Đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Việt Nam - Pdf 25


1
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯ ờNG ĐạI HọC KINH Tế

Đỗ Thị Ngọc ánh
đào tạo nguồn nhân lực công nghệ
thông tin ở Việt Nam

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01

LUậN VĂN THạC Sỹ KINH Tế CHíNH TRị
NGƯ ờI HƯ ớNG DẫN KHOA HọC
TS. Tạ Đức Khánh


Nam
28
2.2 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở
Việt Nam
32
2.2.1 Hệ thống đào tạo chuyên ngành công nghệ thông tin
32
2.2.2 Đào tạo nhân lực trong các doanh nghiêp CNTT
45
2.2.3 Đào tạo đội ngũ các nhà lãnh đạo CNTT ( CIO: Chief
Information Officer)
48
2.2.4 Đào tạo nhân lực triển khai ứng dụng CNTT
52
2.3 Đánh giá chung về đào tạo nhân lực CNTT ở Việt Nam
70
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH ĐỂ
THÚC ĐẨY
76

3
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1 Quan điểm phát triển công tác đào tạo nhân lực CNTT từ nay
đến 2020
76
3.1.1 Nhân lực CNTT trƣớc bối cảnh mới trong nƣớc và quốc tế
76
3.1.2 Các quan điểm cơ bản
89

công nghiệp hóa, hiện đại hoá, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền
vững là phải phát triển nguồn nhân lực. Chúng ta phải đi tắt đón đầu, phải cố gắng
đi ngay vào công nghệ hiện đại đối với một số lĩnh vực then chốt và từng bước mở
rộng ra toàn bộ nền kinh tế. Chú trọng đúng mức việc phát triển công nghệ cao:
công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến và công
nghệ năng lượng mới để tạo ra những bước đột phá.
Công nghệ thông tin là công cụ quan trọng hàng đầu để hình thành xã hội
thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hiện nay, ngành
CNTT Việt Nam là ngành liên tục tăng trưởng cao trong nhiều năm. Tốc độ tăng
trưởng trung bình giai đoạn 2001-2005 là 22,7%, tỉ lệ tăng trưởng rất cao so với
tốc độ tăng trưởng khu vực và thế giới. Tuy nhiên, những kết quả trên vẫn “chưa
tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của ngành và yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước”. Sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) ngày 07/11/2006 là một bước ngoặt quan trọng xác định vị thế
Việt Nam trên con đường hội nhập toàn cầu.
CNTT và truyền thông bao gồm 4 trụ cột cấu thành: ứng dụng CNTT, nguồn
nhân lực CNTT, công nghiệp CNTT và cơ sở hạ tầng CNTT. Đảng và Chính phủ
ta đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực cho CNTT. Đây là
yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển CNTT.
Để phát triển được nguồn nhân lực CNTT chất lương cao, công tác đào tạo được
coi là nhiệm vụ hàng đầu.
Quyết định 05/2007/QĐ-BTTTT về việc quy hoạch phát triển nguồn nhân
lực CNTT Việt Nam đến năm 2020 đã khẳng định: “Phát triển mạnh nguồn nhân

5
lực CNTT, đảm bảo có đủ nhân lực phục vụ nhu cầu ứng dụng và phát triển công
nghệ thông tin, xây dựng kinh tế tri thức và xã hội thông tin, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và cung cấp nhân lực công nghệ
thông tin cho thị trường lao động quốc tế; Hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả và
năng lực cạnh tranh của hệ thống đào tạo nhân lực CNTT, nâng trình độ đào tạo

ra một số giải pháp nhằm tăng tính hiệu quả trong việc quản lý nguồn nhân lực ở
nước ta.
“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc” của Nguyễn Thanh do Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 2005 cho chúng
ta một cái nhìn tổng thể về tình hình phát triển nguồn nhân lực và các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
“Phát triển nhân lực công nghệ ƣu tiên ở nƣớc ta trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” của Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (2002), Nxb Giáo dục
Hà Nội đã đi sâu nghiên cứu nhân lực công nghệ ưu tiên ở nước ta như: CNTT,
công nghệ sinh học và phân tích các giải pháp để phát triển nguồn nhân lực này.
tác phẩm “ Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin khu
vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng” của Tô Chí Thành do NXB bưu điện xuất bản
năm 2004 đã tập trung nghiên cứu các chiến lược phát triển nhân lực CNTT của
Trung Quốc, ấn Độ, Malaixia và Philippin.
ở thể loại báo và tạp chí, có rất nhiều bài viết về đề tài phát triển nguồn nhân
lực, đặc biệt, tạp chí lý luận chính trị của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
đã giành một chuyên mục:“ Nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa” cho những bài viết về chủ đề này.
Phát triển nguồn nhân lực là một đề tài đã được nhiều người chọn làm đề tài
luận án như: Luận án Tiến sỹ kinh tế: “Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn
nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc” của Phan
Thanh Tâm (2000), ĐH Kinh tế quốc dân đã đi sâu nghiên cứu một số nhóm giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH.
Luận án Tiến sỹ kinh tế: “Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn

7
nhân lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” của Phạm Văn Quý, năm 2005, Viện kinh tế Việt Nam đã phân tích thực
trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở nước ta và đưa ra một số

đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ lý thuyết về nguồn nhân lực CNTT và đào tạo nguồn nhân lực
CNTT.
- Phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc đào tạo
nguồn nhân lực CNTT.
- Đánh giá thực trạng đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở nước ta hiện nay.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực công
nghệ thông tin nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng tiến trình đẩy nhanh sự
nghiệp công nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề về đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực
CNTT ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu là những vấn đề chung về đào tạo nguồn nhân lực CNTT
ở nước ta trong giai đoạn 1997 – 2007 và những vấn đề đặt ra đối với việc đào tạo
nguồn nhân lực CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
5. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ những nguyên lý chung dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn sử
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, và các phương pháp
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để nghiên cứu, giải quyết các vấn đề đặt ra.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực và đào
tạo nguồn nhân lực CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý
nguồn nhân lực CNTT ở nước ta trong giai đoạn 1997 đến nay.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp cơ bản thúc đẩy đào tạo
nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong thời gian tới
7. Bố cục của luận văn

9

phần cứng máy tính cũng chính là một phần cơ bản của cơ sở hạ tầng CNTT .
CNPM là một ngành kinh tế nhằm nghiên cứu, xây dựng, phát triển, sản xuất
và phân phối các sản phẩm phần mềm, cung cấp các dịch vụ đào tạo, huấn luyện,
tư vấn các giải pháp, hỗ trợ kỹ thuật, bảo trì cho người tiêu dùng Phát triển
CNPM đòi hỏi phát triển 3 lĩnh vực chủ yếu: tạo sản phẩm , dịch vụ và đào tạo.
Nguồn nhân lực ICT gồm: người lãnh đạo, người sử dụng, DN và chuyên gia.
Cơ sở hạ tầng ICT gồm: điện thoại di động, cố định, Internet, băng thông, cước.
Bốn thành phần này có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ tạo nên sức mạnh ICT,
được thúc đẩy và phát triển bởi 3 chủ thể là người sử dụng, DN và Chính phủ .
Người sử dụng là người dân, DN, cơ quan Chính phủ, các tổ chức cá nhân trong

11
và ngoài nước đầu tư và thúc đẩy phát triển thông qua thị trường, tham gia thúc
đẩy các DN đổi mới, tham gia với Chính phủ trong việc xây dựng, thực hiện, giám
sát, kiểm tra, đánh giá kết quả và tác động của các chính sách phát triển CNTT.
Doanh nghiệp tham gia sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ, cùng người
sử dụng tham gia phát triển thị trường, tham gia với Chính phủ trong các hoạt
động xây dựng, điều chỉnh và thực hiện các chính sách phát triển CNTT.
Chính phủ đóng vai trò tạo môi trường pháp lý, thể chế, chính sách, điều hành
phối hợp và hợp tác quốc tế, thúc đẩy và hỗ trợ cho CNTT phát triển .
- Đặc điểm công nghệ thông tin
CNTT có các đặc điểm là: khả năng truyền tải lượng thông tin nhanh, nhiều và
rộng theo mạng làm cho việc gián tiếp từ xa được thực hiện gần như tức thì; khả
năng lưu trữ dữ liệu ngày càng lớn về mặt dung lượng, trên những loại vật mang
ngày càng nhỏ bé về kích thước; thời gian truy cập ngày càng ngắn, phần tỷ giây
cho phép xử lý những đối tượng có tầm vóc thông tin khổng lồ.
CNTT có khả năng áp dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực: từ khoa học tới kinh
tế – xã hội. CNTT là 1 công nghệ có nhiều “tầng lớp ”: ở tất cả các khâu đoạn sản
xuất CNTT. Tầng 1: chương trình ứng dụng cho từng cơ quan, xí nghiệp, có thể
được thành lập bởi 1 ngôn ngữ lập trình dựa trên những hệ quản trị dữ liệu,

Khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. CNTT đang tạo ra
khả năng và phương thức tiếp cận mới cho phát triển quốc gia, tạo ra những tiềm
năng và cơ hội giúp các nước đang phát triển vượt qua những rào cản lạc hậu, thực
hiện thành công những mục tiêu chiến lược quốc gia, đẩy nhanh và rút ngắn quá
trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Thứ nhất, ứng dụng CNTT làm giảm chi phí sản xuất và tạo giá trị gia
tăng cao
Là ngành có hàm lượng tri thức kỹ thuật cao, CNTT có vai trò vô cùng quan
trọng đối với nâng cao năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế.
CNTT phát triển đã cung cấp những biện pháp nhanh nhạy cho việc khai
thác, sử dụng đầy đủ nguồn tài nguyên thông tin. Năng lực xử lý và tốc độ tính
toán nhanh của máy tính giúp chu kỳ nghiên cứu triển khai sản xuất ngắn lại.
Nhịp độ sản xuất được đẩy nhanh, giảm hao phí về tài nguyên, năng lượng.
Thông tin thông suốt làm giảm các chi phí điều tra nghiên cứu thị trường, tiếp thị
sản xuất , hạ giá thành sản phẩm, năng suất lao động tăng mạnh mẽ.
Lượng thông tin ngày một gia tăng mạnh mẽ: cứ 5 năm, lượng thông tin của

13
thế giới lại tăng gấp đôi. Nhờ có CNTT, nhất là Internet, thế giới ngày càng trở
nên nhỏ bé, thông tin không biên giới đã hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế vượt ra
khỏi phạm vi quốc gia và mang tính toàn cầu. Vốn, sản xuất, hàng hoá, sức lao
động, thông tin và công nghệ được trao đổi, sử dụng và điều phối xuyên quốc gia
đã là phổ biến. Quan hệ hợp tác và cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế, thương
mại, công nghệ giữa các quốc gia, giữa các DN ngày càng mạnh mẽ.
Việc truyền tải nhanh chóng thông tin làm cho nhịp độ sản xuất kinh doanh
ngày càng nhanh hơn, chu kỳ tồn tại của kỹ thuật và sản phẩm ngày càng ngắn lại.
Các khâu sản xuất, cung ứng và tiêu thụ đều phải thay đổi, chuyển từ sản xuất quy
mô lớn sang sản xuất theo đơn “đặt hàng ”qua Internet, thu hẹp khoảng cách giữa
người sản xuất và tiêu dùng. Người sản xuất có thể hiểu được nhu cầu của khách
hàng, nắm được thông tin thị trường một cách nhanh nhất, có thể xây dựng được

để hạ giá thành. CNTT đã giúp các tổ chức tín dụng, các chi nhánh ngân hàng nhà
nước ở vùng sâu vùng xa có được thông tin kịp thời thông qua trang Web đã
không còn trở ngại về khoảng cách và thời gian .
- Thứ hai, phát triển CNTT cho phép phát triển giáo dục từ xa, góp phần
thúc đẩy quá trình đào tạo liên tục và nâng cao dân trí .
Dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng thông tin 1, 2 thập kỷ qua,
nền kinh tế thế giới có những chuyển biến sâu sắc. Thông tin - tri thức là nguồn tài
nguyên số một, là cơ sở của sự giàu có. Sự sáng tạo và đổi mới thường xuyên là
động lực thúc đẩy sự phát triển. Công nghệ đổi mới nhanh, vòng đời công nghệ rút
ngắn vài năm thậm chí vài tháng.
Đầu tư cho giáo dục chính là quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia. Mô
hình giáo dục truyền thống: đào tạo - làm việc không còn phù hợp, cần một mô
hình mới: đào tạo - làm việc - đào tạo. Mạng thông tin giúp mọi người tiếp nhận
nhanh kiến thức, chủ động theo kịp sự đổi mới, phát triển trí sáng tạo. Giáo dục,
đào tạo từ xa giúp nâng cao chất lượng các chương trình giảng dạy và học tập.
Người đi học ở khắp mọi nơi có thể thông qua mạng để đăng ký và tham gia học
tập. Điều này đã hạ thấp chi phí học tập và tiết kiệm thời gian cho người học. Ví
dụ, một sinh viên Việt Nam muốn tham gia khoá học ở một trường Đại học của
nước ngoài, nếu anh ta sang tận nước đó du học thì tốn kém tiền bạc và thời gian
hơn nhiều so với việc anh ta học qua mạng mà vẫn được cấp bằng của Đại học đó.
Với sự hỗ trợ của CNTT, học sinh sẽ được tiếp thu phương pháp học tập mới,
gây nhiều hứng thú cho người học và người dạy, tăng tính tự chủ, sáng tạo cho

15
người học, góp phần đắc lực vào việc nâng cao hiệu quả học tập và giảng dạy.
Việc tăng cường thêm các hoạt cảnh, các hình ảnh sinh động mang tính ngụ ý,
các đoạn âm thanh diễn cảm bằng máy tính trong các môn kinh tế, quản lý, luật,
khoa học xã hội và nhân văn làm cho người học dễ nhớ, dễ hiểu bài, thấy vui
hơn, hấp dẫn hơn. Người học chủ yếu là tự học, thông qua giáo trình, tài liệu, sách
báo điện tử và phim, ảnh điện tử lồng ghép một cách tinh vi

làm giảm đầu tư đáng kể cho quá trình phát triển. CNTT sẽ giúp chúng ta tìm ra
những phương án phát triển khác quá trình công nghiệp hoá theo kiểu cũ.
ứng dụng và phát triển CNTT đúng đắn sẽ tạo cơ hội rút ngắn thời gian, cho
phép chúng ta sử dụng tối ưu nguồn lực, thu hẹp khoảng cách tri thức, thu hẹp
khoảng cách xã hội nông thôn - thành phố, nghèo - giàu, truyền thống -hiện đại.
Ứng dụng, phát triển CNTT đúng đắn sẽ thúc đẩy quá trình CNH, HĐH diễn
ra nhanh hơn, mạnh hơn về quy mô, tốc độ, tạo khả năng to lớn để có thể đi tắt,
đón đầu ở những lĩnh vực không nhất thiết phải phát triển tuần tự, phát huy thế
mạnh trí tuệ, truyền thống lịch sử của dân tộc, thực hiện thắng lợi quá trình CNH,
HĐH.
Cũng cần phải hiểu rằng đi tắt, đón đầu không có nghĩa là đi tắt đến những xã
hội phát triển ngày nay mà đi tắt tới xã hội mà ngay cả những nước phát triển nhất
cũng chưa hề đạt được. Đó chính là xã hội mà trong đó con người biết sống và tiêu
dùng vật chất với trình độ văn minh cao, luôn vươn tới trí tuệ và sáng tạo, con
người phát triển hài hoà với khoa học công nghệ và tự nhiên, lấy trí tuệ, sáng tạo
và văn minh làm thước đo giá trị của mỗi con người. Đó là xã hội xã hội chủ nghĩa
mà nhân dân ta xây dựng với các tiêu chí “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh”.
Tuy nhiên, dựa vào công nghệ thông tin với tư cách là đòn bẩy chủ lực để
rút ngắn quá trình phát triển từ một xuất phát điểm chung còn rất thấp, đối với
nước ta là một thách thức rất lớn, đòi hỏi phải có những bước đi hợp lý và phải tập
hợp được sức mạnh, ý chí và trí tuệ tổng hợp của cả dân tộc dưới sự chỉ đạo sáng
suốt, khéo léo và quyết đoán của Đảng và Nhà nước, phải tận dụng tối đa những
thành tựu khoa học công nghệ. Đó là điều kiện then chốt để đẩy nhanh tốc độ và
nâng cao chất lượng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Thứ tư, CNTT sẽ tạo ra sự phát triển bền vững .
Việc phát triển kinh tế xã hội qua việc sử dụng ngày càng nhiều các phương
tiện ICT sẽ ngày càng làm cho thế giới thịnh vượng và công bằng hơn. Viễn thông

17

Quá trình tự động hoá nền sản xuất công nghiệp và tin học hoá nền kinh tế

18
diễn ra nhanh chóng làm cho khu vực thông tin tăng trưởng nhanh chóng. Xu thế
chung của nền kinh tế phát triển là khu vực thông tin ngày càng chiếm vị trí chủ
đạo, thế giới đang thực hiện một sự chuyển biến từ nền kinh tế công nghiệp sang
nền kinh tế tri thức. Đó là nền kinh tế mới dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên
thông tin và trí tuệ. Trong nền kinh tế đó, khai thác các nguồn tài nguyên thông
tin, các ý tưởng sáng tạo, các nguồn tri thức là những yếu tố chủ chốt để tạo ra của
cải, sự giàu có. Không sử dụng CNTT thì khó đạt hiệu quả hành chính, khó thực
hiện công khai, minh bạch, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, khó đẩy lùi
tham nhũng tiêu cực, phiền nhiễu dân Không có lĩnh vực nào có thể đổi mới phát
triển nhanh nếu không sử dụng CNTT. Không ngừng phát triển CNTT là một
trong những giải pháp đột phá cho sự ra đời và phát triển của nền kinh tế tri thức .
1.4 Nguồn nhân lực CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của nhân lực công nghệ thông tin
- Khái niệm nhân viên công nghệ thông tin
Nhân viên công nghệ thông tin là một bộ phận của nhân lực khoa học - công
nghệ. Nhân lực khoa học - công nghệ là một bộ phận của lực lượng lao động xã
hội được đào tạo ở những trình độ chuyên môn nhất định và tham gia trực tiếp hay
gián tiếp vào các hoạt động khoa học - công nghệ từ nghiên cứu, triển khai đến
đào tạo, quản lý và vận hành các hệ thống công nghệ. Đội ngũ nhân lực khoa học -
công nghệ. Có nhiều mức trình độ đào tạo cơ bản khác nhua từ công nhân kỹ
thuật, nhân viên nghiệp vụ, kỹ thuật viên trung cấp đến đội ngũ kỹ sư, chuyên gia
có trình độ đại học và sau đại học .
- Các loại hình nhân lực công nghệ thông tin:
+ Nhân lực khoa học cơ bản: Gồm đội ngũ chuyên gia có trình độ cao trong
các lĩnh vực khoa học và công nghệ cơ bản có liên quan trực tiếp đến quá trình
phát triển CNTT như toán, vật lý, hóa học, khoa học vật liệu, tự động hóa
+ Nhân lực chuyên ngành CNTT: gồm nhân lực phần mềm( lập trình ) và

những chính sách nghiêm ngặt để chống vi phạm bản quyền.
+ Thứ tư, nhân lực CNTT là những con người cần có nhiều kiến thức, sự hiểu biết
về các ngành khoa học khác và hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực trong đời sống

20
xã hội. Một chuyên gia CNTT thuần tuý mà muốn có 1 sản phẩm phần mềm trong
lĩnh vực tài chính ngân hàng, bên cạnh những kỹ thuật CNTT nhất định, anh ta sẽ
phải tìm hiểu rất nhiều về lĩnh vực tài chính ngân hàng, về thị trường, về
marketting, về các ưu, nhược điểm của các phần mềm khác đã có trong lĩnh vực
này. Nếu không, sản phẩm của anh ta sẽ lạc hậu hoặc sẽ rất khó sử dụng, sẽ không
được các đối tác ngân hàng tin dùng.
+ Thứ tư, nhân lực CNTT là những người tiếp cận nhanh nhất các luồng thông tin
nghề nghiệp ở quy mô thế giới và khu vực, do đó đòi hỏi về giao tiếp, dân chủ và
đãi ngộ của họ khá cao. Họ là những người phải làm việc rất nhiều với máy tính,
với Internet, với các công nghệ mới. Các thông tin trên Internet là vô cùng cập
nhật, nóng hổi. ở trên mạng, họ không chỉ có giao tiếp với những người trong
nước mà có thể giao lưu với rất nhiều người trên khắp thế giới. Họ phải là những
người luôn cố gắng tạo ra những công nghệ mới, những sản phẩm mới, khác biệt.
Do vậy, việc tiếp cận các luồng thông tin mới nhất là vô cùng cần thiết, có ý nghĩa
quan trọng đối với sự phát triển nghề nghiệp của họ.
Những đặc điểm trên cho thấy, các biện pháp và chính sách quản lý đối với
nguồn nhân lực này phải hết sức khéo léo để họ vừa tuân thủ đúng pháp luật vừa
phát huy được cao độ tính sáng tạo của mình.
1.2.3 Vai trò của nhân lực công nghệ thông tin
Sự phát triển của ngành CNTT phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nguồn nhân lực
CNTT; trang thiết bị nghiên cứu, ứng dụng, vốn đầu tư cho ngành, chính sách của
Nhà nước đối với ngành trong đó đội ngũ nhân lực CNTT có vai trò hết sức
quan trọng. Trong thời đại Cách mạng khoa học công nghệ, toàn cầu hóa, khu vực
hóa, quá trình công nghiệp hóa luôn gắn với hiện đại hóa, nguồn nhân lực, đặc biệt
ở lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ thông tin với số lượng đông, chất lượng

tầng lớp nhân dân về vai trò quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong thời đại
ngày nay. Những người làm trong lĩnh vực CNTT là những người hiểu biết nhất,
có kiến thức chuyên sâu nhất về vai trò, tác dụng của việc ứng dụng CNTT đối với
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bằng những kiến thức đã được trang bị
trên ghế nhà trường cũng như những kinh nghiệm làm việc thực tế, họ sẽ là những

22
tuyên truyền viên tích cực nhất cho mọi người thấy được hiệu quả vô cùng to lớn
nếu biết lựa chọn cách thức tối ưu nhất để ứng dụng CNTT. Bên cạnh sự sành sỏi
về công nghệ, các nhân viên IT cần có năng lực phân tích thực tiễn kinh doanh,
các vấn đề khách hàng, các quy chế quản lý và xu hướng phát triển của ngành
công nghiệp công nghệ, có khả năng giao tiếp tốt. Đây cũng chính là những yếu tố
sẽ giúp họ phổ biến rộng rãi các kiến thức về CNTT một cách dễ dàng, dễ đi vào
lòng người, thu hút được nhiều sự quan tâm của mọi người.
1.2.3 Đặc điểm của công tác đào tạo nguồn nhân lực CNTT
Để có được nguồn nhân lực CNTT nhiều về số lượng, mạnh về chuyên môn
nghiệp vụ, công tác đào tạo giữ vai trò quyết định. Hoạt động đào tạo nguồn nhân
lực phải mang những đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, chương trình phải thường xuyên đổi mới, có tính cập nhật
cao
Chương trình giảng dạy là vô cùng quan trọng. Đó là một trong những yếu tố
cơ bản quyết định đến chất lượng của người học cũng như sự hứng thú của người
học đối với lĩnh vực mà mình đã lựa chọn. Hiện nay, tất cả các trường đang đầu tư
khá nhiều cho hoạt động đổi mới chương trình đào tạo để nâng cao chất lượng đào
tạo, làm sao cho chương trình mang tính cập nhật cao, để sinh viên ra trường có
thể tiếp cận luôn với công việc được giao và hoàn thành công việc một cách tối ưu
nhất. Sự đổi mới chương trình giảng dạy, nâng cao tính cập nhật trong lĩnh vực
đào tạo CNTT lại vô cùng cần thiết. CNTT là một lĩnh vực công nghệ cao, luôn
luôn có sự biến đổi từng ngày, từng giờ. Sự thay đổi như vũ bão của CNTT đòi
hỏi công tác đào tạo phải tiến hành liên tục, không ngừng, chương trình phải

Bất cứ môn học nào, nếu có sự giúp sức của các trang thiết bị giảng dạy hiện
đại, tiến tiến sẽ càng thu hút được sự chú ý của người học, người học sẽ thích thú
với bài học hơn, sẽ hào hứng học tập và trao đổi với nhau hơn. Học CNTT cũng
vậy, thậm chí, việc trang bị các thiết bị hiện đại tiên tiến là vô cùng quan trọng,
quyết định phần lớn đến chất lượng đào tạo, đến khả năng làm việc của sinh viên
sau này. Đào tạo CNTT đòi hỏi phải có một hệ thống máy tính chạy ổn định,
nhiều tính năng, tốc độ cao, hệ thống đường truyền Internet nhanh, ổn định, các

24
thiết bị máy chiếu, băng đĩa chất lượng tốt, hiện đại, cập nhật. Máy tính là công
cụ quan trọng nhất của việc học CNTT. Có đầy đủ hệ thống máy tính, đảm bảo
mỗi sinh viên được sử dụng một chiếc máy tính thì việc học tập mới đạt hiệu quả,
sinh viên mới có nhiều cơ hội và thời gian để thực hành. Máy chạy nhanh, cấu
hình cao giúp sinh viên học tập hiệu quả hơn, không phải mất nhiều thời gian đợi
máy khởi động hay xử lý các chương trình, dữ liệu Đường truyền Internet nhanh,
ổn định giúp các sinh viên dễ dàng trao đổi, cập nhật thông tin mới nhất trên thế
giới một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất, tạo nhiều cơ hội cho sinh viên tự học và
học hỏi từ các bạn bè, đồng nghiệp trên khắp thế giới.
- Thứ tƣ, hoạt động đào tạo phải mang tính quốc tế.
Tiếng Anh là một yêu cầu rất cần thiết khi học CNTT. Tiếng Anh là một
ngôn ngữ phổ biến trên thế giới hiện nay. Có học tốt ngoại ngữ thì mới có khả
năng đọc tài liệu tin học bằng tiếng Anh, mới có khả năng nghiên cứu tin học. Các
chương trình, tài liệu học CNTT thường phổ biến là sử dụng Tiếng Anh. Các phần
mềm cũng thường được viết bằng Tiếng Anh. Các giáo trình, tài liệu học luôn
được cập nhật và phải mang tính quốc tế, nhiều trường trên thế giới có sự liên kết
chặt chẽ với nhau trong đào tạo. Ví dụ, một số trường đại học của Anh, Pháp, Mỹ
liên kết với một số trường đại học của Việt Nam, các sinh viên có thể học một
năm ở Việt Nam, sau đó sang các nước khác học tiếp và vẫn được cấp bằng của
những trường đại học danh tiếng của nước ngoài; hoặc các sinh viên có thể học
toàn bộ khóa học ở Việt Nam nhưng vẫn được cấp bằng của các trường nước

%/ năm, giá trị xuất khẩu hơn 10 tỷ USD chiếm 1/ 10 giá trị xuất khẩu cả nước.
Ấn Độ đã xuất khẩu phần mềm đến khoảng 95 nước và hơn 250 trong số hơn 500
công ty hàng đầu thế giới hiện đang sử dụng các phần mềm có xuất xứ từ Ấn Độ.
Đây là một trong những cái nôi đào tạo ra những lao động CNTT với chất
lượng khá cao, có thể cạnh tranh được với nhiều quốc gia phát triển trên thế giới
như Mỹ, Nhật… Ấn Độ là một trong những nơi lý tưởng để Việt Nam học tập và
đúc rút những kinh nghiệm rất quý báu cho sự nghiệp đào tạo nhân lực CNTT
nước nhà, cho sự nghiệp phát triển ngành CNTT.
Nguyên nhân thành công chính của Ấn Độ là: Thứ nhất, Ấn Độ đã thực

Trích đoạn CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CễNG NGHỆ THễNG TIN Ở VIỆT NAM Hệ thống đào tạo chuyờn ngành cụng nghệ thụng tin Đào tạo nhõn lực trong cỏc doanh nghiờp CNTT Đào tạo đội ngũ cỏc nhà lónh đạo CNTT( CIO: Chief Information Officer)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status