Vấn đề chống bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ và Liên minh Châu Âu - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
 NGUYỄN THỊ QUYÊN
VẤN ĐỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG
XUẤT KHẨU
CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ
VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Hµ Néi – 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


MỤC LỤC
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ KINH
NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC ĐỐI PHÓ VỚI CÁC VỤ
KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 5
1.1. Lý luận chung về bán phá giá 5
1.1.1. Khái niệm bán phá giá 5
1.1.2. Xác định việc bán phá giá 7
1.1.3. Xác định thiệt hại 14
1.1.4. Tác động của bán phá giá đến nước nhập khẩu 15
1.1.5. Những điều kiện để được phép tiến hành hành động chống bán
phá giá 16
1.2. Kinh nghiệm của một số nước trong việc đối phó với các vụ kiện
bán phá giá 18
1.2.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc 18
1.2.2. Kinh nghiệm của Thái Lan 23
1.2.3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc 27
1.2.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 30
CHƯƠNG 2: CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT
KHẨU CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ EU 33
2.1. Khái quát hoạt động xuất khẩu của Việt Nam 33
2.1.1. Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ 35
2.1.1.1. Kim ngạch xuất khẩu 36 2.1.1.2. Cơ cấu hàng xuất khẩu 36
2.1.2. Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang EU 38

3.2.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp 81
3.2.3. Giải pháp từ phía Hiệp hội 84
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Số liệu điều tra chống bán phá giá đối với các nước thành viên
ASEAN 24
Bảng 2.1. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đạt kim ngạch trên
1tỷ USD 35
Bảng 2.2. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vào EU 40
Bảng 2.3. Thống kê các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bị kiện bán phá
giá từ năm 1994-2006 43
Bảng 2.4. Kim ngạch xuất khẩu cá Tra và Basa fille đông lạnh của Việt
Nam sang Mỹ 49
Bảng 2.5. Danh sách các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam bị USDOC áp

Liên minh Châu Âu
GATT
Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch
USITC
Uỷ ban Th-ơng mại quốc tế Hoa Kỳ
USTR
Đại diện th-ơng mại Mỹ
USDOC
Bộ Th-ơng mại Hoa Kỳ
VASEP
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
WTO
Tổ chức th-ơng mại thế giới
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong thời đại toàn
cầu hoá kinh tế. Hầu như hiếm có quốc gia nào đứng ngoài dòng chảy toàn
cầu hoá và hội nhập, kể cả các quốc gia chậm phát triển về nhiều mặt. Việt
Nam cũng nằm trong số đó. Kể từ sau năm 1986, Việt Nam không ngừng tăng
cường hội nhập vào nền kinh tế thế giới và đã khẳng định được vị thế của
mình trên trường quốc tế. Hội nhập kinh tế đã đem lại cho Việt Nam những
lợi ích to lớn về mọi mặt từ kinh tế, chính trị đến văn hoá
Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích thu được chúng ta cũng gặp không ít
những thách thức rất lớn từ bên ngoài. Trong quá trình hội nhập chúng ta
cũng phải đối mặt với những rào cản từ thị trường bên ngoài. Đây là chuyện

- Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam. Những vẫn đề
lý luận và thực tiễn của tác giả Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Sơn - Nhà xuất bản tư
pháp - Hà nội 2005
- Cơ sở khoa học áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu
của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế - Đề tài cấp bộ của Vụ chính
sách thương mại đa biên - Bộ Thương mại do Thạc sỹ Nguyễn Thanh Hưng
chủ nhiệm đề tài- Hà nội, 8/2002
- Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại
quốc tế của tác giả - TS Đinh Thị Mỹ Loan - Bộ thương mại, NXB Lao
động xã hội- Hà nội 2006
- Một số bài viết đăng trên tạp chí nghiên cứu kinh tế chuyên ngành như :
- “Đương đầu với các vụ kiện chống bán phá giá sau WTO” của tác giả
Dương An đăng trên Tạp chí thương mại số 48/2006. 3
- “Đối phó với vụ kiện chống bán phá giá giầy dép vào EU” của tác giả
Đoàn Tất Thắng đăng trên Tạp chí thương mại số 28/2005
- “Chống bán phá giá đã trở thành trở ngại hàng đầu trong thương mại
quốc tế” của tác giả Đoàn Văn Trường đăng trên Tạp chí nghiên cứu kinh tế
tháng 5/2006.
- “Một số giải pháp nhằm đối phó với vụ kiện bán phá giá tôm” của tác giả
Đoàn Tất Thắng đăng trên Báo đầu tư số 38/2004.
- “Một số gợi ý đối với Việt Nam trong việc sử dụng cơ chế chống bán phá
giá” của tác giả Th.s Mai Thế Cường đăng trên Tạp chí Những vấn đề kinh
tế thế giới số 3(2004).
Tuy nhiên, các công trình, bài viết mới chỉ đề cập ở một khía cạnh nhất
định, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và hoàn thiện về vấn đề
trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê nin, kết hợp sử dụng các
phương pháp phân tích, tổng hợp để hệ thống hóa, khái quát hóa, logíc và lịch
sử, tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê học để xử lý số liệu
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích, làm rõ thực trạng một số vụ kiện của Mỹ và EU kiện các doanh
nghiệp Việt Nam bán phá giá các mặt hàng như: cá Tra, cá Basa, tôm đông
lạnh, giày mũ da và xe đạp.
- Đề xuất những giải pháp giúp các doanh nghiệp Việt Nam đối phó với các
vụ kiện chống bán phá giá.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về bán phá giá và kinh nghiệm
của một số nước trong việc đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá. 5
- Chương 2: Thực trạng các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất
khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ và EU.
- Chương 3: Những giải pháp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá
hàng xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ và EU.

CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ
KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRONG VIỆC ĐỐI PHÓ VỚI CÁC
VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ.
1.1. Lý luận chung về bán phá giá
1.1.1. Khái niệm bán phá giá.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về bán phá giá, ban đầu bán phá giá được
hiểu đơn giản là bán hàng ra nước ngoài với giá thấp hơn tại thị trường nội
địa. Theo cách hiểu này, muốn xác định được hành vi bán phá giá trước hết
phải xác định được giá trị nội địa hay còn gọi là giá bán hàng hóa tương tự tại

thương mại thế giới (WTO) đã xác định:
“Một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm
được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể
so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo
các điều kiện thương mại thông thường”.
Kết hợp những quan điểm trên ta thấy một sản phẩm bị coi là phá giá nếu
giá xuất khẩu của nó thấp hơn giá so sánh của sản phẩm tương tự trong quá
trình kinh doanh thông thường trên thị trường của nước xuất khẩu.
Như vậy, trung tâm khái niệm bán phá giá là có sự cách biệt về giá, khi giá
xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó khi bán ở trong nước
xuất khẩu. Do đó, muốn xác định một hàng hóa đang bán phá giá hay không
trước tiên là phải tìm cách xác định được giá trị thông thường và giá xuất
khẩu của hàng hóa đó, từ đó xác định mức phá giá. 7
Bán phá giá thường bị coi là hành vi thương mại quốc tế không công bằng.
Do đó chính phủ nhiều nước cho rằng, họ cần phải có hành động chống lại
hành vi đó nhằm bảo vệ ngành công nghiệp trong nước mà thông thường là
thông qua việc đánh thuế chống bán phá giá để bù đắp lại những thiệt hại cho
ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu do hành vi đó gây ra, kết quả là dẫn đến
một vụ kiện chống bán phá giá.
Thuế chống bán phá giá: Là một sắc thuế mà nước nhập khẩu đánh vào một
mặt hàng nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn sự tiếp diễn của việc
bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự ở
trong nước.
1.1.2. Xác định việc bán phá giá.
Theo quan điểm trên, kết luận về hành vi bán phá giá không phải là sự so
sánh giữa giá xuất khẩu và giá trên thị trường nước nhập khẩu hoặc với chi
phí sản xuất của hàng hóa mà dựa trên mối quan hệ giữa giá của sản phẩm

trả hoặc phải trả trong điều kiện thương mại thông thường của sản phẩm
tương tự khi sản phẩm này tiêu thụ tại nước xuất khẩu.
- Giá trị thông thường dựa trên giá của nước xuất xứ hàng hóa: Trong
trường hợp chỉ đơn thuần được vận chuyển qua nước xuất khẩu, hoặc sản
phẩm đó không được sản xuất tại nước xuất khẩu hoặc không có giá để so
sánh đối với những sản phẩm này tại nước xuất khẩu, giá trị thông thường
được thiết lập trên cơ sở giá có thể so sánh được đã được trả hoặc phải trả,
trong điều kiện thương mại bình thường đối với sản phẩm tương tự khi sản
phẩm này được tiêu thụ tại nước xuất xứ hàng hóa đó.
- Giá trị thông thường dựa trên cơ sở giá xuất khẩu sang một nước thứ ba:
Khi không có việc bán sản phẩm tương tự tại thị trường nội địa của nước
xuất khẩu hoặc khi việc bán như vậy không cho phép so sánh chính xác do
điều kiện thị trường đặc thù riêng (như nước không có nền kinh tế thị trường), 9
hoặc số lượng bán hàng thấp tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu (việc
bán hàng nội địa thấp hơn 5% khối lượng hàng xuất khẩu), giá trị thông
thường của sản phẩm bị điều tra có thể thiết lập trên cơ sở giá có thể so sánh
của sản phẩm tương tự đang được bán hoặc được xuất khẩu sang một nước
thứ ba tương ứng với điều kiện giá này mang tính chất đại diện.
- Giá trị thông thường tính toán: Khi không có việc bán sản phẩm tương tự
trong điều kiện thương mại thông thường tại thị trường nội địa của nước xuất
khẩu, hoặc khi những việc bán hàng như vậy không cho phép so sánh chính
xác do điều kiện thị trường đặc thù riêng (như nước không có nền kinh tế thị
trường) hoặc số lượng bán hàng thấp tại thị trường xuất khẩu (việc bán hàng
nội địa thấp hơn 5% khối lượng hàng xuất khẩu), hoặc khi không xác định
được giá trị thông thường trên cơ sở giá xuất khẩu sang một nước thứ ba
(hoặc không muốn sử dụng phương pháp này) thì có thể sử dụng giá thông
thường tính toán. Giá thông thường tính toán gồm: chi phí sản xuất (bao gồm

kiện sau:
+ Giá đã thực sự hoặc giá phải trả (giá trong hóa đơn)
+ Giá xuất khẩu tới cộng đồng
+ Giá tới một khách hàng độc lập
- Giá xuất khẩu tính toán: Sử dụng trong các trường hợp khi: không
có giá đã trả thực sự hoặc giá phải trả, tức không có giá xuất khẩu;
không có khách hàng độc lập.
- Giá xuất khẩu do cơ quan có thẩm quyền tự quyết định.
Trong trường hợp không có giá xuất khẩu hoặc cơ quan có thẩm quyền cho
rằng mức giá xuất khẩu không đáng tin cậy do nhà xuất khẩu và nhà nhập
khẩu hoặc một bên thứ ba nào đó có quan hệ họ hàng hoặc có thỏa thuận về
bù trừ khi đó: Giá xuất khẩu có thể được xây dựng trên cơ sở mức giá khi sản 11
phẩm nhập khẩu được bán lại đầu tiên cho một người mua hàng độc lập do
một cơ quan có thẩm quyền tự quyết định.
*Phƣơng pháp xác định mức phá giá
- So sánh giữa giá xuất khẩu với giá trị thông thƣờng
Giá xuất khẩu sẽ được so sánh một cách công bằng với giá trị thông thường
để xác định mức phá giá. Việc so sánh này sẽ được tiến hành ở cùng mức độ
thương mại, thường là ở mức giao hàng tại nhà máy và với lượng mua bán
được thực hiện ở thời điểm gần nhất có thể hoặc thời điểm càng giống nhau
càng tốt.
Trong từng trường hợp cụ thể, có thể có sự chiếu cố hợp lý về những khác
biệt có thể ảnh hưởng tới việc so sánh giá trong đó bao gồm khác biệt về điều
kiện bán hàng, thuế, dung lượng thương mại, khối lượng, đặc tính vật lý và
bất kỳ sự khác biệt nào khác có biểu hiện ảnh hưởng đến việc so sánh giá.
Trong trường hợp giá xuất khẩu được xây dựng trên cơ sở sản phẩm nhập
khẩu được bán lại lần đầu tiên cho một người mua hàng độc lập tính đến các

ta tính biên độ phá giá bằng một con số tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm trên giá
xuất khẩu. Biên độ phá giá có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định có phá giá
hay không, mức phá giá cũng như biện pháp chống bán phá giá. Nếu biên độ
phá giá là số dương (>0) thì kết luận có bán phá giá và ngược lại.
- Xác định biên phá giá đơn lẻ
Biên phá giá đơn lẻ sẽ được xác định cho mỗi nhà xuất khẩu hoặc nhà sản
xuất sản phẩm bị điều tra.
Trong trường hợp số lượng nhà xuất khẩu, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu
hoặc các dạng sản phẩm liên quan quá lớn đến mức không thể thực hiện được
nếu tính biên phá giá riêng đơn lẻ cho mỗi nhà xuất khẩu, nhà sản xuất sản
phẩm bị điều tra có thể giới hạn việc xem xét trong phạm vi số lượng hợp lý 13
các bên liên quan hoặc sản phẩm bị điều tra bằng việc sử dụng phương pháp
chọn mẫu có giá trị về mặt thống kê.
Trường hợp các cơ quan điều tra giới hạn việc xem xét như đã nêu trên, cơ
quan điều tra sẽ quyết định biên phá giá riêng lẻ cho bất cứ nhà xuất khẩu hay
nhà sản xuất nào tình nguyện nộp các thông tin cần thiết trong quá trình điều
tra. Tuy nhiên số nhà xuất khẩu hay nhà sản xuất lớn đến mức việc xem xét
đơn lẻ sẽ là gánh nặng quá đáng cho cơ quan điều tra và cản trở việc hoàn
thành đúng thời hạn điều tra, cơ quan điều tra có thể giảm việc quyết định
biên phá giá đơn lẻ dựa trên cơ sở những trả lời tự nguyện và giới hạn việc
xem xét trong phạm vi các nhà xuất khẩu và nhà sản xuất theo mẫu.
*Ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá
Tác động của bán phá giá được đánh giá một cách đơn giản theo hình dưới
đây. Trước khi có việc hàng hóa của một nước được bán sang nước khác với
giá thấp hơn giá hiện hành, cung và cầu mặt hàng cân bằng tại điểm E với giá
P1 và sản lượng Q1, hoàn toàn là hàng sản xuất trong nước.Tuy nhiên, khi có
hàng hóa nước ngoài bán vào với mức giá thấp hơn là P2, lượng tiêu thụ tăng

Q1
Q2
P2

P1
A
B 15
sản xuất trong nước (thiệt hại tương lai), hoặc làm trì trệ sự phát triển của một
ngành sản xuất trong nước.
Như vậy, để xác định thiệt hại, cần xem xét các nhân tố sau:
- Khối lượng hàng nhập khẩu bị bán phá giá có tăng đáng kể không?
- Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá sản phẩm tương tự, tức giá của
hàng nhập khẩu đó có rẻ hơn giá sản phẩm tương tự sản xuất ở nước nhập
khẩu nhiều không? Có làm sụt giá hoặc kìm hãm giá sản phẩm tương tự ở thị
trường nước nhập khẩu không?
Khi sản phẩm thuộc diện điều tra được nhập khẩu từ nhiều nước: đánh giá
gộp tác động, nếu biên độ phá giá>=2% giá xuất khẩu và khối lượng hàng
nhập khẩu từ mỗi nước >=3% khối lượng nhập khẩu sản phẩm tương tự.
Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá đối với một
ngành sản xuất trong nước phải xem xét tất cả các yếu tố kinh tế có thể ảnh
hưởng đến ngành sản xuất đó, gồm những yếu tố sau: năng suất, thị phần,
biên độ phá giá, giá nội địa ở nước nhập khẩu, suy giảm thực tế và nguy cơ
suy giảm doanh số bán hàng, số lượng hàng tồn kho, sản lượng, tình trạng thất
nghiệp, lương, tác động tiêu cực đến luồng tiền, tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư, đầu
tư, khả năng huy động vốn và tốc độ tăng trưởng.
Để xác định nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước cần xem xét:
- Tốc độ tăng nhập khẩu

với những công cụ hữu hiệu để ngăn chặn và loại bỏ những hành vi không
lành mạnh ra khỏi thị trường.
- Bán phá giá là bóp méo những nguyên lý cơ bản của thị trường nước nhập
khẩu. Nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường là sự tự do và cạnh tranh lành
mạnh, trong quan hệ thương mại quốc tế, thị trường tự do được xây dựng trên
lý thuyết lợi thế so sánh của thị trường và các thành viên. Một khi có hiện
tượng bán phá giá xảy ra với mục đích đẩy đối thủ cạnh tranh đến bờ vực phá 17
sản, lúc đó sự tự do và tính chất lành mạnh của thị trường nước nhập khẩu đã
bị tổn hại nghiêm trọng. Hành vi thủ tiêu nền sản xuất nội địa của nước nhập
khẩu cũng gắn liền với việc hủy diệt những lợi thế có thể có của nước nhập
khẩu trong cạnh tranh quốc tế.
- Bán phá giá tác động xấu đến sự phát triển của ngành sản xuất nội địa.
Nhà nước chỉ can thiệp khi hành vi phá giá gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn
hại vật chất tới ngành sản xuất trong nước. Khi nhà nước muốn loại bỏ hành
vi phá giá ra khỏi thị trường nhập khẩu, nhà nước đã gặp khó khăn trong việc
giải quyết xung đột giữa quyền lợi của người tiêu dùng đang được hưởng
(mua hàng với giá rẻ) và lợi ích của nhà sản xuất trong nước (phải hạ giá
thành để cạnh tranh với hàng hóa phá giá, và việc mất dần thị phần của họ).
Khó khăn chính của nhà nước là khó lựa chọn lợi ích nào là lợi ích chính yếu
mà mình phải bảo vệ, bởi lẽ nếu chỉ vì lợi ích hiện tại của người tiêu dùng thì
có thể dẫn tới kết quả là trong tương lai phải chấp nhận sự hủy diệt của cả một
ngành sản xuất trong nước. Nếu chỉ bảo vệ ngành sản xuất trong nước thì đôi
khi biện pháp chống bán phá giá lại là một công cụ vô lý, làm cho các nhà sản
xuất không vì lợi ích của người tiêu dùng để nỗ lực giảm chi phí sản xuất. Do
vậy sự hiện diện của bán phá giá hàng hóa chưa đủ cơ sở để yêu cầu nhà nước
và pháp luật phải xuất hiện chỉ khi nào có thiệt hại đối với nhà sản xuất nội
địa thì nhà nước mới can thiệp. Vì vậy, sự xuất hiện kịp thời của nhà nước và

cơ quan điều tra xác định rằng biên độ phá giá không đáng kể hoặc trong
trường hợp khối lượng hàng nhập khẩu bán phá giá đo gây ra không đáng kể.
- Biên độ phá giá được coi là mức tối thiểu / không đáng kể nếu biên độ đó
thấp hơn 2% của giá xuất khẩu.
- Khối lượng hàng nhập khẩu thông thường sẽ bị coi là không đáng kể nếu
như khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá từ một nước cụ thể nào đó
chiếm ít hơn 3% tổng nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu,

Trích đoạn Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang EU Cỏc nguyờn nhõn gõy ra vụ kiện Vụ kiện cỏc doanh nghiệp Việt Nam bỏn phỏ giỏ giày mũ da Hiệp hội cỏc nhà sản xuất xe đạp Chõu Âu (EBMA) kiện cỏc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status