1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIấN Lí LUẬN CHÍNH TRỊ
VŨ KIấN CƯỜNG
NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
1.1.1. Một số quan niệm khác nhau về kinh tế tri thức 3
1.1.2. Yêu cầu của kinh tế tri thức đối với phát triển nguồn nhân lực 12
1.2. Đặc điểm và nội dung phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri
thức 15
1.2.1. Đặc điểm của nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam . 16
1.2.2. Nội dung 17
1.3. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức của
một số nước 19
1.3.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc 19
1.3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc 23
1.3.3. Một số bài học rút ra cho Việt Nam 27
Chƣơng 2. Tình hình nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức ở
Việt Nam thời gian qua 29
2.1. Tình hình phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức ở Việt
Nam thời gian qua 29
2.1.1. Tình hình phát triển năng lực thể chất, phẩm chất văn hóa tinh thần
của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay 29
2.1.2. Thực trạng giáo dục và đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực
có trình độ ở Việt Nam thời gian qua 34
2.1.3. Tình hình phân bổ, sử dụng nguồn nhân lực có trình độ ở Việt Nam
thời gian qua 47 5
2.2. Nhận xét chung 51
2.2.1. Những thành tựu và nguyên nhân 51
2.2.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân 54
2.2.3. Những vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri
thức ở Việt Nam 57
Chƣơng 3. Phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực để
lượng chất xám cao không ngừng học hỏi, sáng tạo chính là chủ thể của tiềm
năng tri thức. Hiện nay, trên thế giới đang diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt giữa
các quốc gia để thu hút, chiếm hữu, khai thác nguồn lực trí tuệ. Trong cuộc tranh
đua đó, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam mặc dù có ít ưu thế hơn
so với các nước phát triển nhưng cũng có nhiều cơ hội vươn lên, rút ngắn sự
chênh lệch về khoảng cách phát triển với các nước nếu biết nắm bắt, khai thác
các thành tựu của khoa học công nghệ, của tri thức nhân loại để phát huy nội lực,
tăng cường sức mạnh quốc gia. Nhận thức rõ điều đó, Đại hội đại biểu toàn quốc
Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “…tranh thủ ngày càng nhiều hơn, ở
mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ,
từng bước phát triển kinh tế tri thức” [9].
Điều đó thực hiện được hay không phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng
nguồn chủ yếu vào chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. Nguồn nhân lực đó
phải có những phẩm chất như thế nào? Vai trò của nguồn nhân lực đó trong kinh
tế tri thức thể hiện ra sao? Để có thể tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức phải có
điều kiện, tiền đề then chốt nào? Chuẩn bị nguồn nhân lực để phát triển kinh tế 7
tri thức cần có những bước gì? những câu hỏi đó đang thật sự là những vấn đề
lý luận và thực tiễn quan trọng cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, thấu đáo nhất là
trong điều kiện nước ta đang thực hiện công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá
và từng bước phát triển kinh tế tri thức.
Với mong muốn góp phần nhỏ và làm rõ những vấn đề trên, tôi đã lựa
chọn đề tài: “Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam” làm đề
tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Kinh tế chính trị của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề phát triển nguồn nhân lực con người để phát triển kinh tế tri thức
là một vấn đề đang rất được quan tâm. Có một số công trình khoa học, cuốn
sách, bài viết xoay quanh đề tài này như:
ra những định hướng, giải pháp phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn hiện
nay là hết sức cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực trong kinh
tế tri thức và thực trạng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức hiện nay ở
Việt Nam, luận văn đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân
lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ
chủ yếu sau:
+ Thứ nhất, phân tích, hệ thống và góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý
luận về nguồn nhân lực, về kinh tế tri thức, nội dungvà những vấn đề đặt ra đối
với phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức. 9
+ Thứ hai, phân tích đánh giá đúng tình hình nguồn nhân lực hiện nay về
quy mô, chất lượng và tác động của nó đối với quá trình phát triển kinh tế tri
thức ở Việt Nam.
+ Thứ ba, xác định phương hướng, giải pháp chủ yếu phát triển nguồn
nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực trong vai trò để phát
triển kinh tế tri thức của Việt Nam trên phương diện Kinh tế chính trị.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên những lý luận phổ biến hiện nay về
nguồn nhân lực, về kinh tế tri thức gắn với những đặc điểm, tình hình hiện nay
của nguồn nhân lực Việt Nam, mối quan hệ giữa chúng và dựa trên những đòi
hỏi bức thiết của xu thế phát triển kinh tế tri thức.
11
Chƣơng 1
KINH TẾ TRI THỨC VÀ NHỮNG YấU CẦU
VỀ NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
1.1. Kinh tế tri thức và những yêu cầu của nó đối với nguồn nhân lực
1.1.1. Một số quan niệm khác nhau về kinh tế tri thức
Theo quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài người, lực lượng sản xuất
không ngừng phát triển đi lên. Các nền kinh tế lạc hậu, thấp kém trước đó được
thay bởi những nền kinh tế đi sau đạt trình độ phát triển cao hơn. Khởi đầu, kinh
tế tự nhiên, săn bắt hái lượm đã được thay bằng nền kinh tế nông nghiệp. Và đến
lượt kinh tế nông nghiệp cũng trở nên lạc hậu nhường chỗ cho nền kinh tế đại
công nghiệp với quy mô, năng suất vượt trội. Và có một số quan điểm cho rằng
sau kinh tế công nghiệp là xã hội hậu công nghiệp
Ngay từ năm 1973, D.Bell nhà xã hội học Mỹ đã đưa ra khái niệm “xã hội
xuất hiện cái gọi là kinh tế tri thức. Vì thế, đặt vấn đề nghiên cứu, tiếp cận là
chưa cần thiết.
Có quan điểm cho rằng: kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó tin học
và công nghệ thông tin phát triển sâu rộng. Quan điểm khác thì lý giải rằng: đó là
nền kinh tế mà công nghệ sinh học giữ vai trò chủ đạo. Hay có một quan điểm
khác giải thích: kinh tế tri thức là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở một nền
văn hoá tiên tiến và ở đó người dân hưởng thụ với trình độ cao. Trên đây chỉ là
những cách hiểu khác nhau về nền kinh tế tri thức, nó chưa chỉ ra được những
đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức. Những ý kiến phản biện như của tác
giả Lê Huy Thục cho rằng: trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay việc một
quốc gia sử dụng công nghệ sinh học, tin học hoá hay cả hai một cách sâu rộng
trong sản xuất nông nghiệp nhưng chỉ có thế thì chưa thể coi là đã có được kinh
tế tri thức. Còn có những nền kinh tế có tài nguyên phong phú, được thiên nhiên 13
ưu đãi, chỉ cần bán nguyên liệu thô cũng trở nên giàu có, khắp nơi người dân đều
có điều kiện sử dụng những hàm lượng tri thức, chất xám trong các sản phẩm thô
rất thấp nên nền kinh tế như vậy không được coi là kinh tế tri thức (hoặc là tiếp
cận được với kinh tế tri thức).
Các quan điểm trên chưa chính xác bởi đã đồng nhất nền kinh tế sử dụng
công nghệ cao với nền kinh tế tri thức; tri thức về khoa học công nghệ đã tách ra
khỏi tri thức rộng lớn của con người cũng như tách rời khoa học, công nghệ ra
khỏi môi trường kinh tế, văn hoá và xã hội nói chung.
Có một định nghĩa khác khái quát hơn của tác giả Nguyễn Ngọc Thành:
“kinh tế tri thức là hình thái phát triển cao nhất hiện nay của nền kinh tế hàng
hoá tư bản, trong đó, công thức hoạt động cơ bản:Tiền-hàng-tiền được thay thế
bằng công thức Tiền - tri thức - tiền” [22]. Định nghĩa này có điều mới là chỉ ra
được vai trò quan trọng của tri thức trong nền kinh tế mới song ở đây nó mới chỉ
đề cập đến tri thức trong môi trường kinh doanh với tri thức là một dạng hàng
mình trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, nguồn nhân lực được
rất nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu.
Nguồn nhân lực là một khái niệm phức tạp, trong quá trình vận động và
phát triển nó chịu sự tác động của những qui luật sinh tử tự nhiên và những qui
luật xã hội. Bởi vậy, khái niệm nguồn nhân lực được tiếp nhận dưới nhiều góc
độ.
Thứ nhất, theo thuyết lao động xã hội, gần gũi với đối tượng nghiên cứu
của kinh tế chính trị thì nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho nền
sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lực con người cho sự phát triển. Như vậy,
nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư của quốc gia. Hoặc nguồn nhân lực là
khả năng lao động của xã hội, bao gồm tất cả các cá nhân trong độ tuổi lao động
tham gia vào quá trình lao động được sử dụng trong quá trình lao động. 15
Thứ hai, theo cách tiếp cận của môn kinh tế học phát triển thì nguồn nhân
lực là nguồn lực tạo động lực cho sự phát triển. Nền kinh tế tăng trưởng phát
triển hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc cung ứng nguồn nhân lực theo yêu
cầu của nền kinh tế.
Thứ ba, theo thuyết về vốn con người thì nhân tố con người trong nguồn
nhân lực là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất, đứng trước các
nguồn lực vật chất khác. Bởi vậy, việc đầu tư cho nguồn nhân lực theo thuyết
này là rất quan trọng. Nhà kinh tế học người Mỹ đạt giải Nobel năm 1992, Gang
Baken cho rằng: không có một khoản đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu
tư vào nguồn nhân lực. Theo một nghiên cứu được Ngân hàng Thế giới (WB)
công bố thì khi đầu tư vào các ngành sản xuất vật chất tỷ lệ thu hồứi vốn chỉ đạt
13% tổng vốn đầu tư trong khi đầu tư cho giáo dục tiểu học, tỷ lệ thu hồi vốn đạt
24%, giáo dục trung học là 17%, giáo dục cao đẳng đại học là 14%. Tổng vốn đầu
tư cho kinh nghiệm phát triển của những quốc gia có tốc độ phát triển thần kỳ thời
gian qua cho thấy: chìa khoá cho sự thành công vượt bậc đó không phải là nguồn
cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và
dịch vụ, giảm dần tỉ trọng của ngành nông nghiệp.
Theo đó, tỉ lệ lao động làm việc trong những ngành này cũng phải có sự
thay đổi tương ứng. Tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm trong sự so sánh tương đối
với công nghiệp và dịch vụ thì số lượng lao động có thể giảm nhưng do sự tiến
bộ của khoa học công nghệ lượng giá trị của nông nghiệp tạo ra có thể còn lớn
hơn, sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao hơn, sức cạnh tranh tốt hơn. Muốn
được như vậy, đương nhiên lao động ngành nông nghiệp phải có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao hơn, nhiều trí tuệ hơn. Tương tự, lao động nhóm ngành công
nghiệp, dịch vụ cũng phải tăng lên về số lượng và chất lượng mới có thể đáp ứng
được yêu cầu của thị trường lao động và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 17
Đây chính là một trong những yêu cầu quan trọng đối với việc phát triển nguồn
nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức bởi nếu quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực
không tương thích về số lượng và chất lượng so với yêu cầu về nhân lực của nền
kinh tế sẽ dẫn tới những hậu quả lâu dài cho đất nước. Nguồn nhân lực có trình
độ được đào tạo không đủ, không đáp ứng được yêu cầu phát triển thì sẽ không
khai thác, sử dụng được hết các nguồn lực vật chất của xã hội, tiềm năng phát
triển không được giải phóng gây ra sự lãng phí, hạn chế sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Ngược lại, nếu như công tác dự báo nhu cầu nhân lực không chính
xác, đào tạo vượt quá nhu cầu về lao động sẽ gây lãng phí cho nguồn lực của xã
hội trong điều kiện nguồn nhân sách dành cho giáo dục đào tạo còn nhiều hạn
chế như hiện nay. Ngoài ra, nguồn nhân lực đã qua đào tạo mà không có việc
làm có thể dẫn tới một số tác động tiêu cực khác cho xã hội. Chính vì vậy, phát
triển nguồn nhân lực phải gắn liền với công tác dự báo chính xác , theo kịp với
yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1.1.2.2. Phát triển nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển của công
nghệ thông tin
khẩu hàng chục ngàn lao động và chuyên gia đi làm việc tại các quốc gia, hầu
hết có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam và họ nhận được mức lương cao hơn
so với cùng vị trí làm việc tại Việt Nam. Nguồn ngoại tệ gửi về nước hàng năm
lên tới hàng tỷ USD. Đội ngũ lao động này còn được tiếp cận với công nghệ, kỹ
thuật hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến để khi trở về nước họ trở thành những
lao động lành nghề đóng góp năng lực trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động
trong nước cũng như quốc tế đòi hỏi người lao động, nâng cao được sức cạnh
tranh của mình từ học vấn, trình độ chuyên môn, tác phong đến phẩm chất đạo
đức, lối sống công nghiệp mới có thể tìm được vị trí xứng đáng. Lao động Việt
Nam khi ra làm việc ở nước ngoài thường được đánh giá cao ở khả năng nhanh 19
nhẹn, dễ thích nghi, cần cù chịu khó nhưng còn thiếu tác phong công nghiệp,
tính kỷ luật và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ yếu. Đối với lao động trong nước thì
hiện nay được đánh giá là còn thiếu công nhân kỹ thuật lành nghề; Bộ phận đã
qua đào tạo thì lại chưa đáp ứng được yêu cầu làm việc thực tế. Còn với nhóm
nhân lực trí tuệ như các nhà quản lý cao cấp, kỹ sư công nghệ thông tin thì được
coi là thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Điều đó đã dẫn tới một thực tế có
nhiều chủ doanh nghiệp phải đưa nhân lực cao cấp từ nước ngoài vào Việt Nam
làm việc. Tình hình nêu trên đòi hỏi công tác phát triển nguồn nhân lực để tiếp
cận, phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam phải được đặt trong bối cảnh toàn cầu
hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng hiện nay.
1.2. Đặc điểm và nội dung phát triển nguồn nhân lực để phát triển
kinh tế tri thức
1.2.1 Đặc điểm của nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức ở Việt
Nam
Thứ nhất, nguồn nhân lực phải được đào tạo với trình độ chuyên môn nhất
định, có phẩm chất trí tuệ. Đây được coi là đặc điểm nổi bật nhất của nguồn nhân
Từ khi công nghệ thông tin phát triển bùng nổ, nhất là với sự phát triển
của Internet, đã làm cho không gian, thời gian không chỉ trong phạm vi quốc gia
mà trên phạm vi toàn cầu đã bị rút ngắn, thu hẹp khoảng cách. Các nhân tố tri
thức, công nghệ, vốn, lao động…không còn bị bó hẹp trong biên giới một quốc
gia làm cho hoạt động kinh tế mang tính toàn cầu. Sự chuyển dịch lao động quốc
tế cũng như công nghệ kỹ thuật hiện đại ngày càng mạnh mẽ dẫn tới sự cạnh
tranh quốc tế giữa những người lao động. Điều đó bắt buộc người lao động phải
học tập, trang bị kiến thức kỹ năng về chuyên môn, kỹ năng sử dụng ngoại ngữ
mới có thể đáp ứng được yêu câù trong tình hình hiện nay.
Thứ ba, đặc điểm quan trọng của nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri
thức là có tính sáng tạo cao. 21
Sáng tạo là một đặc điểm quan trọng và nổi bật của nguồn nhân lực hiện
đại. Sáng tạo là cơ sở để phát triển lực lượng sản xuất của xã hội đồng thời cũng
là động lực cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế để thông qua đó kinh tế phát
triển. Cho dù ở bất kỳ hình thái kinh tế nào thì sự sáng tạo của người lao động
đều có vị trí đặc biệt quan trọng. Đối với kinh tế tri thức thì sức sáng tạo của
nguồn nhân lực lại càng được coi trọng và sáng tạo có thể được coi như một tiêu
chí để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, đánh giá sự phát triển cuả kinh tế tri
thức.
Nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo mới có thể đưa ra các phương pháp,
cách thức mới để giải quyết một vấn đề cũ hay đưa ra một vấn đề mới, giải pháp
mới. Trong thực tế, năng lực sáng tạo của nguồn nhân lực có thể được thể hiện
qua các cải tiến, các giải pháp hữu ích hay phát minh ra sản phẩm mới, dịch vụ
hay công nghệ quản lý mới.
Trong kinh tế tri thức, KH-CN có tốc độ phát triển và thay thế rất cao, sản
phẩm có vòng đời ngắn, thậm chí công nghệ phát minh sáng chế cũng có vòng
đời ngắn. Phát triển nguồn nhân lực nếu như không có nguồn nhân lực sáng tạo
kỳ, mỗi nền kinh tế có những yêu cầu khác nhau về số lượng nguồn nhân lực.
Thời kỳ kinh tế phát triển bùng nổ thì số lượng lực lượng lao động mà nền kinh
tế đòi hỏi tăng cao và đi cùng với nó là chất lượng của nguồn nhân lực. Chất
lượng nguồn nhân lực thể hiện thông qua hiệu quả của quá trình lao động do
nguồn lao động thực hiện. Các hoạt động lao động của con người trong quá trình
lao động này được phân thành hai nhóm các hoạt động.
Thứ nhất, người lao động thực hiện những hoạt động đã được lặp đi lặp lại
nhiều lần như những kỹ năng đã được học tập để sản xuất ra các sản phẩm theo
khuôn mẫu tính sẵn.
Thứ hai, người lao động sáng tạo ra các kỹ thuật công nghệ sản xuất mới
(trước đó chưa có một khuôn mẫu tính sẵn nào). Những sản phẩm của quá trình 23
lao động này chứa đựng một hàm lượng giá trị rất cao bởi vì người lao động phải
huy động một năng lực thể chất, năng lực tinh thần, trí tuệ, đạt đến một mức độ
rất cao. Con người lao động phải có đủ trình độ để tìm kiếm, phát hiện thông tin
mới, tri thức mới; từ đó vật chất hoá nó biến nó thành các sản phẩm mới, công
nghệ mới.
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế tri thức yêu cầu:
(i) về số lượng phải cung ứng đủ số lượng nguồn nhân lực theo nhu cầu tăng
trưởng và phát triển nền kinh tế; (ii) về chất lượng cần phát triển năng lực thể
chất, tinh thần sáng tạo, khả năng tìm kiếm phát hiện và vật chất hoá thông tin
thành sản phẩm mới công nghệ mới. Trong số đó, phát triển nguồn nhân lực có
năng lực sáng tạo, năng lực đổi mới thể hiện ra kết quả lao động là những sản
phẩm công nghệ mới là nội dung quan trọng nhất của việc phát triển nguồn nhân
lực để tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức. 24
rất sớm chính sách này được thực hiện một cách có hệ thống. Các học sinh có
năng khiếu, có năng lực đặc biệt được tuyển chọn vào các lớp năng khiếu. Tốt
nghiệp phổ thông trung học, những sinh viên suất sắc được đưa ra nước ngoài
học tập, tiếp thu khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của những nước phát
triển. Chính nhờ vậy, số sinh viên du học nước ngoài của Hàn Quốc rất đông trên
thế giới chỉ xếp sau Trung Quốc. Lực lượng du học sinh có trình độ cao học đã
góp phần quan trọng nâng cao trình độ khoa học công nghệ Hàn Quốc. Ngay từ
những năm 80 Hàn Quốc đã hoàn thành giai đoạn mô phỏng tiếp thu công nghệ
tiên tiến của nước ngoài, chuyển sang giai đoạn sáng tạo công nghệ mới. Cùng
với đó, năng lực tư duy quản lý hiện đại của nước ngoài được áp dụng linh hoạt,
sáng tạo tại Hàn Quốc. Nhờ đó, nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng ổn
định 8% trong suốt thời gian 45 năm, cho tới cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Châu Á 1997-1999.
Ngân sách nhà nước của Hàn Quốc dành cho giáo dục không ngừng tăng
lên qua các năm. Năm 1960, ngân sách dành cho giáo dục đào tạo chiếm tỷ lệ 9-
10%; thập niên 80 là17%; đến thâp niên 90 đã tăng lên mức 27-29% ngân sách
(tương đương 3.5-3.7%GDP).
Giáo dục phổ thông ở Hàn Quốc chủ yếu do các trường công lập giảng
dạy, có khoảng 70% số học sinh theo học các trường này. Các học sinh ở nông
thôn Hàn Quốc được chính phủ miễn học phí. Chính vì thế, tỷ lệ học sinh theo
học phổ thông trung học ngay từ những năm 1985 đã đạt hơn 90%. (So sánh với
Hồng Kông có cùng trình độ phát triển nhưng tỷ lệ học sinh đi học Trung học
phổ thông chỉ đạt 69%). Bù lại lĩnh vực giáo dục phổ thông khu vực tư nhân ở
Hàn Quốc rất tích cực tham gia vào giáo dục đại học và dạy nghề, tỷ trọng của
khu vực này có lúc chiếm tới 70-90%. Tuy vậy, bên cạnh những tích cực do khu
vực tư nhân mang lại cho giáo dục và dạy nghề ở Hàn Quốc thì còn có những 26
hạn chế khác mang lại: do tư nhân thống lĩnh giáo dục đại học nên mức học phí