Một giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục trung học cơ sở thành phố móng cái giai đoạn 2014 đến 2020 - Pdf 25

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
HC VIN CHNH TR KHU VC I
NGUYN TH NINH
MộT Số GIảI PHáP NÂNG CAO CHấT LƯợNG
GIáO DụC TRUNG HọC CƠ Sở THàNH PHố MóNG CáI
GIAI ĐOạN 2014 ĐếN 2020
LUN VN TT NGHIP
CAO CP Lí LUN CHNH TR - HNH CHNH

H NI, NM 2014
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
HC VIN CHNH TR KHU VC I
NGUYN TH NINH
MộT Số GIảI PHáP NÂNG CAO CHấT LƯợNG
GIáO DụC TRUNG HọC CƠ Sở THàNH PHố MóNG CáI
GIAI ĐOạN 2014 ĐếN 2020
LUN VN TT NGHIP
CAO CP Lí LUN CHNH TR - HNH CHNH
Ngi hng dn: Th.S. Giang Th Huyn
Phú Trng khoa Vn húa - Phỏt trin
H NI, NM 2014
2
KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT KÝ HIỆU NỘI DUNG
1 BCH Ban chấp hành
2 CBQL Cán bộ quản lý
3 CNH- HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
4 CNXH Chủ nghĩa xã hội
5 CSVC Cơ sở vật chất
6 GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
7 HĐND Hội đồng nhân dân

[12, tr. 5]. Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Ðảng khóa XI đã
đề ra Nghị quyết "Ðổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng XHCN và hội nhập quốc tế". Nghị quyết 10/NQ- CP về Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội 2011- 2020 đã đề ra 5 quan điểm phát triển, trong đó
“Giáo dục- Đào tạo được xác định là khâu đột phá, là chìa khóa của mọi sự
thành công trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội (KT- XH). Vì vậy thực
sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển KT-
XH đã trở thành triết lý nhằm đảm bảo các điều kiện để phát huy nguồn lực
con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hóa- hiện đại hóa đất nước, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Đây chính
là nền tảng động lực thúc đẩy kinh tế- xã hội, sự nghiệp giáo dục- đào tạo
phát triển” [02, tr.4].
4
Cùng với sự ổn định và phát triển kinh tế- xã hội của thành phố,
ngành Giáo dục và Đào tạo trong những năm qua cũng đạt được những kết
quả đáng khích lệ. Quy mô giáo dục đang được mở rộng ở tất cả các cấp
học, bậc học. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo được sự quan tâm của toàn xã
hội. Tỷ lệ học sinh đến lớp ngày càng cao, chất lượng giáo dục toàn diện
có những bước chuyển biến tích cực theo tinh thần cuộc vận động "Hai
không" và phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực”, các nhiệm vụ trọng tâm khác của ngành được tổ chức tiến hành đạt
kết quả tốt. Tỷ lệ giáo viên có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn tăng nhanh,
chương trình kiên cố hóa trường lớp, xây nhà công vụ giáo viên thực hiện
có nhiều cố gắng. Công tác xã hội hoá giáo dục được các nhà trường, địa
phương triển khai tích cực hiệu quả, đã huy động được nhiều nguồn lực
của xã hội đóng góp, xây dựng cho sự nghiệp giáo dục- đào tạo. Nhiều học
sinh có hoàn cảnh khó khăn đã vượt khó vươn lên có thành tích cao trong
học tập. 100% số xã, phường trên địa bàn thành phố được công nhận phổ
cập giáo dục THCS và cơ bản hoàn thành về phổ cập GDTH.

công tác giáo dục trên địa bàn, tôi rất băn khoăn để làm thế nào nâng cao chất
lượng giáo dục, nhất là giáo dục khối Trung học Cơ sở. Tôi xác định rằng:
công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, đảm bảo chất lượng
dạy và học, huy động sự quan tâm, chăm lo của toàn xã hội đối với công tác
giáo dục sẽ là mắt xích chủ yếu và quan trọng nhất trong việc nâng cao chất
lượng giáo dục trên địa bàn. Công tác này được cải tiến và đẩy mạnh sẽ có tác
dụng quyết định tạo nên sự chuyển biến cao về chất lượng của cấp học THCS,
góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH- HĐH đất nước nói
chung và thành phố nói riêng.
Với suy nghĩ đó, tôi chọn đề tài "Một giải pháp nâng cao chất lượng
giáo dục Trung học cơ sở thành phố Móng Cái giai đoạn 2014 đến 2020” viết
luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị- hành chính niên khóa 2013- 2014.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nâng cao chất
lượng giáo dục THCS.
6
Thứ hai, phân tích thực trạng giáo dục THCS thành phố Móng Cái giai
đoạn 2009- 2013.
Thứ ba, từ kết quả phân tích, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục THCS giai đoạn 2014- 2020 và đưa ra những
kiến nghị, đề xuất thực hiện các giải pháp đó.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng giáo dục THCS của thành phố
Móng Cái.
- Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá thực trạng giáo dục THCS thành phố
Móng Cái giai đoạn 2009- 2013, đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng
giáo dục THCS của Thành phố giai đoạn 2014- 2020.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của đề tài là những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về giáo dục và đào tạo.

không phải là yếu tố phi sản xuất mà là yếu tố bên trong cấu thành của nền
sản xuất xã hội. Thực tiễn cho thấy rằng không có quốc gia nào muốn phát
triển mà ít đầu tư cho giáo dục. Công cuộc chạy đua phát triển kinh tế của thế
giới hiện nay là cuộc chạy đua về khoa học và công nghệ, chạy đua về phát
triển giáo dục và đào tạo. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương
khóa VIII của Đảng ta đã nhấn mạnh: “Thực sự coi giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu; giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ là nhân tố
quyết định tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội; đầu tư cho giáo dục và đào
tạo là đầu tư phát triển. Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng
lợi phải đẩy mạnh phát triển giáo dục và đạo tạo vì giáo dục đào tạo có vai
8
trò quan trọng trong lĩnh vực sản xuất vật chất xã hội cũng như xây dựng nền
văn hóa” [6, tr.8].
Giáo dục và đào tạo không chỉ có vai trò quan trọng trên lĩnh vực sản
xuất vật chất mà còn là cơ sở để hình thành nền văn hóa tinh thần của chủ
nghĩa xã hội. Giáo dục có tác động vô cùng to lớn trong việc truyền bá hệ tư
tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa, xây dựng ý thực pháp quyền và ý thức đạo
đức, xây dựng nền văn hóa, văn học nghệ thuật, góp phần cơ bản vào việc
hình thành lối sống mới, nhân cách mới của toàn bộ xã hội. Đảng ta đã từng
xác định nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục đó là nhằm xây dựng con
người và thế hệ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hóa của dân tộc là những người kế thừa xây dựng chủ
nghĩa xã hội
Như vậy, giáo dục và đào tạo có tác dụng to lớn đến toàn bộ đời sống
vật chất và đời sống tinh thần của xã hội. Phát triển giáo dục và đào tạo là cơ
sở để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, chiến lược phát triển con
người của Đảng và Nhà nước ta.
1.1.2. Tầm quan trọng của giáo dục THCS

Việt, lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên,
pháp luật, Tin học, ngoại ngữ; có hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và
hướng nghiệp" [34, tr.9]. Vì vậy, việc trang bị kiến thức phải đảm bảo tính phổ
thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống, gắn với thực tiễn cuộc
sống, phù hợp tâm lý tuổi học sinh giai đoạn này rất quan trọng.
Theo tư duy hiện nay, để đi tắt đón đầu từ một nước kém phát triển thì
vai trò của giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ càng có tính quyết định.
Giáo dục phải đi trước một bước, thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo
10
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược
phát triển kinh tế xã hội. Giáo dục đào tạo đáp ứng nguồn nhân lực có chất
lượng cao, có kỹ năng vững vàng, có khả năng sáng tạo. Điều đó đòi hỏi phải
đổi mới về tư duy giáo dục ngang tầm với tư duy kinh tế và tư duy kỹ thuật.
Thế kỷ XXI là thế kỷ của công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức, có đòi
hỏi mỗi con người phải tích cực học tập để chiếm lĩnh tri thức về khoa học
công nghệ, về văn hóa. Bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI là: "học để biết",
"học để làm", "học để chung sống, học cách sống với người khác", "học để
khẳng định mình" đang được các nước quan tâm trong chiến lược phát triển
giáo dục, mà giáo dục phổ thông là nền tảng, trong đó giáo dục THCS có một
vị trí hết sức quan trọng, là điểm chốt căn bản, một bậc học được phổ cập tạo
tiền đề định hướng cho mỗi cá nhân trong quá trình phát triển phẩm chất, tài
năng. Vì vậy việc đầu tư và nâng cao chất lượng THCS là quan trọng và cần
thiết góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
1.2. Những yếu tố quy định chất lượng giáo dục THCS
Thực hiện tốt yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
cho học sinh, thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao về hưởng thụ giáo dục của xã
hội, từng bước để học sinh của trường có khả năng tiếp cận với các trường
học THCS có chất lượng tổ chức và quản lý trường học, cơ sở vật chất, đội
ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và các hoạt động xã hội trong trường học có vai

hiện đổi mới phương pháp dạy học: Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của người học thì học sinh là chủ thể, là trung tâm của sự giáo dục. Học sinh
cần có động cơ, thái độ học tập đúng đắn, chủ động, sáng tạo trong việc tiếp
thu kiến thức, thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức, thẩm mỹ, thể chất.
12
Luôn cải tiến phương pháp học tập, có ý thức phấn đấu vươn lên để đạt kết
quả cao nhất trong rèn luyện và học tập.
Muốn hoàn thành mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là trong
giai đoạn hiện nay khi toàn ngành giáo dục đang thực hiện chương trình đổi
mới nội dung, phương pháp dạy và học thì nhu cầu nâng cao cơ sở vật chất
giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa là vô cùng quan trọng và cấp
thiết. Cơ sở vật chất chủ yếu phục vụ cho các trường THCS phải đạt chuẩn
theo quy định như phòng học, bàn ghế, phòng chức năng, phòng thực hành,
phòng công vụ, thư viện, trang thiết bị dạy học
1.3. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng ta về giáo dục
1.3.1. Quan điểm Chủ nghĩa Mác- Lênin về giáo dục
Chủ nghĩa Mác chỉ ra rằng: Bản chất con người trong tính thực hiện
của nó là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Con người là sản phẩm của mối
quan hệ nói chung, trong đó có nhà trường là phương tiện, môi trường chủ
yếu hình thành nhân cách và trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức, phát triển
trí tuệ để con người hình thành năng lực bản thân và có năng lực phát triển
sáng tạo ra những tri thức về tự nhiên- xã hội. Giáo dục với tư cách là một bộ
phận của xã hội có nhiệm vụ đào tạo ra thế hệ tương lai. C.Mác khẳng định:
“Nền giáo dục tương lai, nó sẽ kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể
dục đối với tất cả những trẻ em trên một lứa tuổi nào đấy, coi đó không chỉ là
một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là một
phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện
nữa”
.

niên đầu của thế kỷ XX. Tại Đại hội Toàn Nga về công tác giáo dục lần thứ
nhất diễn ra vào ngày 28/8/1918, V.I.Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của
công tác giáo dục, coi đó là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo
thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nói:“ Sự
14
nghiệp của nhà trường chúng ta cũng là đấu tranh đánh đổ giai cấp tư sản;
chúng ta tuyên bố công khai rằng: nói nhà trường đứng ngoài cuộc sống,
ngoài chính trị, là nói dối và lừa bịp”

[25, tr 92 ]; “ Những người lao động
khao khát có tri thức, vì tri thức cần cho họ để chiến thắng. Chín phần mười
quần chúng lao động đã hiểu rõ rằng tri thức là một vũ khí trong cuộc đấu
tranh tự giải phóng của họ, rằng sở dĩ họ thất bại là do thiếu học thức; rằng
giờ đây việc làm cho mọi người có thể thực sự được học hành, là do bản thân
họ quyết định. Sự nghiệp của chúng ta sẽ thắng vì bản thân quần chúng đã bắt
tay xây dựng một nước Nga mới, xã hội chủ nghĩa.” [25, tr.92 ];
Một trong những điều kiện cơ bản, tiên quyết để nâng cao năng suất lao
động là phải nâng cao trình độ học vấn và văn hóa cho quần chúng nhân dân
lao động. Điều này, chỉ có thể thực hiện được và thực hiện đạt hiệu quả tối
ưu nhất là thông qua giáo dục và bằng giáo dục. Nhận thức một cách sâu sắc
tầm quan trọng của công tác giáo dục trong sự nghiệp chấn hưng đất nước
nên trong Dự thảo cương lĩnh của Đảng Cộng sản Nga tháng 2/1919 ở nội
dung nói về nền giáo dục quốc dân, V.I.Lênin viết: “Trong lĩnh vực giáo dục
quốc dân, Đảng Cộng sản Nga tự đặt cho mình nhiệm vụ phải hoàn thành sự
nghiệp cách mạng tháng Mười 1917 đã bắt đầu nhằm biến nhà trường từ một
công cụ thống trị giai cấp của giai cấp tư sản thành một công cụ để đập tan
nền thống trị đó, cũng như để hoàn toàn xoá bỏ sự phân chia xã hội thành giai
cấp. Nhà trường phải trở thành một công cụ của chuyên chính vô sản, nghĩa là
nhà trường không những phải truyền bá những nguyên lý của chủ nghĩa cộng
sản nói chung, mà còn phải là một công cụ truyền bá ảnh hưởng về tư tưởng,

1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, quan điểm về vai trò
của giáo dục trong việc phát huy nhân tố con người giữ vị trí hết sức quan
trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Hồ Chí Minh đối với con người, coi
16
con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định mọi thành công; con người
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Đó cũng là cơ sở
khoa học, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta trong nhận thức và hoạt
động xây dựng nền giáo dục Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh “Một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu”, dốt nát là nguyên nhân cơ bản của yếu hèn và sai lầm.
Dốt thì dại, dại thì hèn. Hồ Chí Minh coi dốt nát là một trong ba loại giặc cần
phải tiêu diệt (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm). Chính vì vậy, sau khi đất
nước vừa giành được độc lập, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ
lâm thời (03-9-1945), Hồ Chí Minh đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách của chính
quyền mới, trong đó có 2 nhiệm vụ về giáo dục, đó là “cần mở một chiến dịch
để chống nạn mù chữ” và “giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực
hiện: cần, kiệm, liêm chính” [18, tr.34]. Người chỉ rõ: Một trong những công
việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí, bởi không một quốc
gia nào có thể tiến hành xây dựng một chế độ xã hội mới và bảo vệ Tổ quốc
thành công trong điều kiện văn hóa, dân trí, đạo đức, tinh thần xã hội thấp
kém. Chưa đầy một tuần sau ngày độc lập, ba sắc lệnh quan trọng về giáo dục
đã được Người ký và ban hành: Sắc lệnh 17-SL, thành lập Nha Bình dân học
vụ, Sắc lệnh 19-SL, quy định mọi làng phải có lớp học bình dân, và Sắc lệnh
20-SL, cưỡng bách học chữ Quốc ngữ không mất tiền. Một nền giáo dục mới-
nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập được Người nêu rõ trong Thư gửi
các học sinh: “Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp
thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo
các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo
dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em… Non sông
Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài

18
tưởng, có đạo đức, có sức khỏe, có thẩm mỹ. Người nói: “Trong việc giáo dục
và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội
chủ nghĩa, văn hóa, khoa học- kỹ thuật, lao động và sản xuất” [22, tr.13].
Trong hoàn cảnh đất nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược,
vừa có chiến tranh, vừa có hòa bình, Hồ Chí Minh càng coi trọng vai trò của
giáo dục. Người nói: “không có giáo dục, không có cán bộ, thì cũng không
nói gì đến kinh tế, văn hóa” [20, tr.13]. Đối với người cán bộ cách mạng, Hồ
Chí Minh càng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục, bởi cán bộ là cái
gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt
hay cán bộ kém. Nội dung giáo dục cho cán bộ bao gồm: Giáo dục lý luận
chính trị; giáo dục văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ; giáo dục phong cách, đạo
đức cách mạng. Giáo dục lý luận chính trị có ý nghĩa rất quan trọng vì nó
trang bị cho người học lập trường giai cấp vô sản vững chắc, tin tưởng vào sự
nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, và định hướng cho hành động của
con người. Hồ Chí Minh nói: Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt
mà đi; “Không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy
rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”,
thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng” [19, tr13].
Tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kế thừa, tiếp thu có
chọn lọc, sáng tạo và phê phán từ các tiền đề: Chủ nghĩa yêu nước, truyền
thống văn hóa, giáo dục và tinh thần nhân ái Việt Nam; triết lý giáo dục
phương Đông, đặc biệt là triết lý nhân sinh của Nho, Phật Lão; những tư
tưởng tiến bộ thời kỳ cận đại. Nhưng tiền đề quan trọng nhất, cái tạo nên sự
phát triển về chất trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí minh là chủ nghĩa Mác-
Lênin. Trên cơ sở đó và cùng với quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng
sinh động, phong phú của mình, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm hết sức
sâu sắc và mới mẻ về vai trò, mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục.
19
Nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả

những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gìn giữ và phát huy các
giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng
và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ
hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công
nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khoẻ, là những người kế thừa xây
dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" như lời căn dặn của Bác Hồ.
Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng đinh: "Phát triển giáo
dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người,
yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững"
"Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương
pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện
chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và
sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học
vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những
hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện "giáo dục cho
mọi người", "cả nước trở thành một xã hội học tập”, thực hiện phương châm
"học đi đôi với hành", giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn
với xã hội.
Để cụ thể nội dung đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển giáo
dục một cách tổng thể và toàn diện, bắt đầu từ chủ trương phát triển giáo dục
21
mầm non, thực hiện xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ
sở trên phạm vi cả nước, tạo môi trường thuận lợi để cho mọi người học tập
và học tập suốt đời. Điều hành hợp lý cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ
cấu vùng trong hệ thống giáo dục và đào tạo, quan tâm đào tạo đội ngũ công
nhân kỹ thuật lành nghề, hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế, thực hiện tốt

khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là " Đổi mới
những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến
mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm
thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến
hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục- đào tạo và việc tham gia của
gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các
bậc học, ngành học” [13, tr 3].
Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát
triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới;
kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo
đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp
học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình,
bước đi phù hợp.
1.3.4. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng giáo dục THCS trong
giai đoạn hiện nay
Xây dựng một nền giáo dục có tính thực tiễn và hiệu quả cao, tạo bước
phát triển mạnh mẽ về chất lượng, đưa nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các
nước phát triển trong khu vực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển
kinh tế xã hội của địa phương và đất nước.
23
Muốn đánh giá chất lượng một sản phẩm nào đó, người ra phải biết
được mục đích của sản phẩm, sản phẩm đó được đặc trưng bởi bao nhiêu tiêu
chuẩn, tiêu chí, chỉ số. Sau đó, người ta xem xét, đối chiếu với từng tiêu
chuẩn, tiêu chí thì sản phẩm đó đạt ở mức độ bao nhiêu; từ đó mới có thể đưa
ra kết luận về chất lượng của sản phẩm. Cũng giống như việc đánh giá các sản
phẩm, việc đánh giá sản phẩm chất lượng giáo dục cũng phải dựa vào các tiêu
chuẩn, tiêu chí. Nếu không có chuẩn mực thì không thể đánh giá được chất
lượng giáo dục. Chất lượng giáo dục phản ánh mức độ thực hiện mục tiêu
giáo dục, nội dung phương pháp giáo dục, quá trình tổ chức và thực hiện hoạt

0
43' đến 108
0
40' kinh độ Đông, địa giới
trải rộng, ngoài phần đất liền chiếm 85%, hải đảo 15% còn có 71% diện tích
đất đồi núi, 50 km đường bờ biển. Phía Đông và Đông Nam của Móng Cái
giáp với huyện Cô Tô và vịnh Bắc Bộ, ở phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Hải
Hà, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh, đồng thời giáp thành phố Đông Hưng,
thuộc tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc ở phía Bắc và Đông Bắc với 70km
đường biên giới. Móng Cái có nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng trong nước
và thế giới, nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú.
2.1.2. Tình hình kinh tế- xã hội
Móng Cái có 17 đơn vị hành chính (gồm 8 phường, 9 xã) với trên 10
vạn dân, trong đó hơn 3 vạn dân tạm trú (điều tra dân số năm 2012).
Trong những năm qua, thành phố tiếp tục được Trung ương Đảng,
Chính phủ, Tỉnh quan tâm ban hành nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi và ưu
tiên vốn ngân sách tập trung đầu tư xây dựng Móng Cái trở thành khu kinh tế
trọng điểm của Tỉnh trước năm 2015. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị
với đường lối mở cửa, thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ
hợp tác đối ngoại, Móng Cái đã đón nhận thời cơ, vận hội vững buớc phát
triển đi lên, từng bước phát huy các tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế
xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh phát triển các
25

Trích đoạn Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Về chuyên môn dạy và học Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, kiểm định và đánh giá các cơ sở giáo dục Tham mưu với UBND thành phố, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Hội nghị với các doanh nghiệp, với các tổ chức, cá nhân có nhiều
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status