Cải cách ngành bưu chính viễn thông của một số nước đang phát triển kinh nghiệm đối với Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*******************

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
CẢI CÁCH NGÀNH BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội - 2008
1
MỤC LỤC

2.1. CẢI CÁCH NGÀNH BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG CỦA MỘT SỐ NƢỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN CÓ NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI Ở TRUNG VÀ ĐÔNG ÂU 39
2.1.1. Bối cảnh của các nƣớc Trung và Đông Âu những năm 1980 -1990. 39
2.1.2. Quá trình cải cách cơ cấu 40
2.1.3. Cải cách ngành bƣu chính viễn thông ở một số nƣớc cụ thể 41
2.2. CẢI CÁCH NGÀNH BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG TRUNG QUỐC
53
2.21. Quan điểm về cải cách và phát triển ngành BCVT của Trung Quốc 53
2.2.2. Sự nhảy vọt có tính lịch sử của thông tin BCVT Trung Quốc 56
2.2.3. Những bài học kinh nghiệm 64
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ CẢI CÁCH NGÀNH BƢU CHÍNH VIỄN
THÔNG CỦA MỘT SỐ NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN CÓ NỀN KINH TẾ CHUYỂN
ĐỔI 71
2.3.1. Về quản lý 71
2.3.2. Về thị trƣờng 72
2.3.3. Về vốn 72
CHƢƠNG 3. 74
VẬN DỤNG KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG QUÁ TRÌNH 74
CẢI CÁCH CỦA NGÀNH BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM 74
3.1. QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH NGÀNH BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM 74 2
3.1.1. Mục tiêu của cải cách Ngành Bƣu chính Viễn thông (BCVT) 74
3.1.2. Những bƣớc cải cách ban đầu của Ngành BCVT Việt Nam 74
3.1.3. Các chính sách đã áp dụng để thực hiện cải cách 75
3.1.4. Đánh giá tổng quát quá trình cải cách ngành BCVT Việt Nam 76
3.1.5. Đánh quá trình cải cách ngành BCVT Việt Nam bằng mô hình 81
3.1.6. Những tác động đối với BCVT sau khi Việt nam gia nhập WTO 85
3.2. GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH NGÀNH BCVT SAU KHI

19 – CNTT – Công nghệ thông tin
20 – APN - Dịch vụ mạng riêng ảo
21 – NT – Nguyên tắc phân biệt đối xử
22 – GATS - Hiệp định chung về Thƣơng mại dịch vụ
23 – MFN - Tối huệ quốc
24 – DPT – Các nƣớc đang phát triển
25 – TRIPS - Quyền sở hữu trí tuệ
26 – FDI - Vốn đầu tƣ trực tiếp
27 – ODA - Vốn viện trợ 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 - Tổng quan về tình hình cải tổ ở Liên minh Châu Âu hiện nay 40
Bảng 3.1 - Các biến số của quá trình cải cách Bƣu Chính, Viễn Thông 82
Đồ thị 3.1 – Tình trạng hiện tại của Bƣu Chính Viễn Thông Việt Nam 83

5
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, với chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế thế
giới, tình hình cạnh tranh trên thị trường hàng hoá và dịch vụ nói chung và trên
thị trường dịch vụ viễn thông nói riêng đang ngày càng gia tăng giữa các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông của Việt Nam với các doanh nghiệp trong

trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Quá trình cải cách ngành bưu chính viễn thông ở một số nước trên thế giới chỉ
mới bắt đầu từ nửa giữa những năm 1980. Chính vì vậy, cho đến cuối những năm
1990, các nước mới có sự tổng kết, đánh giá về quá trình cải cách này. Do đó, cũng
có một số tài liệu phân tích về vấn đề này:
1) Cuốn sách đầu tiên viết về quá trình cải cách ngành bưu điện là của GS.TS.
ILIJA STOANOVIC với tiêu đề “cải tổ cơ cấu ngành bưu điện ở Trung và Đông
Âu” đã đề cập những vấn đề quản lý mang tính chiến lược của công cuộc cải cách
ngành bưu điện của các nước Trung và Đông Âu. Tuy nhiên, cuốn sách này chỉ mới
dừng lại ở mức là mô tả sự cần thiết phải chuyển đổi cơ cấu ngành bưu điện và
những nội dung trong quá trình cải cách chứ chưa có sự tổng kết, đánh giá những
thành công, thất bại, và những kinh nghiệm rút ra trong quá trình cải cách ngành bưu
điện ở những nước này.
2) Cuốn sách những xu hướng cải tổ viễn thông trên thế giới của do Viện Kinh
tế Bưu điện biên dịch, nhà xuất bản bưu điện ấn hành 9.2001 chủ yếu đề cập đến một
số xu hướng mở cửa thị trường viễn thông cho cạnh tranh, xu hướng mở rộng quyền
sở hữu, cấp phép viễn thông và các vấn đề về truy cập công ích, kết nối, định giá
dịch vụ Tuy nhiên nội dung cuốn sách này chủ yếu chỉ đề cập đến những nội dung
trên mang tính xu hướng trên cơ sở mô tả các nội dung cải tổ trong lĩnh vực viễn
thông ở một số nước mà không đi sâu vào phân tích, đánh giá cụ thể những nội dung
cải cách cụ thể ở một số quốc gia cụ thể, nên chưa nêu ra được những nét đặc trưng
trong quá trình cải tổ ngành bưu chính viễn thông ở một số nước, rút ra kinh nghiệm
đối với Việt Nam.
3) Cuốn sách một số kinh nghiệm phát triển bưu điện Trung Quốc, do KS. Lê
Đức Niệm và KS. Chu Doanh biên dịch, Nxb. Bưu điện ấn hành 1998, đã đưa ra
những bài học kinh nghiệm và chiến lược cụ thể mang tính thực tiễn của con đường
phát triển sự nghiệp thông tin bưu điện xã hội chủ nghĩa. Song, nó hoàn toàn mang 8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình cải cách ngành bưu chính viễn
thông của một số nước đang phát triển.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn phạm vi thời gian: Cải cách ngành BCVT của các nước trên thế
giới bắt đầu diễn ra từ đầu những năm 1980 và kết thúc vào cuối thập kỷ 90. Do
đó, luận văn tập trung nghiên cứu và phân tích quá trình cải cách BCVT của một số
nước trên thế giới theo khoảng thời gian diễn ra quá trình cải cách đó.
- Giới hạn về không gian: Luận văn không nghiên cứu toàn bộ những nước có
tiến hành cải cách BCVT trên thế giới mà chỉ tập trung nghiên cứu quá trình cải cách
BCVT của một số nước đang phát triển có nền kinh tế đang chuyển đổi ở Trung,
Đông Âu và một điển hình ở châu Á, có sự tương đồng ở một mức độ nhất định
đối với Việt Nam là Trung Quốc.
- Hiện nay do xu hướng hội tụ ngày càng mạnh mẽ giữa Viễn thông - Công
nghệ thông tin và Truyền hình, lĩnh vực bưu chính viễn thông còn bao hàm cả lĩnh
vực công nghệ thông tin. Tuy nhiên, nội dung luận văn chí tập trung nghiên cứu,
phân tích, đánh giá quá trình cải cách của một số nước nói trên trong lĩnh vực bưu
chính viễn thông mà không đi vào phân tích lĩnh vực công nghệ thông tin.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để phân tích tính tất yếu
của tiến trình cải cách ngành bưu chính viễn thông của một số nước đang phát triển
trên thế giới. Các phương pháp phân tích, tập hợp, diễn giải, quy nạp cũng được sử
dụng nhằm khảo sát, phân tích, đánh giá quá trình cải cách ngành bưu chính viễn
thông của một số nước đang phát triển. Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích,
phương pháp thống kê, so sánh như là một công cụ phân tích số liệu để minh chứng
cho các vấn đề nghiên cứu.

của mình. Tuy nhiên, bắt đầu từ giữa thập kỷ 80, đặc biệt là từ nửa cuối những
năm 1980 tình hình bắt đầu có sự thay đổi. Phạm vi độc quyền của BCVT đang
ngày càng thu hẹp. Thị trường BCVT xuất hiện ngày càng nhiều các nhà khai
thác. Trong hoạt động bưu chính, vấn đề độc quyền ít hơn và vẫn đang bị bỏ
ngỏ. Các dịch vụ độc quyền mà theo thuật ngữ mới của UPU được gọi là các
dịch vụ “dành riêng”, chiếm từ 50-80% của tổng lưu lượng bưu chính, phụ thuộc
vào từng nước, và doanh thu từ những dịch vụ này vào khoảng từ 40% tới 85%.
Ở hầu hết các nước, luật hiện hành vẫn tạo thuận lợi cho hình thức này như là
một công cụ cần thiết cho dịch vụ chất lượng cao trên toàn lãnh thổ.
1.1.1.2. Phi điều tiết
Phi điều tiết (hay nới lỏng điều tiết) là quá trình giảm bớt quy định của
Nhà nước đối với Ngành Bưu Chính Viễn Thông nhằm hạn chế sự độc quyền
trong Ngành kinh tế này. Thông thường thì Nhà nước không muốn từ bỏ quyền
lực và khả năng tham gia của mình vào tất cả vấn đề kinh doanh của một ngành
kinh tế quan trọng như Bưu Chính Viễn Thông. Ngoài ra, bản thân Ngành Bưu
Chính Viễn Thông cũng không dễ dàng chấp nhận những thiệt hại đến vị trí độc
quyền của mình. Tuy nhiên, do sức ép của thị trường đã đến lúc buộc Nhà nước
phải hoạt động với tư cách là một chủ sở hữu và điều hành chứ không phải đơn
thuần chỉ là người cung cấp lợi ích công cộng cho xã hội với bất cứ giá nào qua
hệ thống Bưu Chính Viễn Thông công cộng. Về cơ bản thì quá trình phi điều tiết
không có nghĩa là xoá bỏ hoàn toàn những luật lệ điều tiết. Ngược lại, nó nhằm 11
đặt ra một hệ thống qui định mới có ảnh hưởng tích cực đến sự cạnh tranh trên
thị trường. Sự tự do hoá thị trường Bưu Chính Viễn Thông đòi hỏi những qui
định có vai trò kép: sắp xếp thị trường và hỗ trợ cho phát triển mở rộng thị
trường, tạo ra một không gian đủ tự do cho thị trường năng động. Trong nhiều
năm, ở hầu hết các nước Luật cơ bản về Bưu Chính Viễn Thông là khung pháp
lý duy nhất để quản lý lĩnh vực này trong trong suốt thời gian độc quyền. Sự

1.1.1.4. Công ty hoá Bưu Chính Viễn Thông
Công ty hoá (Corporatization) là quá trình trao cho Cơ quan Bưu Chính,
Viễn Thông nhà nước một địa vị pháp lý độc lập như các doanh nghiệp tư nhân
khác. Công ty hoá sẽ trao quyền tự chủ cho Cơ quan Bưu Chính, Viễn Thông
nhà nước, giúp cho nó năng động, tự chủ trong môi trường cạnh tranh. Như vậy
công ty hoá sẽ tách riêng quyền sở hữu của nhà nước và trách nhiệm quản lý,
tránh sự can thiệp sâu của chính phủ vào hoạt động kinh doanh. Công ty hoá là
bước đi quan trọng trong quá trình cải cách Bưu chính, Viễn thông. Hầu hết các
Cơ quan Bưu chính, Viễn thông của các nước đều thực hiện bước đi này, và tiến
tới giai đoạn thương mại hoá.
1.1.1.5. Thương mại hoá Bưu Chính Viễn Thông
Thương mại hoá (Commercialization) là quá trình đưa các nguyên tắc thị
trường áp dụng vào Cơ quan Bưu chính, Viễn thông nhà nước. Do vậy, các chức
năng quan trọng trong một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường như
tài chính, kế toán, kế hoạch chiến lược, nguồn nhân lực, marketing… phải được
bổ sung, tăng cường. Thương mại hoá chính là chuyển sang tư duy hướng về
khách hàng, coi thị trường là yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp. Tư duy đó
đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến nguồn nhân lực - khách hàng bên trong,
phải phối hợp tất cả các nguồn lực bên trong nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh để đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
Công ty hoá tạo cơ sở pháp lý, quyền tự chủ cho cơ quan Bưu chính, Viễn
thông. Thương mại hoá trang bị các công cụ quản lý quan trọng cho cơ quan
Bưu chính, Viễn thông hoạt động trong môi trường kinh tế thị trường cạnh tranh.
Quá trình thương mại hoá không thể thực hiện được nếu Cơ quan Bưu chính,
Viễn thông thiếu quyền tự chủ, trách nhiệm và động lực khuyến khích do quá
trình Công ty hoá đem lại. Ngược lại chỉ riêng Công ty hoá cũng không mang lại
kết quả cải cách. Như vậy cả hai quá trình Công ty hoá và Thương mại hoá đều
không thể thiếu được cho quá trình cải cách thành công. Thường thì “Công ty
hoá” được thực hiện trước, sau đó là quá trình “Thương mại hoá”. Tuy nhiên
một số Cơ quan Bưu chính, Viễn thông các nước lại thực hiện Thương mại hoá

ích lợi to lớn cho xã hội này được Nhà nước đảm nhận cung cấp và được coi là
độc quyền tự nhiên. Cơ cấu tổ chức dưới dạng một doanh nghiệp nhà nước thực
hiện chung các hoạt động Bưu chính và Viễn thông, chỉ khác nhau không nhiều
lắm giữa các nước, và kết quả kinh doanh của toàn bộ ngành Bưu Chính Viễn
Thông là tích cực. Điều này tạo ra ấn tượng là Ngành này hoạt động tốt, và do
vậy làm chậm trễ những đổi mới trong Ngành Bưu Chính Viễn Thông ở các
nước. 14
Sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh chóng dựa trên các thành tựu công
nghệ thông tin đã dẫn đến sự xâm nhập của công nghệ thông tin vào các quá
trình sản xuất và hội nhập kinh tế toàn cầu. Mặt khác, sự chuyển đổi từ cơ chế
kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường ở các nước khối Đông Âu cũng
tạo ra những tiềm năng phát triển to lớn. Ngoài ra, sự hội tụ của Viễn thông và
Tin học là một bước tiến khác góp phần tạo lập hệ thống Viễn thông toàn cầu.
Ngành truyền thông đại chúng cũng không đứng ngoài cuộc. Tất cả những điều
đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của Ngành Bưu Chính Viễn Thông,
một ngành cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng.
Những đòi hỏi của xã hội đặt ra đối với Ngành Bưu Chính Viễn Thông
cho thấy rằng bất cứ sự phát triển chậm trễ nào của ngành hạ tầng quan trọng
này đều có thể làm chậm trễ sự phát triển kinh tế văn hoá và xã hội. Vì thế, mục
tiêu phát triển chủ yếu của Ngành Bưu Chính Viễn Thông là phải đạt tới mức có
đủ năng lực thúc đẩy xã hội và nền kinh tế đất nước phát triển. Để đạt mục tiêu
này, cần phải thực hiện chuyển đổi và cải cách Ngành Bưu Chính Viễn Thông,
bắt đầu bằng sự thay đổi về công nghệ, nhằm tạo ra những phương tiện làm việc
mới, và những đổi mới về cơ cấu nhằm thay đổi phạm vi tổ chức và chức năng
hoạt động cũng như thị trường của Ngành Bưu Chính Viễn Thông. Tiếp đến là
những thay đổi về mặt pháp lý nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý cần thiết cho Ngành
Bưu Chính Viễn Thông hoạt động trong một thị trường đã thay đổi.

nhập này đã diễn ra sớm hơn ở một số ngành công nghiệp khác. Sau đó, quá
trình công ty hoá, thương mại hoá, tự do hoá, phi thể chế hoá và tư nhân hoá
cũng được áp dụng cho lĩnh vực Bưu Chính Viễn Thông. Đồng thời, do Bưu
Chính Viễn Thông là một ngành kinh tế hạ tầng quan trọng, thiết yếu, nên đây
cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy Chính phủ các nước nỗ lực cải cách Ngành
Bưu Chính Viễn Thông. Có sáu yếu tố cơ bản thúc đẩy Chính phủ các nước cải
cách môi trường pháp lý và mở cửa thị trường bưu chính, viễn thông.
Thứ nhất, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế cũng như cách mạng
công nghệ dẫn tới cạnh tranh toàn cầu.
Thứ hai, các tổ chức tài chính đa phương ngày càng gắn các điều kiện cải
cách vào các khoản viện trợ nước ngoài.
Thứ ba, nguồn tài chính và các khoản tín dụng từ các nhà cung cấp và các
nước đang giảm dần, buộc các chính phủ phải quay về vốn đầu tư của khối tư
nhân, cả trong nước và quốc tế.
Thứ tư, các nhà khai thác viễn thông công cộng truyền thống không thể 16
thoả mãn nhu cầu dịch vụ ngày càng tăng của xã hội.
Thứ năm, các Chính phủ nhận thức được những cơ hội do cạnh tranh toàn
cầu mang lại cho nền kinh tế đất nước. Do đó, các chính phủ phải tích cực chuẩn
bị cho các ngành kinh tế nói chung và Bưu Chính Viễn Thông nói riêng để hội
nhập thành công.
Thứ sáu, khách hàng nhận thức được những lợi ích của cạnh tranh cả về
giá cả lẫn công nghệ. Do vậy, họ ủng hộ xu hướng đổi mới theo hướng tự do
hoá thị trường nói chung và thị trường viễn thông nói riêng.
Xu hướng cạnh tranh toàn cầu trong viễn thông được khẳng định trong
Hiệp định về mở cửa thị trường viễn thông cơ bản, do 69 nước thành viên WTO
ký ngày 15-2-1997, đánh dấu một bước chuyển lớn về chính sách viễn thông thế
giới. Như vậy, chính sách thương mại đang thúc đẩy cải cách thể lệ quy định

1.1.3.2. Vai trò của ngành Bưu Chính Viễn Thông trong nền kinh tế
a) Đóng góp của ngành Bưu Chính Viễn Thông trong GDP
Sự tăng trưởng trong bưu chính viễn thông thường được giải thích ở các
nước đang phát triển như là một sản phẩm đi kèm của sự tăng trưởng GDP trên
đầu người. Trong các thị trường này thì có một sự thiếu hụt kinh niên trong việc
cung cấp các dịch vụ viễn thông và của cải nhiều hơn, phong phú hơn vừa làm
tăng nhu cầu chưa được đáp ứng vừa là nguồn vốn để đầu tư mạng lưới một
cách liên tục nhằm thoả mãn nhu cầu tồn đọng.
Riêng đối với Viễn thông sự tương quan này mô tả mối quan hệ GDP trên
đầu người và mật độ điện thoại. Trong khi mối tương quan là hiển nhiên thì việc
mật độ điện thoại ảnh hưởng ở mức độ nào đến GDP đầu người và nó chịu ảnh ở
mức độ nào của việc tăng thu nhập vẫn là vấn đề chưa xác định. Theo liên minh
Viễn thông thế giới (ITU), nền công nghệ thông tin như viễn thông và truyền
thông tăng nhanh hơn GDP trong các năm từ 1990-1993 với tỷ lệ tăng trưởng
bình quân trong cả giai đoạn là 7% so với mức tăng của GDP chỉ có 2.5%.
Viễn thông là một ngành công nghiệp có quy mô tầm cỡ thế giới. Các
mạng điện thoại công cộng vào năm 1990 liên kết khoảng hơn 700 triệu người
bằng điện thoại trên toàn cầu, tạo thành một cỗ máy lớn nhất thế giới. Chúng ta
không biết được chính xác số lượng các đầu cuối dữ liệu nhưng con số này cũng
phải đến hàng trăm triệu. Các máy điện thoại tế bào, được kết nối đến mạng điện
thoại là 146 triệu năm 1996 và dự tính đạt 200 triệu vào cuối thế kỷ. Con số các
máy nhắn tin cũng tương tự. Các hệ thống vệ tinh cho phép các lữ khách ở 18
những vùng xa xôi hẻo lánh nhất trên đất liền, trên biển hay trên không định vị
một cách chính xác và liên lạc với phần còn lại của thế giới. Ngành Viễn thông
cung cấp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp dịch vụ cho phần lớn dân cư trên toàn
thế giới. Nó sử dụng hàng triệu lao động và là một thách thức về mặt trí tuệ và
sáng tạo đối với những người thiết kế, xây dựng và quản lý các mạng viễn thông

b) Bưu chính - Viễn thông có tác dụng kích thích phát triển kinh tế.
Trong nền kinh tế hiện đại, Bưu Chính Viễn Thông được coi như một “cú
hích” làm cho các ngành kinh tế phát triển. Phát triển Bưu Chính Viễn Thông
được nhiều quốc gia trên thế giới xem như là một mũi nhọn có tác dụng dẫn
đường cho các ngành kinh tế khác phát triển. Một điều hầu như ai cũng thấy, đó
là sự tham gia của Viễn thông trong các khâu quản lý, điều hành sản xuất, tiêu
thụ sản phẩm và thanh toán giữa người bán và người mua. Thông qua Bưu
Chính Viễn Thông mà người ta có thể thu thập thông tin, phân tích và quyết định
xem doanh nghiệp mình nên sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế
nào. Bưu Chính Viễn Thông giúp cho các doanh nghiệp giảm bớt chi phí, nâng
cao hiệu quả kinh doanh.
c) Bưu chính - Viễn thông đóng góp ổn định chính trị.
Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Bưu Chính Viễn Thông được
xem như là “hệ thần kinh trung ương” của Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân ta.
Bưu Chính Viễn Thông giúp cho các chỉ thị, mệnh lệnh chiến trường được
truyền xuống và các báo cáo, thỉnh thị được truyền lên một cách nhanh chóng,
chính xác, kịp thời. Bưu Chính Viễn Thông đã đóng góp không nhỏ cho sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Ngày nay, Bưu Chính Viễn
Thông giúp xã hội đấu tranh ngăn ngừa và truy nã tội phạm, đấu tranh ngăn chặn
và đập tan nhiều âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, tạo nên một nền
chính trị ổn định, làm tiền đề cho phát triển kinh tế-xã hội.
d) Bưu chính -Viễn thông thúc đẩy xã hội phát triển.
Bưu Chính Viễn Thông tác động đến phát triển nền văn hóa. Thông qua
Bưu Chính Viễn Thông, những nét văn hóa đặc trưng của vùng, miền, của dân
tộc và của quốc gia được giữ gìn, truyền tụng và phát triển không ngừng. Bưu
Chính Viễn Thông cũng tạo nhịp cầu cho người dân trên toàn thế giới giao lưu
văn hóa, học tập lẫn nhau, duy trì bản sắc văn hóa của mình đồng thời chắt lọc
những tinh hoa văn hóa của các nơi khác, làm giàu thêm nền văn hóa truyền
thống của mình. Bưu Chính Viễn Thông giúp con người có thể liên lạc trao đổi
thông tin với nhau mà không cần phải gặp nhau trực tiếp. Từ đó giúp cho người

thông còn có những đặc điểm riêng mà các ngành khác không có. Tổng hợp lại
Bưu chính, Viễn thông có những đặc điểm chính sau đây:
Một là, Bưu chính, Viễn thông là ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Các
ngành sản xuất vật chất sử dụng sản phẩm của Viễn thông trong quá trình điều
hành, quản lý sản xuất kinh doanh. Vì vậy, có thể nói hoạt động Bưu chính, 21
Viễn thông tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất ra các sản phẩm vật chất.
Bên cạnh đó, hoạt động của Bưu chính, Viễn thông còn tham gia trực tiếp vào
hoạt động của các lĩnh vực không sản xuất vật chất. Trong đó đặc biệt quan
trọng là các hoạt động quản lý đất nước, đảm bảo an ninh quốc phong, trật tự an
toàn xã hội… Ngoài ra, Bưu chính, Viễn thông còn phục vụ nhu cầu giao lưu
tình cảm, văn hoá, sinh hoạt của từng thành viên trong xã hội.
Hai là, Quá trình sản xuất là quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến
người nhận. Đây là đặc điểm có tính riêng biệt của ngành Bưu chính, Viễn
thông, các yếu tố của quá trình sản xuất như lao động, công cụ, đối tượng lao
động đều tham gia trực tiếp vào quá trình truyền đưa tin tức. Trong Bưu chính,
Viễn thông không có quá trình sản xuất riêng, quá trình lưu thông riêng mà cả
hai được hội tụ vào một quá trình đó chính là quá trình truyền đưa tin tức từ
người gửi đến người nhận.
Ba là, Quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm. Quá
trình sản xuất của ngành Bưu chính, Viễn thông là truyền đưa tin tức từ người
gửi đến người nhận, khi bên nhận đã nhận được đầy đủ thông tin là lúc kết thúc
quá trình sản xuất cho một sản phẩm và lúc đó cũng kết thúc luôn quá trình tiêu
thụ sản phẩm đó. Từ đặc điểm này cho thấy sản phẩm của Bưu chính, Viễn
thông không hề có tồn kho, sản xuất đến đâu là tiêu thụ hết ngay đến đó.
Bốn là, Chất lượng được xem là linh hồn của Bưu chính, Viễn thông. Do
sản xuất gắn liền với tiêu thụ, sản phẩm của Bưu chính, Viễn thông không có tồn
kho, nên ngành Bưu chính, Viễn thông không thể có thời gian để sửa lỗi cho các

hệ thống phương tiện vận tải hiện đại để đảm bảo chỉ tiêu an toàn, chính xác.
Đối với Viễn thông đòi hỏi phải hoàn chỉnh từ thiết bị chuyển mạch, thiết bị
truyền dẫn đến thiết bị ngoại vi (đối với điện thoại cố định) hoặc các trạm thu
phát sóng gốc (đối với điện thoại di động), các nhà khai thác cần có một lượng
vốn đầu tư lên đến hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn tỷ đồng. Chính vì
vấn đề này, nếu đầu tư trùng lắp thì đối với tư nhân hoặc doanh nghiệp là hoàn
toàn không có lợi, còn đối với xã hội thì đó cũng là một sự lãng phí không cần
thiết.
Chín là, Bưu chính, Viễn thông đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô.
Với một mạng lưới đã đầu tư của một nhà khai thác, khi số lượng khách hàng
càng lớn, càng tiệm cận đến khả năng phục vụ tối đa của mạng, thì hiệu quả
càng cao. Ngược lại, với một quy mô khách hàng cho trước, số nhà khai thác 23
càng lớn thì hiệu quả càng sụt giảm nhanh chóng và dẫn đến lỗ cho các nhà khai
thác. Điều này cũng gây ra thiệt hại chung cho toàn xã hội.
Mười là, ngành Bưu chính, Viễn thông có thuộc tính “ngoại ứng mạng”
mà các ngành khác không có. Ngoại ứng mạng được giải thích như sau: „Càng
đông, càng rẻ, càng vui”! Lợi ích mang lại không phải chỉ cho phần tử mới nhập
mạng mà cả những phần tử cũ cũng được hưởng lợi ích này. Khi số lượng thành
viên trong mạng càng lớn thì lợi ích của các thành viên cũng càng lớn theo. Bưu
chính, Viễn thông trong thời đại ngày nay có được sự phát triển hết sức nhanh
chóng nhờ ứng dụng công nghệ thông tin. Tốc độ thay đổi công nghệ nhanh làm
cho thị trường sản phẩm, thị trường dịch vụ, quy mô thị trường và mức độ cạnh
tranh trong Bưu chính Viễn thông (đặc biệt là trong Viễn thông) ngày càng lớn.
Chính vì vậy, nhà nước không thể giữ độc quyền đối với ngành này mà cần phải
cải cách theo mô hình phù hợp với xu thế tự do hóa thương mại
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CẢI CÁCH NGÀNH BCVT
1.2.1. Toàn cầu hoá và hội nhập – nhân tố quan trọng thúc đẩy quá

thương mại điện tử trong việc giảm thiểu những chi phí giao dịch cho cả người
bán lẫn người mua. Trong khoảng hai thập kỷ đầu thế kỷ 21, thương mại điện tử
sẽ phát triển với tốc độ gấp đôi mỗi năm. Thương mại điện tử là phương thức
giao dịch quốc tế mới sáng tạo, sẽ trở thành một trong những phương thức giao
dịch chủ yếu trên thương trường quốc tế. Nhờ đó mà nền Bưu chính viễn thông
cũng định hướng phát triển trong môi trường toàn cầu hoá. Đối với viễn thông,
nhìn chung với xu hướng toàn cầu hoá thị trường, hệ thống độc quyền cung cấp
dịch vụ tồn tại trên các thị trường viễn thông thế giới hơn 3/4 thế kỷ nay đang có
thiên hướng giảm.Việc mở cửa thị trường viễn thông châu Âu và tiếp theo là tự
do hoá một loạt các thị trường trên thế giới cho thấy cạnh trạnh sẽ tất yếu diễn ra
trong việc cung cấp dịch vụ viễn thông. Ở các nước đang phát triển, tự do hoá
thị trường đã và đang diễn ra như con đường để tồn tại và hội nhập. Ở châu Phi
một số nước đã mở cửa cho tự do cạnh tranh đối với các dịch vụ cơ bản và một
số khác thì chuyển từ mô hình độc quyền kép sang tự do cạnh tranh hoặc có kế
hoạch tự do hoá trong vòng những năm tới.
Trong khi đó các mảng thông tin di động cùng với các dịch vụ Internet và
truyền hình cáp vẫn là các thị trường cạnh tranh sôi động nhất . Năm 1999 có
hơn 66% thị trường di động toàn cầu, 85% thị trường truyền hình cáp và 80% thị
trường Internet ở các quốc gia được khảo sát đã mở cửa để cạnh tranh. Tuy
nhiên các dịch vụ cơ bản vẫn 73% thị phần vẫn duy trì độc quyền, còn lại một
đoạn thị trường viễn thông toàn cầu vẫn đóng cửa.

Trích đoạn Sự nhảy vọt có tính lịch sử của thông tin BCVT Trung Quốc Những bài học kinh nghiệm QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH NGÀNH BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM Các chính sách đã áp dụng để thực hiện cải cách Đánh giá tổng quát quá trình cải cách ngành BCVT Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status