Phát triển kinh tế tập thể ở Bắc Giang - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ THẾ CƯƠNG

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ Ở BẮC GIANG
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN MINH KHẢI

HÀ NỘI - 2009

2.2. Tình hình phát triển kinh tế tập thể ở Bắc Giang từ năm 1997 đến 2007 50 iii
2.2.1. Trong lĩnh vực nông nghiệp 51
2.2.2 Trong lĩnh vực công nghiệp 63
2.2.3 Trong lĩnh vực dịch vụ 71
2.3. Những thành tựu và hạn chế của phát triển kinh tế tập thể ở Bắc Giang 80
2.3.1. Những thành tựu đạt đƣợc 80
2.3.2. Những hạn chế, yếu kém tồn tại 86
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 89
Chƣơng 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TẬP THỂ Ở BẮC GIANG 94
3.1. Quan điểm đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể ở Bắc
Giang 94
3.1.1. Củng cố kinh tế hợp tác, hợp tác xã, tiếp tục phát triển rộng rãi và đa
dạng hóa các loại hình hợp tác, hợp tác xã 94
3.1.2. Phát triển hợp tác xã phải dựa trên nền tảng kinh tế, phát huy vai trò
tự chủ, tiềm năng to lớn, vị trí quan trọng, lâu dài của kinh tế hộ 95
3.1.3. Phát triển hợp tác xã phải gắn chặt với mục tiêu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, nhất là công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 97
3.1.4. Hoạt động của hợp tác xã phải theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý
của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa 98
3.1.5. Phát triển mô hình HTX theo hƣớng kinh doanh tổng hợp kết hợp với
chuyên môn hóa theo ngành, vùng địa phƣơng 100
3.1.6. Phát triển kinh tế tập thể gắn với đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi
dƣỡng đội ngũ cán bộ, xã viên, ngƣời lao động coi đây là khâu đột phá
trong điều kiện thực tế ở Bắc Giang. 101
3.2. Một số giải pháp cơ bản phát triển kinh tế tập thể ở Bắc Giang trong giai

Chủ nghĩa tƣ bản
CNXH
:
Chủ nghĩa Xã hội
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
CTCP
:
Công ty cổ phần
CTTNHH
:
Công ty trách nhiệm hữu hạn
DN
:
Doanh nghiệp
DNNN
:
Doanh nghiệp Nhà nƣớc
DNTN
:
Doanh nghiệp tƣ nhân
DNV&N
:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
HT
:
Hợp tác
HTX
:

Tƣ liệu sản xuất
UBND
:
Uỷ ban nhân dân
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa 1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Đảng ta xác định: “Phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã là vấn đề hết
sức quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, làm cho kinh tế tập
thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó, hợp tác xã là nòng
cốt; kinh tế nhà nƣớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc của nền kinh tế quốc dân” [19, tr.12].
Xét về mặt lý luận và thực tiễn, kinh tế tập thể là sản phẩm tất yếu của
nền sản xuất hàng hoá, sản xuất hàng hoá càng phát triển, sự cạnh tranh trong
kinh tế thị trƣờng càng gay gắt thì những ngƣời lao động riêng lẻ, các hộ cá thể,
các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng có yêu cầu phải liên kết, hợp tác với nhau,
nếu không khó có thể tồn tại và phát triển. Phát triển kinh tế tập thể là con
đƣờng để giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất nhỏ, manh mún với sản xuất hàng
hoá lớn, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá. Chính vì vậy kinh tế
tập thể đã phát triển từ rất lâu trong lòng các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa và ngày nay
tại các nƣớc phát triển, kinh tế tập thể đã phát triển rất rộng rãi.
Kinh tế tập thể không chỉ là hình thức tổ chức kinh tế mang tính chất xã
hội hoá mà còn là nhân tố quan trọng để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh, giáo dục ý thức phát triển cộng đồng; là hình thức tổ chức kinh tế

chỉ góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển mà còn đảm bảo định hƣớng xã
hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Nếu thoả mãn với những thành tựu của kinh tế hộ hoặc không thấy hết
những khó khăn mới, những mâu thuẫn mới, những hạn chế của kinh tế tập thể
trong bƣớc đƣờng đi lên, không kịp thời tạo điều kiện và giúp đỡ kinh tế tập thể
phát triển, sẽ không đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập khinh tế quốc tế thì kinh tế tập
thể sẽ không đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn, lực lƣợng sản xuất sẽ bị cản
trở, quan hệ sản xuất mới, tiến bộ sẽ không đƣợc củng cố. 3
Với lý do đó: “Phát triển kinh tế tập thể ở Bắc Giang” đƣợc lựa chọn làm
đề tài cao học của mình.
2.Tình hình nghiên cứu
Tiếp tục củng cố, đổi mới và phát triển kinh tế tập thể là vấn đề mang
tính chiến lƣợc, lâu dài luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm. Sự
quân tâm đó thể hiện thông qua nhiều chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách, pháp
luật và sự đầu tƣ nhiều mặt cho khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã.
Luật HTX năm 2003, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Chỉ
thị số 20 / CT – TW của Ban Bí thƣ TW Đảng tiếp tục khẳng định kinh tế tập
thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng
cốt trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Các công trình khoa học đƣợc công bố dƣới nhiều dạng khác nhau: Sách
chuyên khảo, đề tài nghiên cứu, bài viết trên các báo tạp chí, một số luận án có
liên quan đến đề tài, điển hình nhƣ: “Kinh tế hợp tác, hợp tác xã ở Việt Nam,
thực trạng và định hƣớng phát triển” của PGS.TS Nguyễn Văn Bích, TS Chu
Tiến Quang, GS.TS Lƣu Văn Sùng; hay “ Sở hữu tập thể và kinh tế tập thể
trong kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam” của TS. Chủ Văn
Lâm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006; Giáo sƣ, Tiến sĩ Đỗ Thế Tùng

nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể ở Bắc Giang.
Một là: Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế tập thể
trong kinh tế thị trƣờng và đặc trƣng của kinh tế tập thể trong kinh tế thị trƣờng.
Hai là: Khảo sát thực trạng của kinh tế tập thể ở Bắc Giang, chủ yếu từ
khi có luật HTX
Ba là: Đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển kinh tế tập thể ở Bắc
Giang.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Kinh tế tập thể là một thành phần kinh tế và là vấn đề rộng gồm nhiều
hình thức khác nhau nhƣ kinh tế hợp tác, HTX, doanh nghiệp và các quỹ chung
của đoàn thể. Song Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu tình hình phát triển
kinh tế HTX – hình thức đóng vai trò nòng cốt của KTTT ở Bắc Giang sau 10 5
năm tái lập tỉnh (1997-2007).
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tỉnh Bắc Giang
- Về thời gian: Giai đoạn 1997-2007 (Sau 10 năm tái lập tỉnh Bắc Giang).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế
chính trị, đặc biệt là phƣơng kết hợp logic với lịch sử, tổng hợp, phƣơng pháp
thống kê, gắn lý luận với thực tiễn và phƣơng pháp trừu tƣợng hoá khoa học.
6. Đóng góp mới của luận văn
Góp phần làm sáng tỏ hơn nữa vị trí, vai trò và hiệu quả hoạt động của
kinh tế tập thể trong kinh tế thị trƣờng ở Bắc giang trong những năm vừa qua;
góp phần nâng cao nhận thức về kinh tế tập thể trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế hiện nay.
Phân tích tƣơng đối toàn diện, cơ bản thực trạng, thành tựu, hạn chế,

Hợp tác là sự kết hợp sức lực của các cá nhân hoặc đơn vị để tạo nên sức
mạnh lớn hơn, nhằm thực hiện những công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt
động riêng rẽ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện đƣợc, hoặc thực
hiện kém hiệu quả so với hợp tác.
Hợp tác là hình thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh tế
của con ngƣời. Hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động nói chung,
của lao động sản xuất và hoạt động kinh tế nói riêng của con ngƣời. Do vậy, sự
phát triển của hợp tác gắn liền và bị quy định bởi tiến trình nâng cao trình độ xã
hội hóa sản xuất và hoạt động kinh tế. Trong lao động sản xuất, hợp tác có tác
dụng làm tăng năng suất lao động. Sự phát triển các hình thức và tính chất thích
hợp của hợp tác có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế.
Hợp tác lao động đƣợc thực hiện từ khi loài ngƣời xuất hiện và ngày càng
phát triển. Cùng với tiến trình phát triển xã hội, phân công lao động xã hội và
chuyên môn hóa sản xuất ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Do đó,
nhu cầu về hợp tác lao động ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt
chẽ và mở rộng. Nó không bị giới hạn trong phạm vi từng đơn vị, từng ngành, 7
từng địa phƣơng, trong một nƣớc, mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế.
Hợp tác có nhiều hình thức với đặc điểm, tính chất, trình độ khác nhau:
hợp tác ngẫu nhiên, nhất thời; hợp tác thƣờng xuyên, ổn định; hợp tác lao động
nhƣ Mác đã phân tích về ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tƣ bản trong
công nghiệp; hợp tác giữa các đơn vị, các ngành
Kinh tế hợp tác là phạm trù hẹp của hợp tác, phản ánh một phạm vi hợp
tác, hợp tác trong lĩnh vực kinh tế.
Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế, hợp tác tự nguyện, phối
hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của
từng thành viên với ƣu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những
vấn đề của sản xuất - kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả

Liên minh HTX Quốc tế (International Covperative Allianve – ICA) đƣợc
thành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Vƣơng quốc Anh, đã định nghĩa
HTX nhƣ sau: “Hợp tác xã là một tổ chức tự trị của những ngƣời tự nguyện liên
hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội
và văn hóa qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ”. Năm 1995, định
nghĩa này đƣợc hoàn thiện: “Hợp tác xã dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự
chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Theo truyền thống của
những ngƣời sáng lập ra hợp tác xã, các xã viên hợp tác xã tin tƣởng vào ý
nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm
sóc ngƣời khác” [1, tr .36].
Đại hội đồng Liên Minh hợp tác xã Quốc tế lần thứ 31 tổ chức tại
Manchester (nƣớc Anh) từ ngày 19 đến ngày 23 tháng 9 năm 1995 đã định
nghĩa về hợp tác xã: “Hợp tác xã là một hiệp hội tự chủ do các cá nhân tự
nguyện liên kết với nhau nhằm thoả mãn những nhu cầu và nguyện vọng chung
về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một tổ chức kinh tế cùng làm chủ chung
và kiểm tra dân chủ” [1, tr.12].
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong bản khuyến nghị phát triển hợp tác
xã đƣợc thông qua tại kỳ hợp thứ 90 diễn ra vào tháng 6 năm 2002 tại Geneve,
Thuỵ Sỹ đã định nghĩa: HTX là sự liên kết của những ngƣời đang gặp phải 9
những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình
đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX
phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng
sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh
trong tổ chức hợp tác, phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung
Tổng kết thực tiễn đổi mới, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VIII (1996) đã đề ra nhiệm vụ phải xây dựng HTX – HTX cổ phần. Tháng 3-1996,
tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa IX đã ban hành Luật HTX để tạo cơ sở pháp lý

trang trong sản xuất, kinh doanh đƣợc hình thành và phát triển ngày càng mạnh
mẽ, quyết liệt, để tồn tại, tiêu thụ đƣợc những sản phẩm làm ra và phát triển,
những ngƣời nghèo, ngƣời kém thế lực về kinh tế đã cùng nhau hợp tác lại,
giúp đỡ, tƣơng trợ lẫn nhau sản xuất, kinh doanh, tạo ra sản phẩm tốt hơn, giá rẻ
hơn và có sức mạnh hơn để chống đỡ sự áp bức, bóc lột của giai cấp tƣ sản và
cạnh tranh trên thị trƣờng.
Ví dụ năm 1726, 28 thợ dệt Anh đã rủ nhau thành lập hội làm vải cho tốt
và bán giá trung bình trong hàng xóm, đó là một trong những HTX đầu tiên trên
thế giới. Đến năm 1928 Chính phủ Anh ban hành Luật HTX. HTX ngày càng
khẳng định đƣợc vai trò của mình và phát triển ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Trải qua quá trình nghiên cứu, khảo nghiệm và tìm tòi, các nhà kinh điểm
của Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của HTX trong việc
xây dựng chế độ kinh tế mới.
HTX ra đời là sản phẩm tất yếu của lịch sử, nó có từ trƣớc khi chủ nghĩa
Mác ra đời. Lúc đầu, khi phê phán các nhà không tƣởng, Mác - Ăngghen chƣa
thấy vai trò to lớn của HTX đối với hình thái xã hội tƣơng lai. Nhƣng, từ giữa
thập kỷ 60 của thế kỷ XIX, các ông đã dần thấy đƣợc triển vọng của chế độ hợp
tác trong xã hội tƣơng lai sau khi nghiên cứu về Hợp tác xã công nhân sau Cách
mạng dân chủ tƣ sản ở châu Âu (1848-1849).
Trƣớc xu hƣớng phát triển nhanh và triệt để của cách mạng công nghiệp
ở nƣớc Anh, các nông trại gia đình vẫn tỏ rõ sức sống và hiệu quả của nó. Từ 11
đó, Mác thấy rằng tiên đoán của mình về sự thủ tiêu kinh tế tiểu nông khi đại
công nghiệp xâm nhập vào nông nghiệp là không phù hợp. Vì thế, khi viết Quyển
III bộ “Tƣ Bản”, Mác đã rút ra kết luận: hình thức lãi nhất không phải là nông
trại công nghiệp hoá mà là nông trại gia đình không dùng lao động làm thuê.
Mặc dù khẳng định vai trò to lớn của nông trại gia đình đối với “nghề
nông hợp lý” nhƣng Mác không tuyệt đối hoá tính chất bền vững của kinh tế

với công nghiệp.
Mặc dù vậy, lúc đầu, Lênin cho rằng nƣớc Nga có thể quá độ trực tiếp lên
chủ nghĩa cộng sản, Nhà nƣớc trực tiếp quản lý toàn bộ quá trình sản xuất và
phân phối. Ông chỉ thừa nhận loại Hợp tác xã tiêu thụ với tƣ cách là bộ máy
duy nhất có tính chất quần chúng để phân phối có kế hoạch mà thôi. Sau nội
chiến, với sự đổi mới trong tƣ duy, Lênin đã từ bỏ quan điểm quá độ trực tiếp,
thay chính sách “Cộng sản thời chiến” bằng “chính sách kinh tế mới”. Từ đây,
Lênin đã chỉ ra phép biện chứng của quá trình phát triển: phải phát triển kinh tế
tiểu nông đồng thời thu hút họ vào công cuộc xây dựng CNXH thông qua con
đƣờng hợp tác hoá tự nguyện vì lợi ích của ngƣời nông dân, thông qua lợi ích
của họ để gắn bó với lợi ích xã hội chứ không phải con đƣờng tập thể hoá
cƣỡng bức phi kinh tế.
Trong tác phẩm “Bàn về chế độ HTX” 1923, Lênin viết: HTX là bƣớc
quá độ sang chế độ mới bằng con đƣờng đơn giản nhất, dễ tiếp thu nhất đối với
nông dân. Ông cũng đƣa ra luận điểm: HTX phải lấy hộ kinh tế nông dân làm
cơ sở và phải phù hợp với xu thế khách quan.
Khi soạn thảo cƣơng lĩnh ruộng đất lần hai, Lênin đã phân tích rõ: chúng
ta chƣa có điều kiện để chuyển nền tiểu sản xuất lên CNXH và mấu chốt của
vấn đề là phải tìm ra những đƣờng lối, thể thức trung gian cần thiết. Kinh tế hợp
tác nói chung đều là những hình thức kinh tế quá độ. Nó vừa tuân theo quy luật
của thị trƣờng và mang những quan hệ tƣ bản đồng thời nó cũng không phải là
hình thức kinh tế tự phát bị chi phối bởi nguyên tắc tƣ bản chủ nghĩa mà là hình
thức kinh tế tự nguyện của nông dân đặt trong mối quan hệ kiểm soát, hƣớng 13
dẫn của nông nghiệp XHCN. Và chỉ những HTX do ngƣời nông dân điều hành
theo sáng kiến của họ và lợi ích của HTX ấy đƣợc kiểm nghiệm trên thực tế
mới có giá trị.
Lênin không chỉ lƣu tâm tìm kiếm con đƣờng đƣa nông dân và ngƣời sản

cung ứng tiêu thụ. Tách rời những việc sơ chế nông sản và xây dựng những
xƣởng, trạm chế biến ngay tại cơ sở sản xuất của hệ thống hợp tác xã theo vùng
lãnh thổ. Thông qua hệ thống này, thiết lập các mối quan hệ kinh tế giữa các hộ
nông dân với các xí nghiệp công nghiệp và các đơn vị kinh doanh thƣơng mại.
Mối liên hệ đó đƣa nông sản của ngƣời nông dân làm ra đến các thị trƣờng
trong nƣớc và quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, truyền bá, vận dụng sáng tạo lý luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin, ngay từ rất sớm, trong tác phẩm “Đƣờng cách mệnh”
viết năm 1927 sau khi phân tích những lợi ích của HTX, Ngƣời nhấn mạnh
“Tục ngữ An Nam có những câu: “Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó”
và “Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây nhóm lại thành hòn núi cao” [34,
tr.314]. Giải thích về bản chất HTX, Ngƣời nhấn mạnh hạt nhân, trung tâm của
HTX là xã viên: xã viên hợp tác với nhau để có lợi ích thiết thực và vẫn duy trì
tính độc lập của mình; xã viên là chủ đích thực của HTX, là mục tiêu mà Hợp
tác xã phải phục vụ, HTX là phƣơng tiên để phục vụ xã viên, phải đảm bảo đem
lại lợi ích cho xã viên.
Ngƣời xác định: “HTX là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức
mạnh thì khó nhọc ít mà ích lợi nhiều”, Ngƣời giải thích rõ sự khác nhau giữa
hội buôn và HTX ở chỗ: “Hội buôn thì lợi riêng, HTX thì lợi chung” và “HTX
tuy là để giúp đỡ lẫn nhau, nhƣng không giống các hội từ thiện vì các hội ấy chỉ
tiêu đi mà không làm ra HTX có tiêu đi, có làm ra, chỉ giúp những ngƣời
trong hội, nhƣng giúp một cách bình đẳng, một cách “cách mệnh” ai cũng giúp
và ai cũng bị giúp”. Xét theo thành phần kinh tế và tính chất xã hội, Ngƣời cho
rằng: “trong chế độ dân chủ mới các HTX nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ
tiến lên chủ nghĩa xã hội. HTX là thành phần thứ hai trong năm thành phần kinh
tế ở nƣớc ta” [ 34, tr.315].
Xét hình thức sở hữu tƣ liệu sản xuất, Ngƣời cho rằng: “HTX tức là sở 15

16
(4/1988), Nghị quyết TW 5 – Khoá IX của BCH TW Đảng về “Tiếp tục đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của kinh tế tập thể” (3/2002)
Từ những quan điểm của những nhà kinh điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin,
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quá trình đổi mới của Đảng, chúng ta có thể thấy sự tồn tại
và phát triển của kinh tế tập thể là tất yếu khách quan, phù hợp và cần thiết trong
nền KTTT định hƣớng XHCN ở nƣớc ta, điều này thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất: Kinh tế hợp tác, HTX là kết quả khách quan của phát triển
LLSX và phân công chuyên môn hoá.
Trong xã hội nguyên thuỷ, khi con ngƣời sống trong các bầy đàn thì hoạt
động lao động của họ đã bắt đầu dựa trên cơ sở hợp tác, dù là hợp tác giản đơn
(hợp tác chƣa có sự phân công, ở đây cùng một lúc nhiều ngƣời sẽ cùng làm
một công việc nhƣ nhau).
Phân công xuất hiện là một bƣớc tiến lớn trong đời sống xã hội loài
ngƣời với hình thức nguyên sơ nhất là phân công tự nhiên. Cuộc đại phân công
lao động xã hội lần thứ nhất đã tách nghề chăn nuôi ra khỏi nghề trồng trọt.
Việc tách nghề thủ công ra khỏi nghề nông là đặc trƣng của cuộc đại phân công
xã hội lần thứ hai, từ đó dẫn đến sự hợp tác giữa nghề nông, nghề chăn nuôi và
thủ công. Sự xuất hiện tầng lớp thƣơng nhân không trực tiếp sản xuất mà chỉ
kinh doanh, trao đổi sản phẩm là nội dung của cuộc đại phân công lao động xã
hội lần thứ ba.
Khi phân công xã hội xuất hiện, buộc con ngƣời phải hợp tác với nhau.
nếu không có sự hợp tác thì mọi sự phân công sẽ trở nên vô nghĩa. Phân công
và hợp tác là hai mặt có quan hệ biện chứng với nhau trong quá trình phát triển
LLSX. Phân công lao động càng sâu sắc thì quan hệ hợp tác càng chặt chẽ.
Chính quan hệ hợp tác tạo điều kiện để phát huy hiệu quả của phân công.
Phân công và hợp tác là đòi hỏi khách quan của cuộc sống kinh tế. Hợp
tác diễn ra ở các khâu, các công đoạn trong quá trình sản xuất và phát triển dẫn
đến các ngành dịch vụ có liên quan. Khi nền kinh tế còn ở trình độ phấp, sản

18
giang) là hình thức hợp tác xã lấy lợi ích chung của cộng đồng, làm sạch cảnh
quan, môi trƣờng sinh thái, thu gom rác thải sau đó phân loại, tái chế làm phân
hữu cơ vi sinh. Đây là lĩnh vực hoạt động lấy lợi ích của cộng đồng làm mục
tiêu hoạt động chính, mục đích lợi nhuận rất ít, hầu nhƣ không có. Song để làm
đƣợc việc đó thì từng hộ gia đình, cá nhân không thể thực hiện đƣợc mà cần
phải có sự góp sức từ các hộ gia đình, xã viên để hợp tác xã này có thể tồn tại
và phát triển.
Thực tế ở Bắc giang, nhất là khu vực nông thôn, với quá trình phát triển
kinh tế hàng hoá, nông dân ngày càng có nhu cầu phát triển các hình thức kinh
tế hợp tác từ thấp đến cao, từ các tổ hợp tác đến hợp tác xã làm dịch vụ đầu vào,
đầu ra phục vụ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình và trang trại, đặc biệt là
các sản phẩm nông nghiệp nhƣ: vải thiều, chế biến sắn, ngô, gỗ lâm sản… cung
ứng cho các doanh nghiệp, đồng thời nhận sự hỗ trợ, tiếp thu sự giúp đỡ của
doanh nghiệp về vốn và kỹ thuật; mặt khác tránh tình trạng không có các dịch
vụ đầu vào, đầu ra hoặc phải qua nhiều khâu trung gian, nảy sinh tình trạng con
buôn, ép giá, thị trƣờng không minh bạch, cạnh tranh bất bình đẳng… Do vậy
nhu cầu phát triển các hình thức kinh tế hợp tác đã thật sự phổ biến và ngày
càng bức thiết ở nhiều nơi.
Nếu không có kinh tế tập thể – các hộ sản xuất cá thể cứ tồn tại độc lập,
mạnh ai nấy làm, trong điều kiện nhƣ hiện nay ở Bắc Giang, đất đai không thể
tập trung, ngƣời nông dân vẫn sản xuất một cách tự phát, manh mún, nhỏ lẻ,
canh tác, sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống… nhƣ thế thì không thể
chuyên môn hoá, không thể tăng năng xuất, không thể có nền sản xuất hàng hoá
lớn. Mặt khác nếu không có kinh tế tập thể ngƣời nông dân sẽ thua thiệt, thƣa
thiệt về giá, về sức cạnh tranh, không phát huy đƣợc sức mạnh tập thể. Nếu có
kinh tế tập thể thì những vấn đề nêu trên đƣợc giải quyết sẽ thúc đẩy kinh tế hộ
phát triển, nhiều mô hình HTX ở một số địa phƣơng đã chứng minh điều đó.

quy mô về vốn, khoa học kỹ thuật, tƣ liệu sản xuất chƣa đủ để tổ chức theo 20
hƣớng sản xuất hàng hoá, sản xuất lớn. Nếu biết cách tổ các loại hình kinh tế
hợp tác, các chủ thể kinh tế biết tập hợp sức mạnh thì sẽ phát huy đƣợc thế
mạnh về vốn, có điều kiện đầu tƣ cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển lực lƣợng
sản xuất. Đây là cơ sở chuyển biến căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là
chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động với công nghệ, phƣơng tiện và
phƣơng pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Do vậy có
thể thấy sự phát triển của kinh tế tập thể thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, gắn liền với công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Củng cố và phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã với CNH, HĐH có quan
hệ mật thiết, biện chứng với nhau; phát triển kinh tế tập thể góp phần thức đẩy
CNH, HĐH đất nƣớc nói chung và Bắc Giang nói riêng, điều đó thể hiện:
Một là: Phát triển kinh tế tập thể từng bƣớc biến đổi căn bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý kinh tế, xã hội. Nếu sản
xuất cá thể mang tính riêng lẻ, manh mún, lạc hậu, tính cạnh tranh thấp, hiệu
quả kinh tế không cao thì phát triển kinh tế tập thể phát huy đƣợc thế mạnh nội
lực về vốn (đặc biệt vốn sản xuất kinh doanh, vốn nhàn rỗi trong dân, vốn
phòng ngừa rủi ro, tiết kiệm là rất lớn), phát huy đƣợc sức mạnh, trí tuệ tập
thể, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nƣớc sẽ từng bƣớc biến đổi các hoạt động
kinh tế sang sản xuất với quy mô lớn, từng bƣớc thay thế sản xuất kinh doanh
nhỏ lẻ, mạnh mún, kém hiệu quả.
Hai là: Phát triển kinh tế tập thể từng bƣớc cải biến lao động thủ công,
lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất
lao động xã hội cao. Trên cơ sở vốn đƣợc tập trung từ các nguồn lực, từ xã viên
đến các nguồn vốn bên ngoài có điều kiện để đầu tƣ công nghệ, phƣơng tiện sản
xuất, kinh doanh hiện đại, trên cơ sở đó mở rộng quy mô sản xuất, tăng cƣờng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status