Mở Đầu
LUẬN VĂN:
Nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát
triển kinh tế - xó hội ở Thành phô
Đà Nẵng 1. Tính cấp thiết của đề tài
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định: Con người luôn ở vị trí trung
tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, lấy việc phát huy nguồn lực con
người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Tri thức con người là một
nguồn lực không bao giờ cạn và luôn được tái sinh với chất lượng ngày càng cao hơn bất cứ
một nguồn lực nào khác. Lịch sử phát triển nhân loại đã kiểm nghiệm và đi đến kết luận:
Nguồn lực con người là lâu bền nhất, chủ yếu nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội và sự
nghiệp tiến bộ của nhân loại.
Sự phát triển của nền kinh tế thế giới đang bước sang trang mới với những thành tựu
có tính chất đột phá trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt trên
lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, trong đó nhân tố đóng vai trò quyết định sự biến đổi
tài, ham học hỏi, thông minh sáng tạo, được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hóa, được đào tạo
thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp, về năng lực sản xuất kinh doanh, về điều hành vĩ mô
nền kinh tế và toàn xã hội, có trình độ khoa học - kỹ thuật cao. Đó phải là nguồn nhân lực
của một nền văn hóa công nghiệp hiện đại. Hơn nữa, trong xu hướng phát triển nền kinh tế
tri thức và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, nguồn nhân lực có chất lượng cao được coi là
điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu và tăng trưởng nhanh.
Nhìn chung nguồn nhân lực của Thành phố Đà Nẵng hiện nay chưa đáp ứng được
yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH, chưa thực sự là động lực để phát triển kinh tế - xã hội
của Thành phố. Vì vậy, Uỷ ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng đã ban hành Quyết định
số117/QĐ-UB ngày 07 tháng 7 năm 2004 về chương trình "Phát triển giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng nhu
cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Cho nên việc nghiên cứu lý luận và phân
tích thực trạng nguồn nhân lực để có những giải pháp nhằm tạo ra một sự chuyển biến về
chất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH
của Thành phố Đà Nẵng trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài " Nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát
triển kinh tế - xó hội ở Thành phố Đà Nẵng " để làm luận văn thạc sĩ Kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
ở Thành phố Đà Nẵng cũng như trong cả nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa
học, các hội thảo khoa học, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của các nhà khoa học về đề tài này ở
nhiều góc độ, phạm vi rộng, hẹp khác nhau như:
- "Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH", "Về phát triển toàn
diện con người thời kỳ CNH, HĐH" của GS.TS Phạm Minh Hạc; - "Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH, những thách thức lớn đối
với Việt Nam" của Trần Văn Tùng;
- "Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam" của Tiến sỹ Đoàn
Khải;
- "Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH" của Tiến sỹ Vũ Bá Thể;
- Nghiên cứu lý luận về NNL chất lượng cao tạo cơ sở khoa học cho phân tích thực
trạng phát triển NNL này ở Thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất các giải pháp để đào tạo và phát triển NNL chất lượng cao nhằm đáp ứng phát
triển kinh tế-xã hội của Thành phố Đà Nẵng đến năm 2010.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ những vấn đề lý luận về NNL, chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực.
- Luận giải một cách khoa học nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực cho quá
trình CNH, HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế trí thức ở Việt Nam.
- Khảo sát, nghiên cứu thực trạng chất lượng NNL ở Thành phố Đà Nẵng, làm rõ
những điểm mạnh, điểm yếu của chất lượng nguồn nhân lực đó, đưa ra những giải pháp khả
thi nhằm khắc phục những hạn chế về mặt chất lượng NNL, đề xuất một số phương hướng,
giải pháp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở
Thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận NNL, chất lượng NNL nói chung và
Thành phố Đà Nẵng nói riêng. Chủ yếu tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng số lượng,
chất lượng NNL, yêu cầu nâng cao chất lượng NNL để từ đó tìm ra các phương hướng và
giải pháp cơ bản để phát triển NNL chất lượng cao, thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội ở
Thành phố Đà Nẵng.
4.2. Giới hạn nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề nguồn nhân lực trong phạm vi Thành phố Đà
Nẵng giai đoạn 2001-2005. Chỉ nghiên cứu mặt chất lượng NNL (đặc biệt nhấn mạnh mặt
trí lực của NNL) trên giác độ Giáo dục và Đào tạo để có các giải pháp cơ bản phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2006-2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tiếp cận những lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, sử
dụng các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị làm cơ sở, kết hợp sử dụng các
Chương 1
CƠ Sở Lý LUậN Và THựC TIễN Về NGUồN NHÂN LựC,
NGUồN NHÂN LựC CHấT LƯợNG CAO CHO PHáT TRIểN
KINH Tế - Xã HộI
1.1. Nguồn nhân lực chất lượng cao và các tiêu thức xác định
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực (Human resource-HR)
Trong những thời kỳ mà nền kinh tế tự nhiên còn phổ biến, thì sự phát triển của các
nền kinh tế quốc gia trên thế giới chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động
thủ công, do đó nước nào giàu tài nguyên hoặc có nhiều lao động, thì nước đó có lợi thế
trong phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại. Trong thời đại bùng nổ của cách mạng KH -
CN, tình hình đã thay đổi: nước giàu tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào chưa
hẳn đã có lợi thế trong phát triển hơn các nước nghèo tài nguyên hoặc khan hiếm lao động
giản đơn. Trên thực tế, chẳng hạn, Singapo, với dân số chỉ có trên 3 triệu người, tài nguyên
không có gì đặc biệt, đã nổi lên như một nền kinh tế có mức độ cạnh tranh cao nhất thế giới
(qua nhiều cuộc bình chọn trong những năm gần đây). Để có được kết quả như vậy, trong
một hướng đi của họ là đào tạo một nguồn nhân lực tốt. Ngay từ cuối năm 1998, Uỷ ban
cạnh tranh của họ (CSC) đã công bố chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong một thập kỷ
với mục tiêu là “trí thức hóa” lực lượng lao động. Nhật Bản, Hồng Kông, Singapo, Hàn
Quốc…là những nước nghèo về tài nguyên, nhưng họ lại là những nước đạt tốc độ phát
triển kinh tế cao liên tục trong nhiều thập kỷ, nên chỉ trong một thời gian ngắn đã biến đất
nước họ trở thành các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Yếu tố đóng vai trò quyết định cho
sự thành công trong phát triển kinh tế của các quốc gia đó chính là nguồn nhân lực có chất
lượng cao. ở các nước phát triển cao người ta đã tính toán được rằng trong giá trị của những
sản phẩm cao cấp thì hàm luợng chất xám chiếm 70%, năng lượng 10%, nguyên liệu 10%,
thao tác vật chất chỉ chiếm 5,6%. Trong thời đại ngày nay, những quan niệm về vai trò, vị
trí của nguồn nhân lực trong phát triển liên tục thay đổi. Nếu như trước đây, người ta nhìn
nhận vai trò của nguồn nhân lực chỉ đơn thuần là phương tiện, là một nguồn lực cho phát
triển giống như mọi nguồn lực vật chất khác, thì ngày nay, sự nhận thức trên hoàn toàn
khác. Con người, nguồn nhân lực không chỉ là động lực chủ yếu mà còn là mục tiêu của sự
thể lượng hóa được, đó là năng lực lao động của xã hội, bao gồm những người có khả năng
lao động, tức là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong NNL.
Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng
đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội. ở
đây, con người được xem xét từ góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội.
Theo Thuyết lao động xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng,
NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự
phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (trừ những người
bị dị tật bẩm sinh). Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực
cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có tham gia vào
nền sản xuất xã hội tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể
các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, thì NNL chính là nguồn lực chủ yếu tạo động
lực cho sự phát triển. Vì vậy việc cung ứng đầy đủ và kịp thời NNL theo yêu cầu của nền
kinh tế là yếu tố đóng vai trò quyết định đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội. Do đó,
bất cứ hiện tượng thiếu hoặc thừa sức lao động đều gây ra những khó khăn cho sản xuất xã hội
và ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đây là đối tượng của môn Kinh tế phát
triển.
Theo thuyết về vốn con người (Human resource), thì yếu tố con người được coi là
yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, là phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội.
NNL được coi như mọi nguồn lực khác (như vốn, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, đất
đai…), cho nên cần phải đầu tư cho con người. Trên thực tế việc đầu tư cho con người có tỷ
lệ thu hồi vốn khá cao và mang lại nguồn lợi lớn hơn so với đầu tư vật chất.
Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực,
trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,…mà mỗi cá nhân sở hữu. Như vậy, ở đây nguồn lực con người
được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền, công nghệ, tài
nguyên thiên nhiên,… Do đó đầu tư cho con người là đầu tư quan trọng nhất trong các loại
Mỹ La tinh, Caribê 17,9 12,8 12,3 26,2 16,8 19,7
OECD 10,2 8,7 12,4 12,3
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Việt Nam-Nghiên cứu tài chính cho giáo dục-1996,
tr.80.
Liên hiệp quốc cũng có cách tiếp cận tương tự và cho rằng: Nguồn nhân lực là tất cả
những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ
tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [55, tr.8]. Quan niệm này xem xét nguồn
lực con người chủ yếu ở phương diện chất lượng con người và vai trò, sức mạnh của nó đối
với sự phát triển xã hội. Chính vì vậy, Liên hiệp quốc đã kêu gọi các quốc gia quan tâm hơn
nữa tới nguồn nhân lực, vì:…đầu tư vào vốn con người trước hết có tỷ lệ thu hồi vốn cao
hơn so với đầu tư cho các nguồn lực khác…tiết kiệm được việc sử dụng và khai thác các
nguồn lực khác, lợi ích thu được từ đầu tư này có tính lan tỏa đồng đều hơn so với đầu tư
vào các nguồn lực khác. Do vậy, việc tập trung phát triển con người sẽ đem lại tốc độ phát
triển cao hơn, ổn định hơn và công bằng hơn trong phân phối lợi ích của sự phát triển [55,
tr.9].
Theo UNDP, thì nguồn nhân lực là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của
con người được huy động vào quá trình sản xuất, nguồn năng lực-nội lực đó của con người
cũng chính là nội lực xã hội của một quốc gia. Đối với những nước đang phát triển như Việt
Nam, với dân số đông, NNL dồi dào đang trở thành một trong những nguồn nội lực quan
trọng nhất và nếu biết khai thác nguồn nội lực đó một cách hiệu quả sẽ tạo ra một động lực
to lớn cho phát triển kinh tế-xã hội. ở Việt Nam, theo ý kiến của các nhà khoa học tham gia chương trình khoa - công
nghệ cấp Nhà nước, mã số KX - 07 thì: Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự
phát triển kinh tế - xã hội” do giáo sư, tiến sỹ khoa học Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, cho
rằng nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất
và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất [19, tr.328] còn trong dịp gặp gỡ các
nhà doanh nghiệp, các nhà khoa học - công nghệ các tỉnh, Thành phố phía Bắc khi đề cập
đến vấn đề tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các nhà khoa học - công nghệ
tiêu đã được chọn. Cho nên NNL nó còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ
năng lao động, thái độ và phong cách làm việc- đó chính là các yếu tố thuộc về chất lượng
nguồn nhân lực. Ngoài ra khi nói tới nguồn nhân lực phải nói tới cơ cấu của lao động, bao
gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề. Khi nói nguồn nhân lực cần nhấn mạnh sự phát
triển trí tuệ, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của con người, bởi vì trí lực là yếu tố
ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển NNL. Ngoài ra khi nói đến NNL cũng cần phải
nói tới kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, đạo đức và nhân cách của con người.
Do đó, NNL tiếp cận dưới giác độ phổ quát của Kinh tế Chính trị được hiểu là: Tổng
hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia,
trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch
sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại
và tương lai của đất nước.
1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Cho đến nay, xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn còn nhiều cách
hiểu khác nhau, khi nói về phát triển NNL(Human Resource Development - HDR). Nhưng
chung quy lại, phát triển NNL của một quốc gia (một vùng lãnh thổ) chính là sự biến đổi về
số lượng và chất lượng NNL trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng
với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu NNL. Nói một cách khái quát nhất, phát
triển NNL chính là qúa trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh
tế xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người [53, tr.194].
Trước đây, sự giàu có, sức mạnh của một quốc gia, một dân tộc thường được hiểu
đồng nghĩa với sự phong phú giàu có của các nguồn tài lực, hoặc đánh giá thông qua khối
lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Còn ngày nay, nhờ những thành tựu to lớn của
khoa học công nghệ, sự giàu có của mỗi nước không chỉ đơn giản đo bằng khối lượng tài
nguyên thiên nhiên; trong thực tiễn một nước có thể nghèo về của cải tự nhiên song vẫn có
thể trở thành một nước giàu mạnh, nếu ở đó có được chiến lược phát triển đúng cùng với
NNL có chất lượng cao và biết khai thác hợp lý nó. Vậy thế nào là nguồn nhân lực chất lượng cao? Trước hết, nhân lực chất lượng cao là
- Sự thành thạo của lao động trình độ công nghệ cao: Việt Nam được 2,50 điểm,
đứng thứ 11/12 nước và vùng lãnh thổ, tương đương với Inđônêxia (cao nhất là Singapo
7,83 điểm).
- Mức độ sẵn sàng về cán bộ quản ly kinh tế chất lượng cao: VN được 2,5 điểm,
đứng thứ 10/12 nước và vùng lãnh thổ (cao nhất là Hàn Quốc đạt 7,50 điểm). Theo đánh giá
chung, các nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh
tranh trên thị trường toàn cầu (Việt Nam đạt 32 điểm) [56].
1.1.3. Các tiêu thức xác định nguồn nhân lực chất lượng cao
Nhiều mục tiêu cụ thể về phát triển NNL cho 10 năm đầu của thế kỷ XXI đã được đề
ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001-2010. Những mục tiêu này phản
ánh khá toàn diện các nội dung cơ bản nhất của phát triển NNL Việt Nam đến năm 2010: về
thể lực (nâng cao tầm vóc trung bình của thanh niên, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em,
giảm tỷ lệ mắc bệnh,…) về trí lực (bao gồm trình độ học vấn, trình độ chuyên môn- kỹ
thuật…), và về giữ gìn, phát huy những bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam để đóng góp vào
sự nghiệp phát triển chung của đất nước, và đó được xem là các tiêu chí của NNL chất
lượng cao ở Việt Nam. Để thấy rõ, cần phân tích từng tiêu thức cụ thể sau:
1.1.3.1. Năng lực về thể chất (thể lực) của nguồn nhân lực
Nói đến thể lực là nói đến tình trạng sức khỏe của NNL, sức khỏe là sự phát triển hài
hòa của con người về cả thể chất lẫn tinh thần. Đó là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần.
Trong hiến chương của tổ chức y tế thế giới đã nêu: "Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn
thỏa mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là không có bệnh hay thương tật”.
Quan niệm về chất lượng NNL mà đề tài phân tích là năng lực tinh thần và năng lực thể chất
của NNL, tức là nói tới sức mạnh và tính hiệu quả của những khả năng đó, trong đó năng
lực thể chất chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Nếu con người có thể lực tốt thì mới phát huy
được lợi thế của sức mạnh trí tuệ trong phát triển kinh tế xã hội và ngược lai. Sức khỏe là
điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức vào
hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất phát triển kinh tế-xã hội. Do
đó, sức khỏe là yếu tố quan trọng của NNL, nó trở thành một chỉ tiêu quan trọng trong việc
của WHO
Tuổi
Chiều cao (mét) Cân nặng (kg)
Việt Nam
2001
Tiêu chuẩn
WHO
Việt Nam
2001
Tiêu chuẩn
WHO
Nam 10 1,328 1,322 27,38 31,3
15 1,607 1,698 46,66 56,7
Nữ
10 1,339 1,383 27,23 32,5
15 1,527 1,618 42,76 53,7
Nguồn: Viện Khoa học Thể dục thể thao
Đồng thời với việc nâng cao tầm vóc là không ngừng cải thiện thể trạng đồng thời
đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa chiều cao và trọng lượng cơ thể, tăng cường trạng thái
sức khỏe chung, đặc biệt là sự phát triển hài hòa về tố chất thể lực cần thiết (sức bền, sức
mạnh, sức nhanh, mềm dẻo, khéo léo…) cho người lao động, học tập, sáng tạo và các hoạt
động bình thường khác của mỗi người.
Biểu 1.3: Các mục tiêu cụ thể cần đạt được vào năm 2010
2000 2005 2010 2020
Tuổi thọ 67,8 70 71 75
Tỷ lệ chết ở trẻ em dưới 5 tuổi (0/00) 42 37 32 20
Chiều cao của thanh niên (m) - - 1.6 1.65
học cơ sở, trung học phổ thông) là số % dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế có trình
độ văn hóa tốt nghiệp tiểu học (trung học cơ sở, trung học phổ thông) so với dân số từ 15
tuổi trở lên hoạt động kinh tế.
Chỉ tiêu này đánh giá một cách đầy đủ trình độ văn hóa của nguồn nhân lực.
Thứ ba: Số năm đi học trung bình của dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế
Số năm di học trung bình của dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế là số năm
trung bình một người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế dành cho học tập.
Đây là một trong những chỉ tiêu được liên hiệp quốc sử dụng để đánh giá chất lượng
NNL của các quốc gia.
Thứ tư: Tỷ lệ dân số đi học chung các cấp: Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông
Tỷ lệ dân số đi học chung các cấp: (Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông)
là số % trẻ em đi học cấp tiểu học (trung học cơ sở, trung học phổ thông) đủ độ tuổi của các
em này có thuộc độ tuổi cấp tiểu học (trung học cơ sở, trung học phổ thông) hay không
trong tổng dân số ở độ tuổi cấp tiểu học từ 6-10 tuổi, cấp trung học cơ sở từ 11 - 14 tuổi; cấp
trung học phổ thông từ 15-17 tuổi). Chỉ tiêu này dùng để đánh giá trình độ phát triển giáo dục ảnh hưởng đến chất lượng
nguồn nhân lực của các quốc gia.
Thứ năm: Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông
Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông là số %
trẻ em trong độ tuổi cấp tiểu học từ 6-10 tuổi; cấp trung học cơ sở từ 11-14 tuổi, cấp trung
học phổ thông từ 15-17 tuổi đi học cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trong
tổng số em trong độ tuổi cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả của hệ thống giáo dục, từ đó ảnh hưởng đến
chất lượng nguồn nhân lực.
Biểu 1.4: Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ học vấn
Đơn vị tính: %
kỹ thuật của nguồn nhân lực. Ví dụ: Năm 2005, ở Việt nam tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt
24,8%, tăng thêm 2,2% so với năm 2004.
Biểu 1.5: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động tại Việt Nam
Đơn vị tính: %
1991 1996 1999 2002 2004 2005
Tổng số lao động(triệu
người)
30,97 35,87 37,78 40,69 50,3 44,38
Lao động không có
chuyên môn (%)
93,4 87,69 86,13 80,38 77,5 75,2
Lao động có chuyên
môn kỹ thuật (%)
6,6 12,31 13,87 19,62 22,5 24,8
Nguồn: Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam, Bộ lao động-Thương binh-Xã
hội
Thứ hai: trình độ chuyên môn kỹ thuật được thể hiện thông qua tỷ lệ lao động được
đào tạo theo cấp bậc so với tổng số lao động đang làm việc của cả nước, từng vùng, từng
ngành. Chỉ tiêu này đánh giá một cách cụ thể nhất về trình độ CMKT của nguồn nhân lực.
Ví dụ: ở Việt Nam, năm 2005, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 24,8%, tăng thêm 2,2% so với
năm 2004. trong đó tỷ lệ qua đào tạo nghề nói chung là 15,2% (tăng 1,8%), tỷ lệ tốt nghiệp
trung học chuyên nghiệp là 4,3% (giảm gần 0,1%), tỷ lệ tốt nghiêp CĐ, ĐH và trên ĐH là
5,3% (tăng 0,4%). Vùng có tỷ lệ lao động qua đào tạo cao nhất là đông Nam bộ(37,4%) và đồng bằng sông Hồng (34,4%), thấp nhất là tây Bắc (13,5%). Vùng kinh tế trọng điểm, có tỷ
lệ qua đào tạo cao nhất là Bắc Bộ với 36,4%, tiếp đến là phía Nam 36,1%, thấp nhất là miền
Trung 31%. Theo tiến sỹ Lê Duy Đồng- Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh- Xã hội đánh
giá, lực lượng lao động qua đào tạo mặc dù không ngừng tăng lên, bình quân giai đoạn 2001-
nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương cho thấy 79% trong số 77% tổng số chủ doanh
nghiệp đã tốt nghiệp đại học chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về quản lý kinh tế). Đây cũng chính
là tiềm năng có thể khai thác theo hướng sử dụng tốt lực lượng lao động có trình độ cao để tăng
tỷ trọng lao động có kỹ năng và cải thiện cơ cấu lao động có trình độ cao góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế [47].
Trình độ CNKT của NNL còn được thể hiện ở khía cạnh khai thác và sử dụng lực
lượng này qua tỷ lệ lao động được đào tạo có việc làm và bị thất nghiệp so với tổng số lao
động được đào tạo. Các thông số đó cho thấy hiệu quả của việc khai thác và sử dụng NNL
đã qua đào tạo.
Ngoài ra, trí lực của nguồn nhân lực còn biểu hiện ở kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
của người lao động, chúng phụ thuộc trước hết vào khả năng của mỗi người, sự say mê nghề
nghiệp, ý thức rèn luyện kỹ năng. Mặt này thể hiện qua thông số năng lực hoạt động chuyên
môn của người lao động.
- Năng lực sáng tạo:
Tiếp tục phát triển và nâng cao trí lực và năng lực hoạt động thể hiện bằng trình độ
học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tầm hiểu biết, phổ kiến thức, kỹ năng quản lý, tính
năng động, năng lực thích nghi và sáng tạo của nguồn nhân lực.Trong thời đại ngày nay,
việc trang bị những kiến thức học vấn phổ thông và kỹ năng nghề nghiệp là chưa đủ, cần
phải tạo lập cho mối con người Việt Nam có tư duy năng động, sáng tạo, dám mạo hiểm,
sẵn sàng thích ứng và thích ứng cao trong một thế giới đầy biến động và cạnh tranh khốc
liệt nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực. Cho nên trí lực còn được biểu hiện ở
óc sáng tạo, tính linh hoạt, nhanh nhẹn, sắc bén trong phát hiện thông tin mới và khả năng
thích ứng nhanh để học tập, áp dụng, làm chủ các phương tiện khoa học, kỹ thuật và công
nghệ hiện đại cũng như năng lực hoạch định các giải pháp kinh tế và thực hiện phát triển
kinh tế. Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực trí tuệ trong quá trình CNH, HĐH
rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức hiện nay.
1.1.3.3. Chỉ số phát triển nhân lực HDI (Human Development Index)
Nếu quan niệm NNL là tổng thể năng lực lao động trong nền kinh tế của một quốc
gia, tức là lực lượng lao động của đất nước đó, thì khi xét chất lượng NNL, tức là bộ phận
trực tiếp hoạt động và sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội không thể tách rời những điều
3
Biểu 1.6: HDI của Việt Nam
Năm Chỉ số HDI Thứ bậc so với các Chỉ số nước tham gia xếp
hạng
giáo dục
1990 0,608 74/130
1995 0,539 120/174 0,78
2000 0,671 108/174 0,83
2004 0,691 112/177 nước 0,82
2005 0,704 108/177 nước 0,82
Nguồn: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện đại hội X của Đảng; Nxb CTQG,
Hà Nội 2006, trang 17.
Nước ta là một trong mười nước có chỉ số xếp hạng về HDI cao hơn xếp hạng GDP/
người trên 20 bậc, điều này chứng tỏ nước ta đã cố gắng tăng trưởng kinh tế với phát triển
xã hội, quan tâm đến các yếu tố sức khỏe, y tế, giáo dục…(tuổi thọ trung bình của người
Việt Nam hiện nay là 68,5, 90% dân số được tiếp cận các dịch vụ xã hội). Một trong những
yếu tố làm cho HDI của Việt Nam còn ở mức thấp là do chỉ số GDP bình quân đầu người
còn quá thấp. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng kinh tế để sớm đưa VN ra khỏi vị trí nước kém
phát triển là mục tiêu hàng đầu. Như vậy trên thực tế, tồn tại những quốc gia có trình độ
phát triển kinh tế- xã hội ở mức cao, nhưng chỉ số này không được cao, trong khi đó nước
có trình độ phát triển thấp, nhưng chỉ số HDI lại ở mức tương đối như Việt Nam. Do đó, chỉ
số HDI tuy không phản ánh trực tiếp chất lượng nguồn nhân lực, song nó cho biết khá rõ
môi trường xã hội ở đó nuôi dưỡng và phát triển NNL chất lượng cao.
1.1.3.4. Kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, phẩm chất đạo đức, thái
độ và phong cách làm việc của người lao động
Tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, nhiều nhà
nghiên cứu lý luận nước ta cho rằng, khi nói tới NNL thì ngoài thể lực và trí lực của con
NNL và phát triển NNL.
Đối với Việt Nam, bước vào giai đoạn CNH, HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức
trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế-xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất
lượng NNL, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước và phát triển bền vững. Bởi vì: Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu
vào nền kinh tế thế giới, riêng về kinh tế, mục tiêu này ngày càng mở rộng được thị trường,
bán được nhiều hàng hóa dịch vụ. Muốn thế, phải có sức mạnh trong cạnh tranh, tức là chất
lượng và giá cả. Chất lượng và giá cả hàng hóa lại phụ thuộc vào hai yếu tố chủ chốt: đó là
trình độ công nghệ của sản xuất và trình độ chuyên môn, kỹ thuật của nguồn nhân lực. Hơn
nữa, quá trình hội nhập kinh tế thế giới là quá trình giao lưu, trao đổi giữa Việt Nam và các nước trên thế giới về hàng hóa dịch vụ, tiền tệ, công nghệ mới, NNL… theo hai chiều ra và
vào. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài và công nghệ mới vào Việt Nam kéo theo công việc làm,
các nghề mới, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý…Những diễn biến này tác động trực tiếp
vào NNL và phát triển NNL chất lượng cao của Việt Nam.
Do vậy, phát triển NNL ở Việt Nam đặc biệt quan trọng cho sự thành công của CNH,
HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Cho nên, cần tạo ra và cải thiện tất cả các điều kiện cần
thiết để phát triển NNL nhanh, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu cấp bách của công cuộc đổi
mới, của CNH,HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế.
Hai là: Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu
và tăng trưởng nhanh
Trong quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang
đứng trước thách thức rất lớn về NNL chất lượng cao. Tỷ lệ nguồn nhân lực chất lượng cao
cón thấp so với nhu cầu của thực tế. Đến năm 2005, lao động qua đào tạo có tăng, song đến
nay mới chỉ đạt 24,8% chỉ tăng 2,2% so với năm trước (chưa đạt mục tiêu do đại hội IX của
Đảng đề ra là 30%).
Trong khi dư thừa rất lớn lao động phổ thông, thì lại thiếu hụt nghiêm trọng lao động
có trình độ cao, nhất là lao động cung cấp cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và cho
xuất khẩu lao động. Đây là tình trạng đáng báo động, không phù hợp với quy luật tăng