ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*** Tống Thùy Linh Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật
Bản (thời kỳ 1990 - 2007) Chuyên ngành : Kinh tế
Mã số : 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
xã hội của Việt Nam và Nhật Bản
• • •
1.2.1. Điêu kiện tự nhiên và kinh tê - xã hội của Việt Nam 17
1.2.2. Điêu kiện tự nhiên và kinh tê - xã hội của Nhật Bản 20
1.2.3. Nhận xét chung về lợi thế so sánh phát triển quan hệ 27 thương mại Việt
Nam - Nhật Bản
1.3. Các nhân tố chủ yếu thúc đẩy quan hệ thƣơng mại Việt 30
Nam - Nhật Bản
L3.L Xu thê toàn câu hoa và hội nhập kinh tê quác tê 30
7.5.2. Chính sách đối ngoại mở cửa và hội nhập kinh tể quốc tế 32
của Việt Nam
ỉ
1.3.3. Sự điêu chỉnh chính sách kinh tê đôi ngoại hướng về châu 34 Á của Nhật Bản •
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƢƠNG MẠI 43
VIỆT NAM - NHẬT BẢN TỪ NĂM 1990 ĐÈN NĂM 2007
2.1. Những thành tựu chủ yếu của quan hệ thƣơng mại Việt 43
Nam - Nhật Bản 2.LL Sự tăng trưởng của thương mại hai chiều 43
2.L2. Sự cải thiện của cán cân mậu dịch 55
2.1.3. Sự phát triển của một số mặt hàng xuất nhập khẩu chủ lực 59
2.2. Một số hạn chế bất cập của quan hệ thƣơng mại Việt Nam 79
- Nhật Bản
2.2.1. Sự phát triển của quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật 79
Bản chưa thực sự tương xứng với tiêm năng của môi nước
2.2.2. Cơ cấu hàng hoa xuất nhập khẩu còn nghèo nàn, chậm 84
ngoại thương của Việt Nam. Tuy nhiên, quan hệ ngoại thương giữa hai nước
vẫn còn khá nhiều hạn chế bất cập đòi hỏi sự cố gắng chung của cả hai nước
để khắc phục nhằm đáp ứng những đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế khu
vực đã và đang diễn ra mạnh mẽ. Vậy thì quan hệ thương mại Việt Nam -
Nhật Bản thời gian qua đã phát triển như thế nào? Sự phát triển đó diễn ra nhờ
những nhân tố gì? Liệu có thể phát triển mối quan hệ thương mại giữa hai
nước trong tương lai hơn nữa hay không? Việt Nam cần phải làm gì để tăng
kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản? Để tìm lời giải đáp cho
những câu hỏi này, việc nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc quan hệ
thương mại Việt Nam – Nhật Bản là hết sức cần thiết và có ý nghĩa về lý luận
2
và thực tiễn. Chính vì vậy, tác giả đã chọn chủ đề “Quan hệ thương mại Việt
Nam - Nhật Bản (Thời kỳ 1990 – 2007)” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có nhiều tài liệu đề cập đến quan hệ thương mại Việt
Nam - Nhật Bản. Tuy nhiên, các tài liệu này chỉ tập trung về từng mặt hàng
cụ thể như: nông sản, thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ hoặc khái
quát quan hệ kinh tế, thương mại.
a. Thương mại một số mặt hàng
- Nguyễn Thế Vinh, Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản,
Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà nội 2006. Nội dung luận văn tập trung vào các
giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản từ Việt nam sang Nhật
Bản.
- Phạm Thị Phương Nga, Xuất khẩu đồ gỗ nội thất Việt Nam sang Nhật
Bản, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà nội 2006. Nội dung luận văn tập trung
vào thực trạng xuất khẩu đồ gỗ nội thất Việt Nam sang Nhật Bản và các giải
pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ nội thất sang thị trường này.
- Nguyễn Thị Nhiễu (chủ nhiệm), Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
xuất khẩu nông, thuỷ sản và hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường Nhật Bản,
-1998 và tổng kết những hạn chế còn tồn tại trong trao đổi mậu dịch song
phương như: quy mô buôn bán còn nhỏ hẹp, cơ cấu hàng hoá trao đổi còn
nhiều bất cập…
- Trần Quang Minh, Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản: Thành
tựu, vấn đề và giải pháp, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản & Đông Bắc Á, số 5,
tháng 10/2005. Nội dung bài viết đánh giá thực trạng quan hệ thương mại
Việt Nam - Nhật Bản, nêu ra một số giải pháp thúc đẩy mối quan hệ thương
mại giữa hai nước.
4
- Nguyễn Duy Dũng, Thực trạng và triển vọng quan hệ kinh tế Việt
Nam – Nhật Bản, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 1, tháng 6/1995. Phùng
Thị Vân Kiều: Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản những năm gần đây,
Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 3, tháng 6/1999. Vũ Văn Hà, Quan hệ kinh
tế Việt Nam - Nhật Bản những năm gần đây, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số
1, tháng 2/2000. Nội dung các bài viết tập trung về quan hệ kinh tế Việt Nam
thông qua thương mại, đầu tư, ODA và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy
mạnh quan hệ kinh tế giữa hai nước.
Do vậy, tác giả luận văn muốn tổng hợp và cập nhật các tài liệu có liên
quan để nghiên cứu đầy đủ hơn về quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản
(thời kỳ 1990 – 2007), tập trung vào một số mặt hàng xuất và nhập khẩu chủ
yếu. Từ đó, góp phần tạo nên cơ sở tham khảo cho việc hoạch định chính sách
thương mại của Việt Nam đối với Nhật Bản thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là phân tích thực trạng, chỉ rõ những thành tựu, hạn
chế của mối quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản (thời kỳ 1990 – 2007).
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ
thương mại giữa hai nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu chính của luận văn là tổng hợp, thống kê số liệu,
so sánh và phân tích nhằm làm rõ thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam –
Chương 3. Một số giải pháp chính sách đẩy mạnh quan hệ thương
mại Việt Nam - Nhật Bản.
6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ
THƢƠNG MẠI VIỆT NAM – NHẬT BẢN
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về thƣơng mại quốc tế
1.1.1. Các lý thuyết về thương mại quốc tế
1.1.1.1. Chủ nghĩa trọng thương
Các nhà kinh tế của chủ nghĩa trọng thương đã coi tiền là tiêu chuẩn căn
bản của của cải. Theo họ, một quốc gia giàu là phải có nhiều tiền, mỗi nước
muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối
lượng tiền tệ. Những người theo chủ nghĩa trọng thương cho rằng của cải của
một nước chỉ có thể tăng lên nhờ phát triển thương nghiệp, đặc biệt là ngoại
thương, tức là phát triển buôn bán với nước ngoài. Bởi họ quan niệm lợi
nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không ngang giá và lừa gạt
giữa các quốc gia nên trong ngoại thương phải thực hiện xuất siêu, vì chỉ xuất
siêu mới đạt được mục đích của các hoạt động kinh tế, mới làm tăng khối
lượng tiền tệ của một nước. Do đó, họ đã đề nghị chính phủ can thiệp mạnh
vào lĩnh vực này nhằm thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu thông qua việc
áp dụng các chính sách và công cụ kinh tế vĩ mô.
Các lý luận của chủ nghĩa trọng thương còn đơn giản, chưa giải thích
được sự ra đời của thương mại quốc tế song nó đã sớm đánh giá tầm quan
trọng của thương mại quốc tế cũng như vai trò của nhà nước trong việc điều
tiết hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, lãi suất đầu tư
vốn, .v.v…
1.1.1.2. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối
chuyên môn hóa về sản xuất vải.
Pháp và Nhật cùng tiến hành trao đổi sản phẩm cho nhau, cả hai sẽ đạt
được lợi ích thương mại như sau:
+ Nước Pháp bỏ ra 1 giờ công sản xuất được 6 kg gạo. Nếu trao đổi
trong nước thì đem 6 kg gạo đổi lấy 4 m vải. Khi Pháp chuyên môn hóa sản
xuất gạo trao đổi với Nhật thì phải 6 kg gạo phải đổi được số mét vải lớn hơn
so với 4 m vải. Giả sử tỷ lệ trao đổi giữa hai nước là 1 kg gạo lấy 1 m vải thì 6
kg gạo của Pháp sẽ đổi được 6 m vải của Nhật. So với trao đổi trong nước,
Pháp sẽ có lợi 2 m vải, hay tiết kiệm được 1/2 giờ công lao động.
8
+ Đối với nước Nhật, nếu muốn có 6 kg gạo như nước Pháp thì nước
Nhật phải bỏ ra 6 giờ công lao động. Với thời gian đó, Nhật chỉ chuyên môn
hóa sản xuất vải thì được 30 m vải (6 giờ công x 5 m vải = 30 m vải). Nhật
dùng 6 m vải để đổi lấy 6 kg gạo thì sẽ còn dư 24 m vải, hay tiết kiệm được
gần 5 giờ công lao động.
Vậy là cả hai quốc gia, Pháp và Nhật đều có lợi khi trao đổi thương mại
với nhau khi chuyên môn hóa sản xuất. Lý thuyết của Adam Smith đã giải
thích được nguyên nhân của trao đổi thương mại giữa các quốc gia mà mỗi
quốc gia đều có một lợi thế tuyệt đối nào đó. Tuy nhiên, lý thuyết trên không
giải thích được hiện tượng: trao đổi thương mại vẫn diễn ra giữa một nước có
lợi thế tuyệt đối hơn hẳn với một nước kém lợi thế.
1.1.1.3. Lý thuyết về lợi thế so sánh (lợi thế tương đối)
Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo, đã khắc phục được hạn
chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith. Theo lý thuyết về lợi thế
so sánh nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các nước khác trong
việc sản xuất tất cả sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tạo ra lợi ích khi tham
gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế. Khi tham gia vào thương
mại quốc tế, nước đó sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà
việc sản xuất chúng ít bất lợi nhất, tức là chúng có lợi thế tương đối và nhập
một trong hai nước sẽ từ chối trao đổi thương mại. Bởi vậy, tỷ lệ trao đổi
quốc tế phải nằm trong khoảng sau:
1/2 < Tỷ lệ trao đổi quốc tế (gạo/vải) < 6/4
1/2 : Tỷ lệ trao đổi nội địa của Việt Nam
6/4 : Tỷ lệ trao đổi nội địa của Hàn Quốc
Hàn Quốc sẽ chuyên môn hóa sản xuất gạo, rồi dùng gạo để đổi lấy vải
của Việt Nam. Giả sử tỷ lệ trao đổi là 6 kg gạo đổi lấy 6 m vải, thì Hàn Quốc
sẽ được lợi 2 m vải, tức là tiết kiệm được 1/2 giờ công.
Nếu muốn có 6 kg gạo như Hàn Quốc thì Việt Nam phải bỏ ra 6 giờ
công lao động. Việt Nam sẽ chuyên môn hóa sản xuất vải, rồi dùng vải để đổi
lấy gạo từ Hàn Quốc, tức là 6 giờ công x 2 m vải = 12 m vải. Việt Nam lấy 6
m vải để đổi lấy 6 kg gạo, dư ra 6 m vải, tiết kiệm được 3 giờ công lao động.
10
Nếu tỷ lệ trao đổi càng gần với tỷ lệ trao đổi của Hàn Quốc thì Việt Nam càng
có lợi và ngược lại.
Như vậy, nếu tiến hành trao đổi theo tỷ lệ ở khoảng giữa thì cả Việt Nam
và Hàn Quốc đều có lợi. Khoảng dao động của tỷ lệ trao đổi quốc tế là:
4 m vải < 6 kg gạo < 12 m vải
Khi tỷ lệ trao đổi là 6 kg gạo đổi lấy 6 m vải thì Việt Nam được lợi 6 m
vải còn Hàn Quốc được lợi 2 m vải. Song khi tỷ lệ trao đổi là 6 kg gạo lấy 8
m vải thì Hàn Quốc được lợi 4 m vải và Việt Nam được lợi 4 m vải. Việc thay
đổi tỷ lệ trao đổi quốc tế sẽ ảnh hưởng tới nguồn lợi thương mại của mỗi nước
tham gia.
Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricado, một lý thuyết cơ bản của thương
mại quốc tế, khắc phục được hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối. Tuy
nhiên, ông xem xét giá trị hoặc giá cả của một sản phẩm chỉ dựa trên số lượng
lao động tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm đó nên ông chưa giải
thích được nguồn gốc phát sinh lợi thế của một nước đối với một sản phẩm,
không giải thích triệt để nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại quốc tế.
Thuế quan được hiểu là loại thuế chính phủ đánh vào mỗi đơn vị hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh. Trong đó, thuế nhập khẩu là loại
thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập khẩu, nên người mua trong nước phải trả
cho những hàng hóa nhập khẩu một khoản lớn hơn mức mà người xuất khẩu
ngoại quốc thu được. Thuế xuất khẩu là thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa
xuất khẩu.
Thuế quan, bao gồm thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu đều tác động đến
giá cả của hàng hóa. Các nước đang phát triển thường sử dụng thuế xuất khẩu
như một công cụ để tăng lợi ích quốc gia. Nhưng tại nhiều nước phát triển, họ
12
không sử dụng thuế xuất khẩu để tăng nguồn thu ngân sách nên khi nhắc tới
thuế quan là đồng nghĩa nói đến thuế nhập khẩu.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO)
thuế quan (thuế nhập khẩu) là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất để bảo hộ
các ngành sản xuất trong nước. Vì thuế quan được thể hiện rõ ràng qua các
con số, nên người ta có thể biết được mức độ bảo hộ dành cho một mặt hàng,
một ngành hàng cụ thể nào đó. Thuế quan vừa là biện pháp bảo hộ ít bóp méo
thương mại nhất vừa là biện pháp mang tính minh bạch hơn cả, phù hợp với
nguyên tắc của WTO. Thông qua việc đàm phán và lịch trình giảm thuế quan
của từng quốc gia, các đối tác thương mại có thể dự đoán được tốc độ, lịch
trình cắt giảm thuế quan của quốc gia đó, mức độ bảo hộ và mức độ mở cửa
thị trường. Do vậy, chính sách ngoại thương của một nước trở nên dễ dự đoán
hơn.
Đối với quốc gia đánh thuế, thuế quan sẽ tăng thu nhập thuế cho quốc
gia sở tại. Nhưng mặt khác, thuế quan lại làm giảm hiệu quả khai thác nguồn
lực của nền kinh tế thế giới nên làm giảm phúc lợi chung. Bởi thuế quan tác
động đến hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia, làm thay đổi
cán cân thương mại nên thuế quan cũng có ảnh hưởng tiêu cực. Nếu thuế
quan của một hàng hóa cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng
hàng hóa xuất khẩu của nước mình cũng tác động xấu tới quan hệ thương mại
giữa các nước, ảnh hưởng tới quyền lợi của người tiêu dùng của nước sở tại.
Trước đây, thuế quan là biện pháp hạn chế thương mại quan trọng nhất
trong chính sách thương mại của mỗi quốc gia và được sử dụng như một công
cụ chủ yếu để bảo hộ thị trường nội địa. Nhưng từ sau chiến tranh thế giới thứ
hai, mức thuế quan đánh vào hàng hóa có xu hướng giảm xuống cùng với quá
14
trình tự do hóa gia tăng. Tuy vậy, nhiều quốc gia hiện nay vẫn sử dụng thuế
quan như một công cụ trong chính sách thương mại.
1.1.2.2. Hạn ngạch
Hạn ngạch là một trong những hình thức của hàng phi thuế quan. Hạn
ngạch là qui định số lượng hoặc giá trị xuất nhập khẩu đối với từng hàng hóa,
từng thị trường. Đây là một công cụ kinh tế nhằm bảo hộ sản xuất nội địa, cải
thiện cán cân thanh toán.
Hạn ngạch xuất khẩu là hạn chế số lượng xuất khẩu theo từng mặt hàng,
theo từng quốc gia, thị trường và theo thời gian.
Hạn ngạch nhập khẩu là hạn chế số lượng nhập khẩu nên cũng ảnh
hưởng tới giá cả hàng hóa và lợi ích xã hội. Khi hạn ngạch nhập khẩu được áp
dụng sẽ gây ảnh hưởng tới mức cung nên giá cân bằng của hàng hóa sẽ cao
hơn trong điều kiện thương mại tự do. Điều này khuyến khích các nhà sản
xuất nội địa sản xuất ra một lượng sản phẩm cao hơn, gây lãng phí của cải xã
hội. Bởi vậy, hạn ngạch nhập khẩu tương đối giống với thuế nhập khẩu. Để
bảo vệ lợi ích quốc gia, hạn ngạch nhập khẩu cũng nhằm mục đích thay thế
hàng nhập khẩu, bảo vệ sản xuất nội địa. Tuy nhiên, hạn ngạch có một số
điểm khác biệt so với thuế quan. Thứ nhất, hạn ngạch cho biết trước số lượng
hàng nhập khẩu, còn thuế quan lượng hàng nhập khẩu lại phụ thuộc vào mức
độ linh hoạt của cung cầu nên khó có thể dự đoán được. Do vậy, những tác
động của hạn ngạch đến lợi ích xã hội, thương mại cũng rõ ràng hơn. Hạn
ngạch có thể biến một doanh nghiệp nội địa duy nhất trở thành một nhà độc
tính miễn cưỡng.
1.1.2.4. Những quy định về điều kiện kỹ thuật
Một quốc gia có thể hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng hóa nhập khẩu
bằng cách đưa ra những quy định về điều kiện kỹ thuật. Đây là những quy
16
định về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa nhằm bảo vệ sức khỏe, sự an
toàn của con người, các loài động thực vật và môi trường, về bao bì của hàng
hóa nhập khẩu, các yêu cầu về nhãn mác hàng hóa… Trong thực tế, các tiêu
chuẩn và quy định về kỹ thuật là một trong những khó khăn lớn nhất đối với
các nước đang và kém phát triển khi tiếp cận thị trường nước ngoài. Bởi trình
độ, kỹ năng về công nghệ sản xuất, chế biến, bảo quản của họ còn thấp, chưa
đáp ứng được yêu cầu của nước nhập khẩu. Điều này có thể gây ra các tác
động hạn chế thương mại giữa các quốc gia, cản trở sự phát triển thương mại
quốc tế.
1.1.2.5. Trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp tiền trực tiếp hay cho vay với lãi suất thấp
đối với doanh nghiệp xuất khẩu trong nước hoặc cho các bạn hàng nước ngoài
vay ưu đãi để họ có thể mua hàng hóa do nước mình xuất khẩu nhằm khuyến
khích xuất khẩu quốc gia. Việc trợ cấp có thể được thực hiện dưới các hình
thức như cung cấp vốn với lãi suất thấp, miễn thuế thu nhập xuất khẩu, trợ giá
xuất khẩu…
Để khuyến khích xuất khẩu một sản phẩm nào, chính phủ chỉ cần thực
hiện trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm đó. Điều này rất có lợi cho nhà xuất
khẩu vì họ tăng được thu nhập do hạ thấp chi phí hoặc tăng giá xuất khẩu. Kết
quả là sản xuất các mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu tăng lên nhưng
tiêu dùng các mặt hàng này lại giảm. Khả năng sản xuất các mặt hàng khác
cũng bị suy giảm do việc di chuyển các nguồn lực sản xuất sang sản xuất các
mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu. Do vậy, ảnh hưởng của trợ cấp xuất
khẩu đến giá sản phẩm và lợi ích xã hội cũng tương tự như ảnh hưởng của
khai thác muối phục vụ sinh hoạt, công nghiệp và xuất khẩu. Với khoảng 1,2
triệu ha mặt nước, trên 600 ngàn ha sông suối, trên 300 ngàn ha hồ chứa…
18
phân bố đều ở các vùng, Việt Nam còn có tiềm năng phát triển và khai thác
thủy sản nước lợ, nước ngọt.
Ngoài những tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, Việt Nam còn có
nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng như: than (trữ lượng khoảng trên 6 tỉ
tấn), dầu khí (trữ lượng dầu mỏ khoảng 3 – 4 tỷ thùng và khí đốt khoảng 50 –
70 mét khối), kim loại màu (nhôm, đồng, vàng, thiếc…), kim loại đen (sắt,
măng gan, titan)… Hiện nay, Việt Nam chỉ mới khai thác và chế biến khoáng
sản ở mức độ thấp, các khoáng sản xuất khẩu chỉ ở dạng sơ chế, dầu chỉ là
dầu thô. Đây là điều kiện thuận lợi trước mắt giúp phát huy hiệu quả kinh tế
cao mà cần ít vốn đầu tư. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có các mỏ nhỏ rải rác
trên cả nước, rất thuận tiện cho việc khai thác và phát triển kinh tế giữa các
vùng.
Hàng nghìn con sông lớn, nhỏ trải dài theo lãnh thổ, cứ khoảng 20 km lại
có một cửa sông nên hệ thống giao thông đường thủy của Việt Nam khá thuận
lợi. Ngoài ra, cùng với nhiều hải cảng lớn: Hải Phòng, Nghi Sơn, Đà Nẵng,
Cam Ranh, Vũng Tàu… Việt Nam dễ dàng phát triển kinh tế, giao thương
trong nước và ngoài nước.
1.2.1.2. Dân cư và nguồn nhân lực
Tính đến năm 2007, dân số của Việt Nam là trên 85 triệu người, đứng
thứ 2 tại Đông Nam Á và đứng thứ 13 trên thế giới. Dân số Việt Nam được
đánh giá là có quy mô lớn và phát triển nhanh với tốc độ tăng dân số ở mức 1
triệu người/năm.
Nguồn nhân lực của Việt Nam đông đảo, có trình độ văn hóa tương đối
đồng đều. Lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh, cần cù, sáng tạo
và ham học hỏi. Giá nhân công Việt Nam thấp hơn so với một số nước trong
khu vực. Hơn nữa, nguồn nhân lực Việt Nam ngày càng được hoàn thiện hơn
về kinh tế và chính trị ở khu vực Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của
Nhật Bản. 20
1.2.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Nhật Bản
1.2.2.1. Quốc đảo đồng nhất
Nhật Bản là quần đảo hình cánh cung, ôm lấy lục địa châu Á với diện
tích khoảng 380.000 km
2
, chiều dài đất nước khoảng 3.500 km. Do được hình
thành từ hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ trong đó gồm 4 hòn đảo chính là
Hokkaido, Honshu, Kyushyu, và Shikoku, nên quốc đảo này không có đường
biên giới chung với quốc gia nào. Vì vậy, trong lịch sử, trước năm 1945, quốc
gia này chưa từng bao giờ bị một quốc gia khác chiếm đóng. Điều này giúp
hình thành nên một quốc đảo có sự đồng nhất về dân tộc, về ngôn ngữ, về tôn
giáo, về kinh tế, và cả sự đồng bộ về giáo dục.
Với hơn 90% dân số thuộc dân tộc Yamato (người Nhật) nên hầu hết
mọi người đều có thể giao tiếp với nhau bằng tiếng Nhật chuẩn được dạy
trong trường học. Sự đồng bộ giáo dục trong chương trình và chất lượng
giảng dạy cũng được thực hiện trên khắp mọi miền đất nước. Bởi thế, Nhật
Bản có một nguồn lao động có trình độ giáo dục tương đối cao và được đào
tạo tốt về kỹ năng lao động, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, xã hội,
tránh được các mâu thuẫn về sắc tộc. Tất cả những sự đồng nhất kể trên tạo
nên ý thức đoàn kết trong công việc, tinh thần tập thể, có tính kỷ luật cao và
ham học hỏi của người Nhật.
Do quần đảo Nhật Bản nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương nên
3/4 lãnh thổ Nhật Bản là đồi núi, chỉ có những đồng bằng nhỏ nằm ở giữa
những dãy núi. Vì vậy, diện tích đất canh tác của Nhật Bản chỉ chiếm 1/6 diện
tích, không thuận tiện cho việc thâm canh tăng năng suất. Mặt khác, Nhật Bản
Bản sang Mỹ chiếm 27,8% và nhập khẩu chiếm 22,3%. Bởi vậy, thặng dư
thương mại của Nhật với Mỹ là 5.020 tỷ yên, khoảng 41,5 tỷ USD, chiếm
50% tổng thặng dư thương mại của Nhật đối với các bạn hàng. Nhật Bản là
22
nước xuất siêu hàng đầu thế giới. Năm 2004, Nhật Bản xuất siêu với kim
ngạch 12 ngàn tỷ yên (khoảng 112,3 tỷ USD).
Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản đạt 61,1 ngàn tỷ yên
(khoảng 582,6 tỷ USD), tăng 12,2% so với năm 2003. Đến năm 2005, kim
ngạch xuất khẩu của Nhật Bản đạt 598,2 tỷ USD, tăng 5,9% so với năm 2004.
Vốn đầu tư trực tiếp năm 2005 Nhật thu hút được vào trong nước đạt 30,1 tỷ
USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Đồng thời vốn đầu tư trực tiếp của
Nhật ra nước ngoài đạt 45,5 tỷ USD, tăng 46,8%, cao nhất kể từ năm 1990.
Năm 2003, Nhật Bản có 88 doanh nghiệp trong số 500 doanh nghiệp hàng
đầu thế giới.
1.2.2.3. Khoa học công nghệ, kỹ thuật chế tạo phát triển
Từ một nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lạc hậu về khoa học
kỹ thuật, Nhật Bản đã tiến thẳng vào kỷ nguyên công nghệ cao vào năm 1980.
Tính trung bình mỗi năm (1951 đến 1983), Nhật Bản đã tiến hành 1.312 số
lần nhập công nghệ nước ngoài với tổng chi phí lên tới 3.821 triệu USD. Các
công nghệ nhập ngoại đã được người Nhật cải tiến vượt bậc bằng cách kết
hợp giữa bắt chước và sáng tạo công nghệ. Từ năm 1950, Nhật Bản đã nhập
khẩu công nghệ bóng bán dẫn, máy công cụ điều khiển bằng số và kỹ thuật
“kiểm tra chất lượng” từ Mỹ. Nhưng sau đó, ngành điện tử sử dụng bóng bán
dẫn của Nhật đã có sức cạnh tranh hàng đầu trên thế giới. Vào cuối những
năm 1960 trở đi, máy công cụ điều khiển bằng số giá thấp đã thâm nhập và
cạnh tranh trên thị trường Mỹ. Và đến những năm 1970, người Mỹ đã phải
quay lại tiếp thu một số tư tưởng của kỹ thuật “kiểm tra chất lượng” của chính
người Nhật.
Năm 1955, tại Nhật chỉ có 1.455 phòng thí nghiệm nhưng 15 năm sau