Đề tài
Quản lý Đầu tư quốc tế của nước chủ nhà . Chính sách
điều tiết dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài của một
số nước đang phát triển.
Nhóm 3:
Hỏa Hạnh Nhân
Phan Thị Hồng Trang
Cao Thị Kim Dung
Chương 1. Tổng quan về đầu tư quốc tế và các hình thức đầu tư quốc tế.
1
I. Tổng quan về đầu tư quốc tế:
1. Khái niệm:
Đầu tư quốc tế là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý,…
từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên
phạm vi toàn cầu.
Vốn di chuyển giữa các quốc gia có thể là tiền mặt, các dạng tài sản (nguyên
vật liệu, máy móc thiết bị, mặt bằng sản xuất, nhà xưởng) giá trị của bản quyền sở
hữu trí tuệ, bí quyết, bản quyền thương hiệu…
Các dự án đầu tư thường là dự án công nghiệp, dịch vụ, kinh doanh thương
mại
Các bên tham gia vào đầu tư quốc tế gồm ít nhất là hai bên có quốc tịch khác
nhau. Các bên tham gia có thể thu được lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội trong đó
đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại lợi ích kinh tế lớn nhất.
2. Tác động của đầu tư quốc tế tới các Bên liên quan:
a) Đối với nước nhận đầu tư:
- Tác động tích cực:
Nước nhận đầu tư sẽ được tiếp thu vốn và công nghệ, kinh nghiệm từ nhà
đầu tư.
Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước.
Có cơ hội đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hoàn thiện hệ thống luật
pháp và chính sách.
Tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh
tại thị trường nước nhận đầu tư do có được ưu đãi từ phía nước này.
Ngoài những lợi ích trên, đầu tư nước ngoài còn tạo nguồn thu cho ngân
sách nhà nước thông qua thuế thu nhập, thuế đầu tư…
- Tác động tiêu cực:
Đầu tư ra nước ngoài làm giảm nguồn vốn đầu tư trong nước, tăng tỷ lệ thất
nghiệp nội địa, không đạt mục đích hiệu quả xã hội.
Việc chảy máu chất xám cũng xảy ra do nguồn nhân lực chất lượng cao di
chuyển sang nước nhận đầu tư.
Các doanh nghiệp đầu tư sẽ đối mặt với rủi ro lớn tại nước tiếp nhận đầu tư
do hệ thống luật pháp chính sách khác nhau và các rủi ro về đạo đức…
3
II. Các hình thức đầu tư quốc tế.
Đầu tư quốc tế bao gồm hai hình thức cơ bản: đầu tư nước ngoài gián tiếp và
đầu tư trực tiếp.
1. Đầu tư trực tiếp (FDI)
Hình thức FDI không chỉ có sự lưu chuyển vốn mà còn thường đi kèm theo
công nghệ, kiến thức kinh doanh và gắn với mạng lưới phân phối rộng lớn trên phạm
vi toàn cầu. Vì thế, đối với các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển thì
hình thức đầu tư này tỏ ra có nhiều ưu thế hơn.
- FDI được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu tư mới (Greenfield
investment – GI) và mua lại và sáp nhập ( M&A).
+ Đầu tư mới: các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây
dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là
kênh chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển vào đầu tư vào vào các nước
đang phát triển
+ M&A: các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các
doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các
nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần
đây.
nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào. Hình thức này có đặc điểm:
Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết giữa các
bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ; Không thành lập một pháp
nhân mới, tức không cho ra đời một công ty mới; Thời hạn của hợp đồng hợp tác
kinh doanh do hai bên thỏa thuận, phù hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự
cần thiết để hoàn thành mục tiêu của hợp đồng.
Ngoài ra còn có các hình thức khác như: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu
phát triển kinh tế, thực hiện những hợp đồng xây dựng- vận hành- chuyển giao
(BOT). Những dự án BOT thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi
điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng.
2. Đầu tư nước ngoài gián tiếp:
5
+ Quỹ vốn đầu tư mạo hiểm: cung cấp vốn cho các nhà đầu tư để đầu tư vào
những nơi thị trường mới nổi hoặc sản phẩm mới có độ mạo hiểm cao nhưng hữa hẹn
thu lợi nhuận lơn
+ Quỹ đầu tư cổ phần quốc tế: cung cấp vốn cho các nhà đầu tư vừa và nhỏ
đầu tư ra nước ngoài
+ Biên lai người gửi của Mỹ hoặc quốc tế: ngân hàng thương mại của Mỹ phát
hành giấy chứng nhận quyền sở hữu cho các công ty chứng khoán không phải của
Mỹ với các ngân hàng có nghiệp vụ vãng lai ở nước ngoài.
+ Trái khoán chuyển đổi hoặc có bảo đảm bằng cổ phiếu: cho phép người cầm
trái khoán có thể đổi ra cổ phiếu của công ty phát hành bất kỳ lúc nào. Loại có bảo
đảm là cho phép người cần trái khoán có quyền mua cổ phiếu của công ty phát hành
với mức giá cụ thể cố định trong khoản thời gian nhất định.
Chương 2: Quản lý đầu tư nước ngoài của nước chủ nhà.
Quyền kiểm soát của nước chủ nhà
6
Nước chủ nhà có quyền kiểm soát không giới hạn đối với dầu tư nước ngoài,
để bảo vệ chủ quyền. Nhà nước có thể loại trừ quyền đầu tư của bất cứ quốc gia nào.
Một số điều ước quốc tế và song phương đem lại quyền lợi cho nước đầu tư – ví dụ
trường đầu tư và các vẫn đề khác, cũng có thể điều chỉnh các mục nhập của đầu tư
nước ngoài. Ngược lại để hấp dẫn đầu tư, nhà nước có thể đưa ra các ưu đãi hoặc các
lời hứa đơn phương hay cam kết danh dự về nghĩa vụ .Luật kiểm soát đầu tư nước
ngoài ngày càng gia tăng, khi Hoa kỳ từ một nước xuất khẩu vốn thành nơi dòng vốn
đầu tư đổ vào. Việc di chuyển vốn đầu tư nhanh cũng có thể coi là một phong trào
phá hoại nên kinh tế các quốc gia khác; đi sau sự di chuyển đột ngột của dòng vốn là
khủng hoảng kinh tế và mất ổn định. Sự mâu thuẫn ở đây là các quốc gia muốn thu
hút đầu tư từ nước ngoài, mặt khác lại có nhu cầu kiểm soát cao dòng vốn này – điều
này chỉ có thể được cân bằng thông qua luật về đầu tư. Ví dụ Đạo luật Exon-Florio
tại Hoa Kỳ đã coi sự phát triển của các quỹ đầu tư quốc tế là các mục đích chính trị
đằng sau – và có thể ảnh hưởng mạnh đến mục tiêu chiến lược và an ninh quốc gia.
Hiện luật chống độc quyền, chứng khoán, pháp luật và các cơ chế quản lý chính là
công cụ chính để kiểm soát dòng vốn. Tại Cộng đồng châu Âu – đã thông qua việc sử
dụng luật cạnh tranh để đảm bảo rằng các tập đoàn lớn nước ngoài đa quốc gia không
xé nhỏ hay sáp nhập để tìm cách kiếm tiền đầu tư.Trong các quốc gia phát triển, cũng
có một cơ thể tương tự của pháp luật để kiểm soát dòng vốn vào đầu tư.Các quốc gia
Xã hội chủ nghĩa, như Trung Quốc, Việt Nam và Cuba, cũng bắt hoàn thiện luật để
tăng của đầu tư nước ngoài – với hi vọng thu hút nhiều vốn và công nghệ cần thiết –
nhưng vẫn đảm bảo chống lại các rủi ro tiềm tăng.Nước chủ nhà tăng quyền của
mình bằng các đưa ra các quy định - ví dụ như chỉ chấp nhận đầu tư khi thành lập
liên doanh - thành công ty cổ phần với tỷ trọng cổ phẩn, hoặc liên doanh với đơn vị
do nhà nước chỉ định. Đi kèm với đó là việc nước chủ nhà muốn nội địa hóa quá
trình dầu tư nước ngoài – sử dụng các chính sách để đánh bại khả năng của nhà đầu
tư.
Có 3 nội dung quan trọng nhất là các quy tắc của nhà nước chịu trách nhiệm trước
tổn thất của nhà đầu tư, quyền về tiêu chuẩn tối thiểu của đầu tư quốc tế, và các hình
thức gắn với phát triển quyền con người, ví dụ như việc nhà nước tuyên bố bảo vệ
doanh nhân nước ngoài và tài sản của họ trong tình trạng bất ổn dân sự.
Việc thực hiện quản lý sẽ theo một số chuẩn tối thiểu nhất định được luật pháp quốc
tế chấp nhận – bảo vệ việc chống lại sử dụng quyền lực một cách tùy tiền của các cơ
Trong thời gian gần đây, có sự dịch chuyển nhanh chóng với quy định của luật
đầu tư quốc tế trên phạm vi toàn cầu. Tại các nước phát triển, chủ nghĩa dân tộc và
chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng hạn chế đầu tư nước ngoài. Các chính sách được duy
trì không giống nhau. Kinh nghiệm của Canada là một bài học. Báo cáo về hoạt
động đầu tư nước ngoài được ban hành đã chỉ ra sự thống trị của các tập đoàn đa
9
quốc gia tại nền kinh tế Canada. Tuy nhiên hiệp định thương mại tự do giữa Canada
và Mỹ đã vô hiệu hóa giả thiết rằng Luật pháp dựa trên cơ sở tự do hóa dòng vốn đầu
tư nước ngoài giữa hai quốc gia. Canada đã ban hành đạo luật mới trên cơ sở hiệp
ước nhưng việc quản lý đầu tư của Mỹ vẫn giữ nguyên. Hiệp định thương mại tự do
Bắc Mỹ (NAFTA) dựa trên quá trình đó. Tuy nhiên Canada là một trong những nước
rút lui sớm nhất thỏa thuận về hiệp định đa phương về bảo trợ đầu tư của OECD
trong dân chúng trong khi các nước khác mở cửa cho đầu tư.
Chủ nghĩa dân tộc cảm tính đóng vai trò quan trọng trong luật đầu tư nước
ngoài của Úc. Tại châu Âu, những lo ngại về sự thống trị nền kinh tế của các tập
đoàn đa quốc gia bố trí sự đối phó với pháp luật gián tiếp. Mặc dù Mỹ ủng hộ quan
điểm thị trường tự do nhưng cũng không cho phép một số hình thức đầu tư vào lãnh
thổ nước Mỹ. Các bộ luật chống độc quyền được áp dụng để ngăn chặn sự thống trị
của các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập vào thị trường Mỹ. Mỹ đã thông qua
luật pháp để cấm đầu tư nước ngoài không nhất quán đối với an ninh quốc gia của
Mỹ. Tuy nhiên các biện pháp này cũng có tác động giống nhau tại các nước đang
phát triển.
Một số nước đang phát triển và các nước Đông Âu trước đây đi theo chủ
nghĩa cộng sản đang từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Các nước này
đang xây dựng quy định về đầu tư nước ngoài. Tư tưởng thịnh hành trong những năm
80 cho rằng đầu tư nước ngoài của các tập đoàn đa quốc gia có lợi cho sự phát triển
kinh tế của nước chủ nhà. Nhưng đến những năm 90, khi thế giới đuổi kịp xu hướng
tự do hóa kinh tế. Tư tưởng thịnh hành là một trong những lý do của tự do hóa và tư
hữu hóa.
Các bộ luật được ban hành từ những năm 1980 đã bắt đầu được sửa đổi nhưng
bộ xuất hiện vấn đề cam kết được chính phủ đưa ra không thể thấy được trong thành
công của chính phủ đặc biệt nếu có một cuộc cách mạng thay đổi chính phủ. Sự
thay đổi chế độ đe dọa nghiêm trọng đến đầu tư nước ngoài. Nếu chính phủ mới đươc
thiết lập có hệ tư tưởng khác so với chính phủ cũ sẽ dẫn đến sự thay đổi cơ bản tại
một quốc gia. Do đó những lời hứa của chính quyền cũ có thể không được thực hiện
với chính quyền mới. Những cam kết được lập ra sẽ không có giá trị và ý nghĩa đối
với việc thu hút đầu tư nước ngoài.
Mặt khác, có quan điểm cho rằng mặc dù có sự thay đổi chế độ, các cam kết
không được nhượng bộ đối với nhà đầu tư nước ngoài được vận dụng hợp pháp.
Những cam kết liên quan đến các tranh chấp đang tăng nhanh từ thu hút đầu tư nước
ngoài bởi các cam kết đến tòa án giải quyết tranh chấp quốc tế hơn là tại các tòa án
11
giải quuyết tranh chấp tại quốc gia. Điều đó càng đặc biệt nếu các cam kết chống sự
tước đoạt tài sản tài sản kết hợp với lời hứa giải quyết tranh chấp tại tòa án nước
ngoài. Theo quan điểm đó, các cam kết đơn phương chống lại sự sung công ủng hộ
việc chuyển các tranh chấp về sự sung công của nhà đầu tư nước ngoài ra phạm vi
quốc tế. Điều đó bảo đảm thực tế rằng các cam kết được thiết lập tính đến cả hai vấn
đề xác định tính hợp pháp và định lượng được sự thiệt hại.
Tuy nhiên, đôi với bộ luật chặt chẽ, cam kết đơn phương chống lại sự sung
công mà không bồi thường đầy đủ không có tác động trừ khi cam kết về hiệp định
được ủng hộ và việc thi hành được thành lập bởi tòa án xét xử nước ngoài để đảm
bảo các cam kết. Hành động đơn phương của một quốc gia có những động cơ không
thấy được. Trường hợp động cơ không nhận thấy rõ bị đổ lỗi do hoạt động đơn
phương liên quan đến vấn đề quốc tế và thúc đẩy mong ước quản lý của nhà nước
trong khi đưa ra các tuyến bố đối với các quốc gia khác. Các cam kết đó hướng đến
các cá nhân hoặc doanh nghiệp như tập đoàn đa quốc gia không có tư cách pháp nhân
tại luật quốc tế, do đó các hiệp định không được thiết lập nếu thiếu tư cách pháp nhân
tại quốc tế. Các cam kết hoạt động dựa trên luật quốc gia chứ không phải luật quốc
tế.
Tuy nhiên hiện nay việc xuất khẩu tư bản của một quốc gia đã tham gia kế
phiên tòa đặc biệt trong các tranh chấp tương lai. Thực tế cho thấy hệ thống tòa án
địa phương bị bỏ qua trong việc liên quan đến vấn đề quốc gia cũng sẽ gây ra vấn đề
chính trị. Nếu pháp luật bao gồm cam kết bảo đảm là vô hiệu trong luật pháp quốc
gia, nó sẽ khó nhận định rằng nó sẽ có ảnh hưởng đến mức độ quốc gia. Tuy nhiên,
các hiệp định hoạt động trên các mặt phẳng khác nhau và giao ước các hiệp định vẫn
tồn tại ở mức độ quốc tế thậm chí các bộ luật quốc gia mâu thuẫn với chúng.
1.3. Thuế và phi thuế khuyến khích đầu tư nước ngoài.
Nhiều quốc gia cung cấp thời gian ưu đãi về thuế và nhiều khuyến khích đầu
tư nước ngoài để thu hút đầu tư vào lãnh thổ nước đó. Những khích lệ này luôn sẵn
có không chỉ đối với nhà đầu tư đồng ý với các danh mục cụ thể như những nhà đầu
tư mang công nghệ hoặc người đặt trụ sở chính của họ tại nước nhận đầu tư. Tất
nhiên luật quốc tế không ngăn cản cung cấp ưu đãi và các khuyến khích về thuế . Có
nhiều cuộc tranh luận lớn vì sự cần thiết của những khuyến khích trong việc thu hút
đầu tư nước ngoài.
13
Khuyến khích về thuế là một phương thức hữu ích bảo đảm rằng các nhà đầu
tư nước ngoài theo ước muốn của nước chủ nhà. Ví dụ khuyến khích về thuế có thể
được chấp thuận tại nơi được mua trang thiết bị mới để hiện đại hóa máy móc thiết
bị hoặc trong điều kiện một vài cổ phần đầu tư được chuyển giao đến kiều bào tại
nước chủ nhà. Theo cách đó, quốc gia có thể đạt được mục tiêu gián tiếp nhưng
ngược lại yêu cầu trực tiếp có thể mang lại ấn tượng của sự chống đối về đầu tư
nước ngoài.
Trợ cấp đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư nhưng không phải các nhà đầu tư đưa
ra vấn đề về phân biệt đối xử. Có thể không có phản đối về phân biệt dựa vào các yếu
tố kinh tế. Có thể có phản đối về đãi ngộ quốc gia cũng như đãi ngộ với các nước
được yêu thích. Nhưng cung cấp các yếu tố thỏa đáng cho sự đãi ngộ khác nhau như
sự cần thiết để thu hút các loại công nghệ hoặc hướng các nhà đầu tư nước ngoài vào
trong các kênh sản xuất có thể được đưa ra và sự phân biệt là hợp pháp.
Sự phân biệt giữa các nhà đầu tư nước ngoài có thể bị phản đối trong dân
chúng và nó bóp méo thương mại quốc tế. Một trong những mục đích của khuyến
tuyên bố về nghiên cứu khả thi có thể trình bày sai do nhiều nguyên nhân, ít nhất là
theo sự đánh giá của thẩm quyền chung được công bố cho phép đầu tư vào. Do lợi
ích của đầu tư nước ngoài được thiết lập để bảo vệ luồng vào có thể giảm xuống do
ngôn ngữ hợp pháp trình bày sai, khai báo sai bóp méo và gian lận. Trong luật nội bộ
sự bóp méo có thể biện hộ cho trở ngại với hiệp định đầu tư nước ngoài. Nó cũng
đánh giá sự kết thúc của đầu tư quốc tế dưới luật quốc tế có thể là câu hỏi thảo luận.
Tuy nhiên có sự gian lận có tính toán của một số của nhà đầu tư nước ngoài, sẽ
không có hành động sai nếu có sự kết thúc của đặc quyền mà bảo vệ không hợp pháp.
……
Nhiệm vụ đầu tiên của cơ quan hành chính là bảo đảm nhà đầu tư mang những
lợi ích hữu hình đến nước chủ nhà. Các cơ quan đã xem xét tác động của đầu tư nước
ngoài đến nước chủ nhà. Nó có nhiệm vụ đảm bảo rằng các doanh nghiệp trong nước
sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự gia nhập của các công ty có quyền lực vào trong lĩnh
vực công nghiệp. Một lần nữa câu hỏi về sự phân biệt chống lại doanh nghiệp nước
ngoài gia tăng nếu các biện pháp được đưa ra trước hoặc sau khi gia nhập. Tuy nhiên,
sự phân biệt có thể được xem xét xem có hợp pháp trừ khi có một hiệp định cam kết
cung cấp đãi ngộ quốc gia trong tưng trương hợp.
Có một vài lý do kinh tế cho việc loại trừ người nước ngoài từ các ngành công
nghiệp cụ thể. Tại các nước đang phát triển, loại trừ như vậy là hợp lý do việc đó sẽ
15
là tốt hơn nếu các ngành công nghiệp chủ chốt được nắm giữ bởi các doanh nhân
trong nước. Một lý do khác là sự gia nhập của một doanh nghiệp nước ngoài khổng
lồ có thể kiềm chế sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước hoặc tiêu diệt các
ngành công nghiệp non trẻ. Do đó, cần bảo đảm rằng, trong các ngành công nghiệp
công nghệ cao, doanh nghiệp địa phương không thể xử lý mà không có sự giúp đỡ
của các công ty đa quốc gia. Các quốc gia phát triển cũng có thể áp dụng một chính
sách cấm các nhà đầu tư nước ngoài trong một số ngành công nghiệp nhất định.
Ngành công nghiệp liên quan với việc sản xuất các thiết bị quân sự hiếm khi mở cửa
cho nước ngoài để đảm bảo an ninh quốc gia.
Một quốc gia có thể đặt ra các điều kiện với bất kỳ sự đi vào của bất kỳ nước
áp dụng thông qua sự có mặt của các doanh nghiệp trong nước được chỉ định để liên
doanh với nước ngoài. Chính sách cố chấp tại các nước đông Âu sau sự sụp đổ của
chủ nghĩa cộng sản và tiến tới nền kinh tế thị trường tự do. Mô hình trải rộng của
chủ nghĩa cộng sản tại một số nước châu Á tại đó vẫn giữ phương thức cơ bản thông
qua đầu tư nước ngoài được thành lập tại các nước đó. Tại các nước đang phát triển,
đầu tư nước ngoài thông qua hình thức liên doanh được ưa thích hơn. Chủ nghĩa dân
tộc đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tái cấu trúc được yêu thích hơn. Tại
Malaysia họ yêu cầu các công ty được cấu tạo theo đúng phương thức quy định là cổ
phần. Quy định mà các doanh nghiệp nước ngoài vào thông qua cổ phần hóa các
công ty đang hoạt động hoặc các công ty mới thành lập. Các chính sách quốc gia thay
vì chính sách kinh tế, đồng thời các vấn đề chính trị cũng được xem xét đóng vai trò
quan trọng trong việc xác định liên kết cấu trúc mà các doanh nghiệp được thiết lập
tại nhiều quốc gia. Tại một số nước phát triển, hình thức liên doanh giữa doanh
nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài không được quy định. Tuy nhiên,
hình thức liên doanh có thể được sử dụng do một số nguyên nhân như: sự cần thiết
do ít nguồn tài nguyên và công nghệ hoặc cần thiết phân tán rủi ro do thất bại của sự
liên doanh.
Các nhà đầu tư nước ngoài thích hình thức liên doanh tại các nước đang phát
triển do nó có thể phân tán rủi ro và mang lại cho nhà đầu tư tính minh bạch thấp hơn
và cung cấp cho các nhà đầu tư với các doanh nghiệp trong nước người sẽ là người
hòa giải hiệu quả tại chính phủ nước chủ nhà. Từ góc nhìn của sự bảo vệ đầu tư, yêu
cầu đầu tư vào được thiết lập thông qua liên doanh làm nổi bật vấn đề này. Vì các
công ty liên doanh được thành lập tại nước chủ nhà nên vấn đề về quốc tịch của công
ty và bảo vệ các cổ đông tăng mạnh. Vấn đề đó đứng trước tòa án xét xử quốc tế sẽ
tăng nhanh khi nước chủ nhà xem xét hình thức liên doanh là công ty của nước đó.
17
Một số nước chủ nhà cho phép đầu tư vào trong nước thông qua các doanh
nghiệp trong nước trong một số trường hợp: các tập đoàn đa quốc gia bắt đầu chuẩn
bị thiết lập các cam kết xuất khẩu toàn bộ hoặc phần lớn sản phẩm của công ty do đó
thu được lợi nhuận cho nước chủ nhà và tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động
tranh chấp kéo dài trong Amco và Indonesia liên quan đến vấn đề này. Trong trường
hợp đó, một trong những điều kiện mà các nhà đầu tư nước ngoài được phép tham
gia dự án tại Indonesia để xây dựng một khu du lịch khi liên doanh với một đối tác
Indonesia. Họ sẽ chuyển tiền vốn theo thỏa thuận từ nước ngoài vào nước này để cấp
vốn cho liên doanh. Theo luật, họ sẽ có được giấy chứng nhận từ Ngân hàng
Inđônêsia để cho thấy rằng đó vốn đã thực sự được chuyển vào trong nước. Ông ta đã
bị cáo buộc rằng ông ta đã không đưa vào vốn. Mặc dù nhà đầu tư nước ngoài tuyên
bố rằng ông đã làm như vậy, không có chứng nhận này có hiệu lực từ Ngân hàng In-
đô-nê-xi-a. Điều này đã được sử dụng như là một trong những căn cứ cho việc hủy
bỏ các thỏa thuận của cơ quan hành chính. Ban đầu tòa án ICSID phán quyết cho các
nhà đầu tư nước ngoài, nhưng sau phán quyết đã được vô hiệu hóa. Tòa án đã không
xem xét đầy đủ đến các vấn đề liên quan đến cổ phần hóa.
Một tòa án sau đó chỉ ra cho các nhà đầu tư nước ngoài là một thủ tục thích
hợp đã không được tuân thủ trong việc hủy bỏ các đặc quyền của nhà đầu tư nước
ngoài hoạt động trong nước khi quyết định hủy bỏ không dựa theo các tiêu chuẩn
theo đúng thủ tục. Các Tòa án phán quyết rằng đã có một sự từ chối công lý mà trách
nhiệm phát sinh. Các phán quyết đưa đến kết luận rằng, nếu các tiêu chuẩn tối thiểu
của thủ tục các biện pháp bảo vệ đã được trao cho các nhà đầu tư nước ngoài trước
khi quyết định đã được thực hiện, việc huỷ bỏ các đặc quyền sẽ hợp lý. Các vị trí của
Indonesia trong thách thức ban đầu của phán quyết đã được giải thích bởi Reisman
trong các điều khoản sau đây:
Indonesia dường như cảm thấy rằng nó đã thách thức các phán quyết bởi vì nếu một
quốc gia thiết lập một chương trình để kích thích đầu tư nước ngoài và các khoản trợ
cấp giấy phép trên cơ sở của chương trình đó, nhưng sự khác biệt nhiều như 16%
của các cam kết nước ngoài đầu tư quốc tế xác định là không thích hợp như chính
phủ nước chủ nhà chấm dứt giấy phép, quốc gia đó sẽ nhận thấy rằng nó là không thể
thực thi pháp luật riêng của mình.
19
Tình trạng này rõ ràng có ý nghĩa khi xem xét liệu một sự can thiệp quản lý có
thể dẫn đến tước đoạt quyền sở hữu. Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài không phù
20
gia cho phép nhà nước để bảo vệ lãnh thổ của mình trước tác hại đến môi trường mà
còn từ thực tế rằng, trong luật pháp quốc tế hiện đại, nhà nước có trách nhiệm bảo vệ
môi trường vì lợi ích của nhân loại.
Sự phát triển tiến bộ của quyền có một môi trường trong sạch được coi là một
quyền con người và như là một tiêu chí kết hợp các giá trị cao hơn có thể dẫn đến sự
không linh hoạt trong quyền của nhà nước can thiệp để bảo vệ môi trường. Tuy
nhiên, quyền này phải được thực hiện trên cơ sở khách quan. Tuy nhiên, khi có một
cuộc tranh chấp giữa việc bảo vệ môi trường và bảo vệ đầu tư nước ngoài. Tòa án
trọng tài, thường nhấn mạnh các lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài hơn là vấn đề về
môi trường, có xu hướng quyết ủng hộ bảo vệ đầu tư.
Dựa vào các yếu tố khách quan, quyền của nhà nước để loại trừ đầu tư có thể
gây hại cho môi trường của nó là chính đáng. Tuy nhiên, đôi khi rất khó để xác định
liệu động cơ đằng sau sự can thiệp là quan tâm đến môi trường hay can thiệp là một
biện pháp bảo vệ được thiết lập để cấm người nước ngoài tham gia vào nền kinh tế.
1.8. Quy định về chiến lược xuất khẩu
Chiến lược phát triển của các nước đang phát triển đang chuyển từ sản xuất
trong nước như một cách để giảm nhập khẩu đến chiến lược kiếm thu nhập thông
qua xuất khẩu hàng hóa. Mô hình phát triển này được cung cấp bởi các quốc gia công
nghiệp hóa như Singapo, Hàn Quốc, Thái Lan và Hồng Kông nơi việc xuất khẩu dẫn
đầu tăng trưởng ngoạn mục của nền kinh tế của họ. Sự chuyển dịch trọng tâm từ
thay thế nhập khẩu tăng trưởng xuất khẩu đã làm cho các nước đang phát triển
chuyển sang đầu tư thông qua các tập đoàn đa quốc gia với hy vọng rằng họ sẽ sản
xuất và xuất khẩu các sản phẩm từ của họ quốc gia và do đó kiếm được ngoại hối. Để
thực hiện chiến lược này, chủ nhà đã có các biện pháp để hỗ trợ các tập đoàn đa quốc
gia chú trọng xuất khẩu bằng cách hỗ trợ các đặc quyền hoặc thông qua thuế và các
ưu đãi khác. Tại một số quốc gia, mục tiêu xuất khẩu là một điều kiện bắt buộc khi đi
vào quốc gia.
Hoa Kỳ đã liên tục phản đối hạn ngạch xuất khẩu trên cơ sở họ đưa ra các yêu
cầu thực hiện. Những chương trình của hiệp định đầu tư song phương cũng tìm kiếm
phát triển liên quan đến vốn chủ sở hữu của nước chủ nhà với sự tham gia đầu tư
nước ngoài.
Cơ cấu cổ phần được áp đặt đối với công ty cổ phần vì lý do chủ nghĩa dân
tộc. Vai trò của chủ nghĩa dân tộc trong việc định hình chính sách về đầu tư nước
ngoài được phản ánh trong cấu trúc của công ty được ủy quyền. Đầu tư nước ngoài
phải phù hợp với các cấu trúc này khi đầu tư vào một quốc gia, phù hợp với các
22
chính sách bắt buộc của nhà nước trong các tập đoàn nước ngoài cho đến nay. Thông
thường, pháp luật sẽ xác định tỷ lệ phần trăm cổ phần phải có được và chi tiết các
giai đoạn và các khung thời gian trong đó cắt bỏ được thực hiện.
Hạn chế vốn chủ sở hữu không chỉ được áp dụng trong quan điểm kinh tế mà
còn có các động cơ về chính trị và động cơ khác. Các yêu cầu vốn chủ sở hữu thông
qua công cụ kinh tế như điều ước quốc tế về đầu tư hoặc các công cụ WTO.
Xem xét về kinh tế có thể tạo ra liên hệ dựa trên thỏa thuận mà các nhà đầu tư
nước ngoài có thể không dễ dàng thu hồi, do đó ngăn chặn sự gián đoạn do việc di
dời của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ gây ra. Tuy nhiên, động cơ chính trị là một
nguyên nhân chính cho các yêu cầu như vậy. Những yêu cầu này nhằm đảm bảo rằng
đầu tư nước ngoài thống nhất với các chính sách quốc gia để thúc đẩy sự phát triển
của các quốc gia.
Xem xét về kinh tế cũng tồn tại khi cho rằng nước ngoài tham gia vào ngành
công nghiệp được thực hiện thông qua liên doanh. Điều này cho phép chuyển giao
hiệu quả hơn quản lý công nghệ đến các đối tác liên doanh tại nước chủ nhà và kết
quả là tối đa hóa lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. Nó cũng sẽ đảm bảo rằng chính
sách của nhà nước được phản ánh tốt hơn khi chính sách được thực hiện.
Các yêu cầu liên quan đến vốn chủ sở hữu của chủ nhà vào các dự án đầu tư
nước ngoài mang lại lợi thế kinh tế cho nước chủ nhà. Nhưng trên thực tế là một tỷ
trọng nhỏ sẽ được chuyển ra nước ngoài, nó đảm bảo rằng nhà nước đã trực tiếp
hoặc gián tiếp kiểm soát các doanh nghiệp liên doanh.
Yêu cầu doanh nghiệp đầu tư phải hợp tác với doanh nghiệp tại nước chủ nhà
chỉ ra hình thức liên doanh được ưa thích. Công ty liên doanh đã trở thành hình thức
Đầu tư nước ngoài diễn ra trong khuôn khổ quy định của nước chủ nhà. Nếu
nhà đầu tư nước ngoài không đáp ứng được các yêu cầu của nước chủ nhà, nước chủ
nhà có chấm dứt việc đầu tư theo đúng quy định trong luật pháp của nước chủ nhà.
Tuy nhiên, vấn đề là liệu can thiệp như vậy có thể dẫn đến để tước quyền sở
hữu theo quy định của pháp luật quốc tế. Nếu nhà đầu tư nước ngoài được thừa nhận
theo điều kiện tuân theo luật pháp trong nước có thể dẫn đến sự tước đoạt quyền sở
hữu. Luật pháp quốc tế không quy định về vấn đề này ngoại t rừ trường hợp nhấn
mạnh trong quá trình trước khi can thiệp nhưng quy định trong các ràng buộc của
hiệp định
2. Các hình thức mới của đầu tư nước ngoài
Các hình thức mới của đầu tư nước ngoài là liên doanh và thỏa thuận chia sẻ
sản xuất. Các hình thức này được hỗ trợ bởi các thỏa thuận như hợp đồng quản lý
24
(mà là dựa trên phân tách quyền sở hữu và kiểm soát để quản lý kiểm soát một dự án
lại cho một số tiền cố định trong khi lợi nhuận của dự án cho nhà nước), thỏa thuận
chuyển giao công nghệ (nơi mà các công nghệ cần thiết cho dự án được cung cấp bởi
người nước ngoài) và các biện pháp thông qua đó Nhà nước có thể để đảm bảo kiểm
soát các dự án và chia sẻ lợi nhuận.
2.1. Liên doanh
Liên doanh là một thỏa thuận hợp tác giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp để đạt
được một mục tiêu cụ thể hoặc tham gia trong một dự án khác có thể là thành công
hơn
theo đuổi như là một kết quả của tổng hợp các nguồn lực hoặc công nghệ.
Hai hình thức liên doanh là:
+ Liên doanh hợp danh: không khác công ty theo pháp luật thông thường.
+Hợp tác liên doanh: các bên tham gia vào một thỏa thuận để kết hợp một
công ty thông qua đó họ sẽ thực hiện các mục tiêu kinh doanh.
Công ty liên doanh là một đóng góp của Mỹ để thương mại. Việc sử dụng của
nó trong kinh doanh quốc tế bây giờ là phổ biến. Trong các nước phát triển, các hình
thức liên doanh đã được được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp công nghệ