ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
VŨ VĂN ĐÔNG
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao 6
1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 9
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao 11
1.2. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với phát triển kinh tế - xã
hội và các nhân tố ảnh hưởng 15
1.2.1. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với phát triển kinh
tế - xã hội 15
1.2.2. Nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế -
xã hội 18
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực chất lượng cao 21
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội 25
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chất
lượng cao của Thành phố Hà Nội 25
1.3.2. Một số kinh nghiệm thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao của tỉnh Bắc Ninh 27
1.3.3. Một số kinh nghiệm thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao của Thành phố Đà Nẵng 28
1.3.4. Một số kinh nghiệm thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao của Thành phố Hồ Chí Minh 29
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO CHO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HẢI DƢƠNG TRONG NHỮNG
NĂM QUA 31
2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nguồn nhân lực và
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Hải Dương 31
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Hải Dương 31
2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội Hải Dương đặt ra vấn đề phải phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao 32
2.2. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội ở
Hải Dương 82
3.2.4. Nhóm giải pháp nâng cao tình trạng sức khỏe, nâng cao chất lượng
dân số 85
3.2.5. Nhóm giải pháp tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động 88
3.2.6. Nhóm giải pháp về xây dựng môi trường sống thuận lợi, phục vụ
cho việc khai thác, sử dụng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 91
3.2.7. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực và vai trò của bộ máy quản lý
nhà nước về nguồn nhân lực 93
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 102
BẢNG QUY ƢỚC VIẾT TẮT CĐ: Cao đẳng
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNKT: Công nhân kỹ thuật
CMKT: Chuyên môn kỹ thật
ĐH,CĐ: Đại học, cao đẳng
ĐH: Đại học
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GDTX: Giáo dục thường xuyên
HDI: Chỉ số phát triển con người
KT - XH: Kinh tế - xã hội
KH - CN: Khoa học - công nghệ
KT: Kinh tế
NNL: Nguồn nhân lực
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
nhân lực của mình. Báo cáo chính trị tại Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam đã
nhấn mạnh: "Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao" [16, tr.95]. Điều đó cho thấy, đào tạo và sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành một trong các yếu tố then chốt thúc đẩy
kinh tế - xã hội phát triển.
Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Cùng với quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong khoảng mười năm gần đây, kinh tế
2
- xã hội tỉnh Hải Dương đang trên đà phát triển mạnh, Tỉnh đã xác định rõ lợi thế
so sánh, xu hướng phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế và khẳng định
cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại, bền vững
có sức cạnh tranh. Vì vậy, đòi hỏi Hải Dương cần phải có nguồn nhân lực chất
lượng cao bao gồm những con người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh,
sáng tạo, được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hóa, được đào tạo thành thạo về kỹ
năng nghề nghiệp, về năng lực sản xuất kinh doanh, về quản lý kinh tế - xã hội,
có trình độ khoa học - kỹ thuật cao.
Nhìn chung nguồn nhân lực của Hải Dương hiện nay chưa thực sự đáp
ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH, chưa thực sự là động lực để phát
triển kinh tế - xã hội và công nghiệp của tỉnh. Vì vậy, theo tinh thần Đại hội
Đảng của tỉnh lần thứ XV đã khẳng định: "Đẩy mạnh giáo dục - đào tạo và dạy
nghề; chú trọng đổi mới quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học, tăng cường
đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao toàn diện về giáo dục và đào tạo, chăm lo phát
triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu
cầu cạnh tranh và cung cấp nhân lực cho các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
trong tỉnh và xuất khẩu lao động". Cho nên việc nghiên cứu lý luận và phân tích
thực trạng nguồn nhân lực để có những giải pháp nhằm tạo ra một sự chuyển
biến về chất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự
phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại.
Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài "Nguồn nhân lực chất lượng cao cho
một số tác giả bàn đến hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong một số ngành cụ
thể, cho phát triển kinh tế xã hội, nhưng chưa phân tích nhiều về nguồn nhân lực
chất lượng cao trong tình hình đất nước có những đổi mới và có sự chuyển dịch
cơ cấu ngành mạnh mẽ. Đặc biệt, việc đi sâu nghiên cứu nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Hải Dương hiện chưa có công trình nghiên cứu. Vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài: "Nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội ở
Hải Dương" là cách tiếp cận cụ thể nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều
kiện mới có tính đặc thù riêng của Hải Dương đề cập một cách hoàn chỉnh, toàn
diện như nội dung của luận văn đề cập.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Nghiên cứu lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao tạo cơ sở khoa học
để phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực này cho phát triển kinh tế - xã
hội ở tỉnh Hải Dương.
4
- Đề xuất các giải pháp để đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao nhằm đáp ứng phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương từ nay đến 2020.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Luận giải một cách khoa học nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực
cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại.
- Khảo sát, nghiên cứu thực trạng, làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu,
nhu cầu nguồn lao động chất lượng cao, đưa ra những giải pháp khả thi nhằm
khắc phục những hạn chế, đề xuất một số phương hướng, giải pháp đào tạo thu
hút và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế - xã hội
ở Hải Dương từ nay đến 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển
theo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 8 tiết.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực chất lượng cao
cho phát triển kinh tế - xã hội.
Chƣơng 2: Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh
tế - xã hội Hải Dương trong những năm qua.
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương.
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƢỢNG CAO CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI
1.1. Nguồn nhân lực chất lƣợng cao và các tiêu chí đánh giá
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong những năm gần đây, các nước trên thế giới hầu hết đều coi nguồn
nhân lực chất lượng cao là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định đối với sự phát
triển nhanh và bền vững. Trên thực tế, các quốc gia như Singapo, Nhật Bản,
Hồng Kông, Hàn Quốc là những nước đạt tốc độ phát triển kinh tế cao liên tục
trong nhiều thập kỷ, nên chỉ trong một thời gian ngắn đã biến đất nước họ trở
thành các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Yếu tố đóng vai trò quyết định cho
sự thành công trong phát triển kinh tế của các quốc gia đó chính là nguồn nhân
lực có chất lượng cao. Ở các nước phát triển cao người ta đã tính toán được rằng
trong giá trị của những sản phẩm cao cấp thì hàm luợng chất xám chiếm 70%,
năng lượng 10%, nguyên liệu 10%, thao tác vật chất chỉ chiếm 5,6%. Trong thời
trọng nhất của lực lượng sản xuất. Trong mọi hình thái KT - XH, nguồn nhân lực
là yếu tố trung tâm, vai trò quyết định đối với sự phát triển của sản xuất. Đồng
thời là mục đích của nền sản xuất xã hội.
Theo nghĩa hẹp (xét theo từng thời kỳ) đó là lượng lao động của một quốc
gia, là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động (ở
nước ta được hiểu là bộ phận dân số từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và 55
tuổi đối với nữ trừ những người tàn tật, mất sức lao động loại nặng và cả lao động
trẻ em và lao động cao tuổi).
Theo giáo trình kinh tế lao động, thì: nguồn nhân lực được hiểu là nguồn
lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển
kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài
chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ) là ở chỗ: trong quá trình vận
động, NNL chịu tác động của yếu tố tự nhiên (sinh, chết) và yếu tố xã hội (việc
làm, thất nghiệp ). Chính vì vậy, NNL là một khái niệm khá phức tạp, được
nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau. Nguồn nhân lực còn được hiểu như là
8
nơi sinh sản, nuôi dưỡng và cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Cách hiểu này muốn chỉ rõ nguồn gốc tạo ra nguồn lực con người, nghiêng về sự
biến động tự nhiên của dân số và ảnh hưởng của nó tới sự biến động NNL.
Nguồn nhân lực còn được hiểu như một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình
phát triển kinh tế xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá
trình lao động. Cách hiểu này cụ thể hơn và có thể lượng hóa được, đó là năng
lực lao động của xã hội, bao gồm những người có khả năng lao động, tức là bộ
phận chủ yếu và quan trọng nhất trong NNL.
Do khi nghiên cứu NNL xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nên
có những khái niệm khác nhau về NNL, nhưng nhìn chung các khái niệm đó đều
thống nhất về nội dung cơ bản là: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã
hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển
kinh tế - xã hội nói chung.
quyết định, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đang thực hiện đẩy
mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước, KH - CN đang có bước phát triển mạnh
mẽ thì nguồn nhân lược chất lượng cao lại càng khẳng định vai trò quyết định
trong sự thành công của quá trình này.
Như vậy, khi nói tới nguồn nhân lực trước hết phải hiểu đó là toàn bộ
những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển
kinh tế - xã hội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các quá
trình phát triển kinh tế xã hội, con người đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi
phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn. Cho nên NNL
còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và
phong cách làm việc - đó chính là các yếu tố thuộc về chất lượng nguồn nhân lực
[28]. Ngoài ra khi nói tới nguồn nhân lực phải nói tới cơ cấu lao động, bao gồm
cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề. Khi nói nguồn nhân lực cần nhấn mạnh sự
phát triển trí tuệ, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của con người, bởi vì trí
lực là yếu tố ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển NNL.
1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Phát triển NNL của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ chính là sự biến
đổi về số lượng và chất lượng NNL cả mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và
10
tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu NNL. Nói một
cách khái quát nhất, phát triển NNL chính là qúa trình tạo lập và sử dụng năng lực
toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi
con người.
Theo cách hiểu truyền thống, đánh giá sự giàu có của một quốc gia, một
dân tộc thường được hiểu đồng nghĩa với sự phong phú giàu có của các nguồn
tài lực, hoặc đánh giá thông qua khối lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Ngày nay, với những thành tựu vượt bậc của khoa học công nghệ, thì thước đo
cho sự giàu có của mỗi quốc gia không chỉ đơn giản đo bằng khối lượng tài
nguyên thiên nhiên; trong thực tế một nước có thể nghèo về của cải tự nhiên
điểm, Ấn Độ đạt 5,76 điểm, Malaysia là 5,59 điểm, Thái Lan là 4,94 điểm
Cũng theo các đánh giá của các chuyên gia nước ngoài chất lượng NNL
Việt Nam tuy đã có những bước tiến trong những năm gần đây tuy vậy vẫn còn
thấp trong so sánh với một số nước khu vực và quốc tê.
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều mục tiêu
cụ thể về phát triển NNL cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm
2015 và tầm nhìn 2020. Những mục tiêu này đã phản ánh toàn diện và khái quát
các nội dung của phát triển NNL nước ta đến 2015: về trạng thái thể lực nâng
cao tầm vóc trung bình, tuổi thọ của nhân dân, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ
em, giảm tỷ lệ mắc bệnh và nâng cao chăm sóc sức khỏe cộng đồng; về năng lực
trí tuệ nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn - kỹ thuật; về phẩm chất
đạo đức cần phát huy bản sắc dân tộc tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân
loại. Để thấy rõ những tiêu chí đánh giá NNL chất lượng cao cho phát triển kinh
tế - xã hội cần phân tích cụ thể các tiêu chí sau:
Một là: Tiêu chí về trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực
Trạng thái sức khỏe của NNL bao hàm cả về thể chất và tinh thần. Trong
hiến chương của tổ chức y tế thế giới đã nêu: "Sức khỏe là một trạng thái hoàn
toàn thỏa mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải là không có bệnh
hay thương tật”. Sức khỏe thể chất là sự cường tráng, năng lực lao động chân
tay, còn sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận
động của trí tuệ, khả năng biến tư duy thành hành động thực tiễn, khả năng đối
12
phó với những biến động của môi trường xã hội. Trong đó năng lực thể chất
chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Nếu con người có thể lực tốt thì mới phát huy
được lợi thế của sức mạnh trí tuệ trong phát triển kinh tế - xã hội và ngược lai.
Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện để
truyền tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật
chất phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, sức khỏe là yếu tố quan trọng của NNL,
165,9
155,1
161,5
151,9
Cân nặng (kg)
Nam
Nữ
48,7
45,9
62,2
50,4
54,0
46,0
52,7
48,8
48,2
45,8
Nguồn: Viện Nghiên cứu conngười, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 2004
Đồng thời với việc nâng cao tầm vóc là không ngừng cải thiện thể trạng
và đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa chiều cao và trọng lượng cơ thể, tăng
cường trạng thái sức khỏe chung, đặc biệt là sự phát triển hài hòa về tố chất thể
13
bao gồm các tiêu chí về: Tỷ lệ người biết chữ trong tổng dân số từ 15 tuổi trở lên
hoạt động kinh tế; tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế có trình độ
văn hóa tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; số năm đi học trung bình
của dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế; tỷ lệ dân số đi học các cấp: Tiểu
học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học,
trung học cơ sở, trung học phổ thông.
Ba là: Tiêu chí về trình độ chuyên môn - kỹ thuật của người lao động.
Chất lượng của nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở thể lực, trình độ học
vấn, mà quan trọng hơn là trình độ CMKT, đó là sự hiểu biết, kiến thức và năng
lực thực hành về một nghề nghiệp nhất định. NNL có trình độ CMKT bao gồm
những người lao động đã có bằng chứng chỉ hành nghề, những lao động đã qua
đào tạo từ hệ trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, trên đại học ở các hình
thức đào taọ khác nhau được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như: Tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo so với lực lượng lao động đang làm việc là % số lao động đã qua
đào tạo từ sơ cấp, công nhân kỹ thuật đến sau đại học so với lực lượng lao động
đang làm việc. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khái quát trình độ CMKT của
nguồn nhân lực; trình độ CMKT được thể hiện thông qua tỷ lệ lao động được
14
đào tạo theo cấp bậc so với tổng số lao động đang làm việc của cả nước, từng
vùng, từng ngành. Chỉ tiêu này đánh giá một cách cụ thể nhất về trình độ CMKT
của nguồn nhân lực; cơ cấu các loại lao động đã qua đào tạo theo trình độ
CMKT và cấp bậc đào tạo thể hiện cơ cấu số lao động có trình độ ĐH, CĐ/số lao
động có trình độ trung học truyên nghiệp/số lao động là công nhân kỹ thuật. Chỉ
tiêu này cho thấy cơ cấu đào tạo có cân đối với nhu cầu nhân lực của nền kinh tế
hay không, trên cơ sở đó có kế hoạch điều chỉnh nhu cầu đào tạo cho phù hợp.
Các nghiên cứu của các nhà khoa học gần đây cho thấy rằng, cơ cấu trên thể hiện
ở Việt Nam còn bất hợp lý “thừa thầy, thiếu thợ”.
Ngoài ra, trí lực của NNL còn biểu hiện ở kỹ năng, kỹ xảo của người lao
động, chúng phụ thuộc trước hết vào khả năng của mỗi người, sự yêu thích nghề
0,725
105/177 nước
2009
0,733
116/182 nước
15
Nguồn: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng;
Nxb. CTQG, Hà Nội 2010.
Năm là: Tiêu chí thông qua trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học.
Trong nền kinh tế tri thức, ngày nay người ta xem xét năng lực phẩm chất
của NNL còn được thể hiện thông qua trình độ ngoại ngữ và tin học. Trình độ
ngoại ngữ và tin học được thể hiện cơ cấu lao động biết ngoại ngữ, tin học qua
chứng chỉ trình độ A hoặc không có chứng chỉ nhưng trình độ kiến thức và thực
hành tương đương trình độ A. Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới
cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ và xu hướng chuyển
sang nền kinh tế tri thức đang diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, thì trình độ
ngoại ngữ và tin học là công cụ quan trọng để nâng cao năng xuất lao động của
nguồn nhân lực.
1.2. Vai trò của nguồn nhân lực chất lƣợng cao đối với phát triển kinh
tế - xã hội và các nhân tố ảnh hƣởng
1.2.1. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với phát triển kinh
tế - xã hội
Một là: Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định sự thành
công của quá trình đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình tất yếu mà trong sự phát
triển của mỗi quốc gia, dân tộc đều phải trải qua. Quá trình CNH, HĐH sẽ thúc
đẩy sự phát triển, sự thay đổi về nhiều mặt. Chẳng hạn, nó làm thay đổi cơ cấu từ
một cơ cấu lạc hậu sang một cơ cấu tiến bộ hơn; cơ cấu các khu vực lớn trong
kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế kỹ thuật, cơ cấu trong nội bộ mỗi ngành, cơ cấu
Hai là: Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để tăng trưởng nhanh,
rút ngắn khoảng cách và tránh tụt hậu.
Trong bối cảnh hiện nay, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát
triển mạnh mẽ, lao động trí óc thay thế cho lao động phổ thông đã trở thành yêu
cầu khách quan, là xu thế phổ biến của thế giới. Để tạo lợi thế so sánh trong hội
nhập kinh tế thế giới thì nguồn lực truyền thống không còn là yếu tố quyết định,
mà thay vào đó là khoa học công nghệ và nguồn nhân lực. Xem xét sự tương tác
giữa các nguồn lực thì NNL lại có vai trò quyết định vì các nguồn lực khác như
tài nguyên thiên nhiên, vốn, đất đai, vị trí địa lý chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng.
17
Chúng chỉ phát huy khi có sự kết hợp với nguồn lực con người, bởi con người là
chủ thể của quá trình hoạt động sản xuất và có tư duy, trí tuệ biết kết hợp các
nguồn lực có hiệu quả nhất.
Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt
Nam đang đứng trước thách thức rất lớn về NNL chất lượng cao. Tỷ lệ nguồn
nhân lực chất lượng cao còn thấp so với nhu cầu của thực tế. Đến năm 2010, lao
động qua đào tạo có tăng, song đến nay mới chỉ đạt 24,8% chỉ tăng 2,2% so với
năm trước.
Việt Nam là nước đang phát triển, trong khi dư thừa một lượng lớn lao
động phổ thông, thì lại thiếu hụt số lượng không nhỏ lao động có trình độ cao,
nhất là lao động cung cấp cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và cho xuất khẩu
lao động. Đây là tình trạng đáng báo động, không phù hợp với quy luật tăng
trưởng là tỷ lệ tăng trưởng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bao giờ cũng
phải cao hơn tốc độ tăng GDP để đảm bảo tăng GDP một cách vững chắc.
Với mục tiêu phát triển NNL đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có cơ cấu công nghiệp, và dịch vụ trong
GDP chiếm khoảng 85-90%, nông nghiệp chỉ còn 10-15% thì nhu cầu đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao theo dự báo như sau:
Bảng 1.4: Dự báo nhu cầu đào tạo
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật từ giữa thế kỷ XX đến nay là kết quả
của sự phát triển trí tuệ con người. Những tiến bộ khoa học - kỹ thuật do trí tuệ
con người tạo ra đang làm thay đổi nền sản xuất xã hội. Trí tuệ trở thành yếu tố
khởi động cho guồng máy sản xuất hoạt động theo dạng thức mới. Đó là nền sản
xuất tự động với sự tăng lên nhanh chóng hàm lượng lao động trí tuệ, sử dụng
các thiết bị máy móc hiện đại, vận hành đơn giản , nhưng hiệu suất lại tăng lên
gấp bội, tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm hao phí và hạn chế ô nhiễm môi trường.
Thực tế, quá trình CNH ở các quốc gia trên thế giới cho thấy trong tiến trình
CNH, nếu nước nào biết dựa vào việc khai thác và sử dụng năng lực của nguồn
nhân lực, thì luôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định như Canađa,
Singgapo, Mexique Ngược lại các nước như khối Ả Rập, một số nước Châu
Phi đều có nguồn tài nguyên dầu lớn, nhưng chưa có quốc gia nào ở đó vượt lên
để gia nhập nhóm “các nước phát triển” mà mãi vẫn dừng lại ở các nước đang
phát triển” hoặc “kém phát triển”.
Như vậy, có thể khẳng định nhân tố đóng vai trò quyết định cho sự phát
triển bền vững của các quốc gia chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, chứ
không chỉ là nguồn của cải vật chất, những nguồn lực truyền thống như trước
đây. Vì vậy, hình thành và phát triển NNL có chất lượng cao là yếu tố quan trọng
nhất không chỉ trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mà còn tạo
cơ sở phát triển nền kinh tế tri thức.
1.2.2. Nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế
- xã hội
19
Thứ nhất: Việt Nam bước vào thời kỳ chiến lược với mục tiêu như Đại
hội lần thứ XI đã xác định: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ
cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ
rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; ” [17,
tr.103].