Phát triển làng nghề ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình (Trường hợp làng nghề đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân) - Pdf 25


MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ 15
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 15
1.1.1. Khái niệm về làng nghề và phát triển làng nghề 15
1.1.2. Vai trò của phát triển làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội 19
1.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 23
1.3. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG 28
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển làng nghề của huyện Nghĩa Hƣng, tỉnh
Nam Định 28
1.3.2. Kinh nghiệm của làng nghề Đá mỹ nghệ Non Nƣớc, quận Ngũ
Hành Sơn 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN
HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH: TRƯỜNG HỢP LÀNG NGHỀ ĐÁ MỸ
NGHỆ Ở XÃ NINH VÂN 39
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA LƢ 39
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 39
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 42
2.2. TỔNG QUAN THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở HUYỆN HOA
LƢ TỈNH NINH BÌNH 54

2.3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA LƢ, TỈNH NINH
BÌNH 58
2.3.1. Quá trình hình thành và phát triển các làng nghề huyện Hoa

3.2.5. Giải pháp về môi trƣờng 94
3.2.6. Phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các làng nghề 95
3.2.7. Đổi mới cơ chế, chính sách đối với phát triển làng nghề 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU STT
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
1
Bảng 2.1
Số liệu thống kê theo các đơn vị hành chính
thuộc huyện Hoa Lư năm 2009
36
2
Bảng 2.2
Cơ cấu kinh tế huyện Hoa Lư từ năm 1991 –
2010.

63
9
Bảng 2.9
Cơ cấu lao động xã Ninh Vân qua các năm 2005-
2010
65 MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế nông thôn có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội ở nước ta. Một trong những nội dung định hướng phát triển kinh
tế nông thôn ở Đại hội IX đề ra là: Mở mang các làng nghề, phát triển các
điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.

Phát triển ngành nghề nông thôn là cách làm “rẻ” nhất để tạo việc làm,
tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo cho người dân nông thôn, góp phần
thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại, với sản phẩm mũi nhọn là hàng
thủ công mỹ nghệ và cũng là thực hiện mục tiêu “ly nông bất ly hương” ở
nông thôn. Phát triển làng nghề con mang ý nghĩa giữ gìn và quảng bá bản
sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Như vậy, việc phát triển các làng nghề ở nông thôn có ý nghĩa kinh tế,
chính trị, xã hội rất lớn đối với kinh tế nông thôn.


chế tác đá khoảng 60 - 80 triệu đồng/ người/ năm. Doanh thu tại xã Ninh
Vân, nghề đá chiếm gần 80 % thu nhập toàn xã.

Cùng với sự đóng góp vô cùng to lớn của làng nghề Đá mỹ nghệ trên
tất cả các lĩnh vực là những khó khăn vướng mắc mang tính cấp bách mà
các làng nghề đang gặp phải như: Khu tập trung sơ chế đá chưa được hình
thành, phần lớn các làng nghề còn sản xuất với quy mô nhỏ lẻ. Các doanh
nghiệp luôn trong tình trạng “khát vốn”, bế tắc trong việc tìm đầu ra, hoạt
động mang tính tự phát chưa có kế hoạch phát triển cụ thể, cũng như chưa
có sự liên minh gắn kết tạo nên sức mạnh tổng hợp. Sự cạnh tranh còn thiếu

lành mạnh, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm chưa được quan tâm đúng mức…Bên cạnh đó là các vấn đề nhức nhối
ngay tại các làng nghề Đá mỹ nghệ như: ô nhiễm môi trường; tiếng ồn; bụi
bặm; vấn đề suy giảm đạo đức và trình độ học vấn…đã và đang ảnh hưởng
không nhỏ đến đời sống và phát triển kinh tế - xã hội của huyện Hoa Lư.

Bối cảnh đó đã lý giải: Vì sao phải phát triển làng nghề ở huyện Hoa
Lư, đặc biệt là làng nghề Đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân? Trên thực tế các cấp
lãnh đạo tỉnh Ninh Bình đã nhìn thấy rõ tính cấp thiết này và đã có các quan
điểm, chủ trương phát triển làng nghề Đá mỹ nghệ. Tuy nhiên, vấn đề là làm
gì và làm thế nào để phát triển mạnh mẽ hơn làng nghề Đá mỹ nghệ. Để tìm
câu trả lời cho các câu hỏi đó cần thiết phải nghiên cứu tìm ra các giải pháp
nhằm phát huy thế mạnh, khắc phục các tồn tại, hạn chế trên cơ sở đánh giá
đúng thực trạng, động thái và xu hướng vận động của làng nghề Đá mỹ
nghệ. Với yêu cầu cả về lý luận và thực tiễn, học viên chọn đề tài “Phát
triển làng nghề huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình: Trường hợp làng nghề Đá
mỹ nghệ ở xã Ninh Vân” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Các đề tài nghiên cứu ở cấp bộ đã đưa ra được các số liệu đa dạng,
phong phú và chỉ ra được các giải pháp chung cơ bản để phát triển làng nghề
trong quá trình CNH, HĐH.

Ngoài ra còn có một số công trình khoa học, sách báo, tạp chí và các
bài viết đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng về phát triển
làng nghề ở Việt Nam. Có thể đánh giá chung các công trình nghiên cứu
trên đều đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề trong quá trình CNH,
HĐH. Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp vấn đề phát triển
làng nghề ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình, trường hợp làng nghề Đá mỹ
nghệ ở xã Ninh Vân. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích

Trên sơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển làng
nghề. Mục đích của luận văn là đưa ra bức tranh tổng quan về sự phát triển
làng nghề ở huyện Hoa Lư, đặc biệt là đánh giá đúng thực trạng làng nghề
Đá mỹ nghệ của huyện Hoa Lư. Từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển làng nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời gian tới.

* Nhiệm vụ

Thực hiện mục đích trên, đề tài cần tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau:


Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận chung. Ngoài ra
còn chú trọng đến các phương pháp như:

- Phương pháp phân tích tổng hợp:

Phương pháp này được thực hiện thông qua việc phân tích dữ liệu thực
tế. Từ đó đánh giá chính xác nhất những thành tựu và hạn chế trong quá
trình phát triển của làng nghề Đá mỹ nghệ. Tìm ra nguyên nhân chủ yếu của
những thành tựu và hạn chế đó, đồng thời đề xuất những quan điểm giải
pháp nhằm phát triển mạnh mẽ làng nghề Đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân trong
thời gian tới.

- Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu:

Trong quá trình làm luận văn, học viên sẽ thu thập tài liệu từ nhiều
nguồn khác nhau, sau đó so sánh, xử lý các số liệu rồi rút ra kết luận. ví dụ:
Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp, hộ gia đình chế tác Đá mỹ nghệ trong những
năm qua.

- Phương pháp điều tra thực tế: Học viên dùng hệ thống các câu hỏi theo nội dung xác định, có thể
dùng phiếu điều tra hoặc phỏng vấn chuyên sâu để thu thập thông tin phục
vụ cho luận văn.

6. Những đóng góp của luận văn

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN
LÀNG NGHỀ
1.1.1. Khái niệm về làng nghề và phát triển làng nghề
* Làng nghề:

Đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề.
Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là một cộng đồng dân cư sinh sống
trong một làng (hoặc khu vực dân cư) có hoạt động sản xuất kinh doanh tại
các hộ gia đình hoặc các cơ sở sản xuất trong làng, có sử dụng các nguyên
liệu trong và ngoài địa phương, phát triển đến mức trở thành nguồn sống
chính hoặc thu nhập chủ yếu của người dân trong làng.
Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng nghề cổ truyền làm thủ công,
nhưng không nhất thiết toàn bộ dân làng đều làm nghề thủ công. Người thợ
thủ công nhiều khi cũng làm nghề nông nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá
họ chuyển sang sản xuất hàng thủ công ngay tại làng.
Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, có quy tụ
các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời có
sự liên kết hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo kiểu phường hội và có
cùng tổ nghề.
Quan niệm thứ tư: Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành
nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so
với nghề nông.
Quan niệm thứ năm: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng
đều hoạt động cho một nghề thủ công và lấy đó làm nghề sinh sống chủ yếu.

Theo quy định hiện hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

+ Nghề truyền thống:
Nghề truyền thống là một phạm trù dùng để chỉ những nghề đã có một
quá trình lịch sử phát triển lâu đời, được tập trung sản xuất tại một vùng hay
một làng, các sản phẩm được làm ra đã nổi tiếng trong vùng, trong nước
biết đến và được nhiều lớp nghệ nhân, thợ thủ công đã được rèn rũa tay nghề
qua nhiều đời và thế hệ thực hiện.
Đặc trưng cơ bản nhất của nghề truyền thống là có kỹ thuật và công
nghệ truyền thống, có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Mỗi nghề
bao giờ cũng có ông tổ của nghề, được dân làng ghi công và thờ phụng từ
đời này sang đời khác.
Nghề truyền thống ở nước ta rất phong phú đa dạng, có những nghề đã
hình thành và tồn tại hàng trăm năm, nhiều sản phẩm đã từng nổi tiếng trong
nước và thế giới, ví dụ như: Nghề gốm sứ Bát Tràng (Hưng Yên), nghề dệt
tơ lụa Vạn Phúc (Hà Đông), nghề dệt chiếu cói Nga Sơn (Thanh Hoá)…
Những nghề truyền thống được truyền bá trong phạm vi từng làng. Trong
những làng có nghề truyền thống thì đa số người dân biết làm nghề đó,
ngoài ra, họ còn có thể phát triển những nghề khác nhưng những nghề này
chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nghề truyền thống.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, việc
sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công
nghệ mới với những vật liệu mới. Vì vậy, khái niệm nghề truyền thống cũng
được mở rộng hơn. Khái niệm này có thể được hiểu : Nghề truyền thống bao
gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được
truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay kể cả những nghề
đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản
xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và sản phẩm của nó vẫn
thể hiện những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc.

+ Làng nghề truyền thống
Từ khái niệm “làng nghề” và “nghề truyền thống” có thể khái quát


* Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nội dung và mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tạo ra một
cơ cấu kinh tế mới, hợp lý và hiệu quả trong nông nghiệp, nông thôn. Do đó
tất yếu phải chuyển nền kinh tế nông thôn với cơ cấu thuần nông, sản xuất
mang tính chất tự cấp, tự túc là chủ yếu sang nền kinh tế nông thôn công
nghiệp hoá với cơ cấu nông, công nghiệp, dịch vụ và sản xuất ra nhiều sản
phẩm hàng hoá.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là nhằm phát triển
kinh tế nông thôn lên một bước mới về chất làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ
cấu lao động, cơ cấu làm việc, cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập
của dân cư nông thôn bằng các nguồn lực từ trong lĩnh vực nông nghiệp và
phi nông nghiệp. Với mục tiêu như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn ngày càng được thúc đẩy và diễn ra ngay trong
nội bộ ngành nông nghiệp và các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế
nông thôn. Trong quá trình vận động và phát triển của mình, các làng nghề
đã tỏ rõ vai trò tích cực đối với sự chuyển dịch này. Nó thể hiện ở chỗ góp
phần tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp
tỷ trọng nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập
thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Trong thực tế
sự ra đời và phát triển của các làng nghề ngay từ đầu đã làm biến đổi cơ cấu
kinh tế nông thôn. Điều đó có nghĩa là ở nông thôn khi nghề thủ công xuất

hiện thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà
bên cạnh nó còn có các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng
tồn tại phát triển. Trên góc độ phân công lao động thì làng nghề có tác động
rất tích cực tới sản xuất nông nghiệp. Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất
cho nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp. Chẳng hạn, ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm phát triển

tình trạng thiếu việc làm là phổ biến. Với vai trò đặc biệt của mình, làng
nghề đã tạo ra được một khối lượng lớn công việc, thu hút nhiều lao động ở
nông thôn. Phát triển làng nghề có vai trò quan trọng trong giải quyết việc
làm cho người lao động không những cho riêng làng mình mà còn cho dân
cư của làng khác đến làm thuê.
Sự phát triển của làng nghề kéo theo sự phát triển của nhiều ngành
nghề khác tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, bởi vì khi phát triển
làng nghề đưa những nghề thủ công vào các vùng nông thôn nó sẽ lại tạo
điều kiện cho các ngành nghề khác phát triển hơn, ví dụ như ngành chế biến
lương thực thực phẩm tạo điều kiện cho ngành cơ khí chế tạo công cụ,
ngành chăn nuôi phát triển, ngành tái chế nguyên vật liệu đã tạo điều kiện
cho mạng lưới thu gom nguyên liệu, phế liệu phát triển và nó còn có tác
dụng làm sạch môi trường.
Do đặc điểm sản xuất của các làng nghề ở quy mô hộ là chủ yếu đồng
thời nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên có khả năng
tận dụng và thu hút nhiều loại lao động từ lao động thời vụ, nông nhàn đến
lao động trên dưới độ tuổi lao động vào quá trình sản xuất. Lực lượng lao
động này chiếm một tỷ lệ rất đáng kể trong tổng số lao động trong các làng
nghề.

* Thu hút vốn nhàn rỗi.
Quy mô các cơ sở kinh tế trong làng nghề chủ yếu là hộ gia đình và
đang hình thành một số doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đồng thời, hầu hết các cơ
sở sản xuất kinh doanh trong các làng nghề đều dành một phần diện tích nhà
ở của gia đình làm nơi sản xuất, kinh doanh, nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ
công nhỏ, thô sơ là những người thợ trong các làng nghề có thể tự sản xuất
hoặc chế tạo được. Cho nên, mức đầu tư cho một lao động và quy mô vốn
cho một cơ sở sản xuất - kinh doanh trong các làng nghề không nhiều. Vì
vậy, rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của
các hộ gia đình. Vốn đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là


Quá trình phát triển của làng nghề chịu tác động của nhiều nhân tố,
những nhân tố này có sự biến đổi trong từng thời kỳ và tác động theo những
mức độ khác nhau. Ở đây chúng ta có thể nêu lên những nhân tố tác động
đến sự phát triển làng nghề:
* Một là nguồn nguyên vật liệu:
Đây là một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất của các làng
nghề. Trước đây, nguồn vật liệu được coi là một trong những điều kiện tạo
nên sự hình thành và phát triển của các làng nghề truyền thống. Hiện nay,
nhờ sự hỗ trợ tích cực của các phương tiện giao thông vận tải và phương tiện
kỹ thuật vấn đề xa hay gần nguồn nguyên liệu trở nên không quan trọng đối
với sự phát triển của các làng nghề. Tuy nhiên, vấn đề khối lượng, chất
lượng chủng loại và khoảng cách từ cơ sở sản xuất tới nơi có nguồn nguyên
vật liệu vẫn có ảnh hưởng nhất định tới sản xuất và giá thành sản phẩm của
các đơn vị sản xuất kinh doanh. Cho đến nay, nguồn nguyên vật liệu cung

cấp cho một số làng nghề truyền thống vẫn phong phú đặc biệt là nguyên
liệu cho các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm. Nhưng đối với nhiều
làng nghề thì đây lại là một khó khăn gây cản trở tới sản xuất vì nguồn
nguyên liệu vật liệu đang bị cạn kiệt dẫn đến không đủ để đáp ứng cho sản
xuất. Chẳng hạn như nguyên liệu dùng để sản xuất chiếu cói ở Nga Sơn
Thanh Hoá, gỗ quý cho sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ…
* Hai là nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự
phát triển. Nguồn nhân lực của làng nghề bao gồm những nghệ nhân, những
người thợ thủ công và chủ cơ sở sản xuất kinh doanh. Những nghệ nhân có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy nghề, đồng thời họ là
những người sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm yếu tố văn hoá
dân tộc. Hiện nay, ở nhiều làng nghề truyền thống vẫn còn những nghệ nhân
tâm huyết với nghề, muốn giữ gìn và phát triển nghề. Bên cạnh đó, một lực

động sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ chủ yếu của nguồn vốn là đầu tư để
phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng, đầu tư
đổi mới công nghệ. Trong khi đó, với thực trạng phát triển nhỏ lẻ ở các làng
nghề hiện nay, nguồn vốn có để sản xuất kinh doanh chủ yếu là vốn tự có và
vốn vay của người thân nên kéo theo: Sản phẩm làm ra thường không có sức
cạnh tranh, bởi một phần vì công nghệ lạc hậu, mẫu mã kém phong phú còn
phần khác là không tận dụng được lợi thế về qui mô nên chi phí tăng cao bất
lợi trong cạnh tranh về giá. Để giải quyết được vấn đề này, làng nghề cần
thiết phải huy động được một lượng vốn lớn để thay đổi cả qui mô sản xuất
lẫn công nghệ, vừa nâng cao năng suất, chất lượng, tận dụng ưu thế về qui
mô, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, nâng cao năng lực

quản lý, lúc này khả năng tìm kiếm thị trường mới của làng nghề được nâng
cao, thị trường được đa dạng hoá, làng nghề có thể xác định được thị trường
mục tiêu cho mình. Vì vậy, sự phát triển của làng nghề phụ thuộc rất lớn vào
các nguồn vốn huy động được. Trước đây, vốn của các hộ sản xuất kinh
doanh đều rất nhỏ bé . Tuy nhiên, với năng lực của các làng nghề thì không
thể tự huy động được nguồn vốn lớn như vậy. Cho nên, để giải quyết khó
khăn này, các làng nghề cần có sự hỗ trợ tích cực và cụ thể từ phía Nhà nước.
* Năm là trình độ kỹ thuật và công nghệ:
Trình độ kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất
lượng và giá thành của sản phẩm, đến năng lực cạnh tranh của các sản phẩm
hàng hoá trên thị trường và cuối cùng là quyết định đến sự tồn tại phát triển
hay suy vong của một cơ sở sản xuất, một ngành nghề nào đó. Nhận thức
được điều đó, nhiều làng nghề đã đổi mới trang thiết bị, cải tiến áp dụng tiến
bộ khoa học và công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất để đa dạng hoá sản
phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng được nhu cầu tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho
các làng nghề. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp do đặc điểm kỹ thuật công
nghệ của một số làng nghề vẫn còn mang nặng tính chất thủ công, thô sơ lạc

trọng của kinh tế nông thôn, đề ra biện pháp, chính sách phát triển toàn diện
kinh tế xã hội nông thôn, trong đó có làng nghề. Một trong những chính
sách đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đổi mới có tác dụng phát huy sức
mạnh nội lực của làng nghề, đó là chính sách phát triển các thành phần kinh
tế. Với chính sách này, các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể trước
đây không được chấp nhận nay được khuyến khích phát triển. Chính sách
này có tác động thúc đẩy tất cả các thành phần kinh tế tồn tại trong làng

Trích đoạn Giải pháp về nguồn vốn cho phát triển làng nghề Đổi mới cơ chế, chính sách đối với phát triển làng nghề
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status