng tiền là phương tiện đầu tiên và trực
tiếp để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Nhưng đáng tiếc là tiền mặt không
số tiền mà NHNN trả cho NHTM làm tăng cung tiền cho nền kinh tế đồng
thời cũng làm tăng cung thanh khoản cho NHTM. Ngược lại, khi muốn giảm
cung tiền, NHNN bán trái phiếu cho các NHTN, số tiền mà NHNN thu về làm
cung ứng tiền tệ của nền kinh tế đồng thời cũng làm giảm cung thanh khoản
của NHTM.
Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc là biện pháp điều chính mà NHNN bắt
buộc các NHTM phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại NHNN.
Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc quy định cao thì sẽ làm cho nguồn cung thanh khoản
của NHTM tăng và ngược lại.
Áp dụng lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là lãi suất mà NHNN áp dụng
khi chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá từ NHTM. Nếu lãi suất
này thấp, tức chi phí vay tiền từ NHNN rẻ, đây sẽ là nguồn vốn giá rẻ mà các
NHTM có thể dễ dàng huy động để đáp ứng cầu thanh khoản.
- Ngoài ra, những sự cố khách quan khác cũng có thể là yếu tố làm gia tăng
rủi ro thanh khoản cho NHTM như các tin đồn thất thiệt…
Nhân tố chủ quan
- Cơ cấu khách hàng và chất lượng tín dụng kém. Ngân hàng tập trung tín
dụng vào một số khách hàng lớn hoặc tỷ trọng tín dụng cho một ngành, một
địa phương nào đó chiếm phần lớn trong tổng dư nợ hoặc trong tổng huy
động có một khách hàng chiếm tỷ trọng lớn, đến khi họ rút một cách bất ngờ
thì dẫn đến rủi ro thanh khoản.
- Rủi ro mất cân đối trong cơ cấu tài sản. Điều này xuất phát hầu hết từ áp
lực lợi nhuận ngắn hạn của cổ đông lên ban điều hành mà quên mất những
nguyên tắc trong quản trị TSN và TSC. Trong danh mục tài sản của mình,
ngân hàng có phần đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu, trong đó quan trọng nhất
là trái phiếu chính phủ và/hoặc tín phiếu kho bạc. Trái phiếu chính phủ/ tín
phiếu kho bạc mặc dù lãi suất không hấp dẫn nhưng nó lại là một nguồn cực
17
một trạng thái thanh khoản ròng thích hợp sao cho vừa đảm bảo an toàn và
vừa có lợi nhuận là tối đa. Tuy nhiên công việc này không hề đơn giản,
RRTK luôn tiềm ẩn trong hoạt động thường ngày của ngân hàng. Chính vì
vậy, quản trị thanh khoản vào cuộc. QTRRTK là quá trình nhận dạng, đo
lường, kiểm soát và tài trợ những nguy cơ rủi ro về việc ngân hàng không thể
đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nhu cầu thanh khoản cho khách hàng; là quy
trình tác động liên tục, có chủ đích của các nhà quản trị ngân hàng lên các
nguồn cung và nguồn cầu thanh khoản nhằm đảm bảo các yêu cầu thanh toán,
chi trả và yêu cầu cấp tín dụng của ngân hàng với những hao tổn nhỏ nhất.
Bản chất của hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản trong ngân hàng
Các dòng tiền vào - ra liên tục và không bao giờ hoàn toàn cân bằng nhau.
Hiếm khi nào tại một thời điểm mà tổng cung thanh khoản bằng với tổng cầu
thanh khoản. Do vậy, ngân hàng phải thường xuyên đối mặt với tình trạng
thâm hụt hay thặng dư thanh khoản. QTRRTK là đảm bảo sự cân đối của các
dòng tiền.
Thanh khoản và khả năng sinh lời là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với nhau,
nghĩa là một tài sản có tính thanh khoản càng cao thì khả năng sinh lời của tài
sản đó càng thấp và ngược lại; một nguồn vốn có tính thanh khoản càng cao
thì thường có chi phí huy động càng lớn và do đó, làm giảm khả năng sinh lời
khi sử dụng để cho vay. Để có thể duy trì được trạng thái thanh khoản an
toàn, ngân hàng phải chịu một chi phí cơ hội lớn và chi phí này cần được
quản lý tốt để đảm bảo lợi nhuận thu về là lớn nhất có thể. QTRRTK là quản
lý chi phí, lợi nhuận.
19
Ngân hàng cần dự trữ thanh khoản để chi trả những chi phí thường xuyên,
như lãi tiền gửi…, và cả những cú sốc thanh khoản không mong đợi, như một
cuộc rút tiền hàng loạt hay yêu cầu vay vốn lớn. Một ví dụ điển hình cho cú
sốc thanh khoản là nhiều người đổ xô đến ngân hàng rút tiền ở cùng một thời
điểm. Trong hoàn cảnh đó, hầu như không một ngân hàng nào có thể đáp ứng