VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN III
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KH&CN
ĐIỀU TRA NGUỒN LỢI VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC,
SỬ DỤNG HẢI SÂM Ở VÙNG BIỂN VIỆT NAM CNĐT : VŨ ĐÌNH ĐÁP 9339
Th
ực hiện khảo sát thu mẫu phân tích đăc điểm sinh học, sinh thái, phân bố, mật
độ, sinh khối, trữ lượng nguồn lợi hải sâm ở các vùng nghiên cứu. Thực hiện khảo sát
trong hai năm, mỗi năm khảo sát hai đợt (mùa mưa và mùa khô). Mỗi vùng nghiên cứu
khảo sát 20 trạm, vị trí của mỗi trạm khảo sát theo bản đồ đã được xác định.
Định danh các loài hải sâm thu được trong quá trình điều tra: Các mẫu thu được từ
các chuyến khảo sát sẽ được bảo quản đưa về để định danh loài. Định danh dựa vào hình
thái bên ngoài, những loài khó định dạng dựa vào phân tích tiêu bản.
ii
Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái học của hải sâm ở vùng biển Việt
Nam: Lấy kết quả từ các chuyến khảo sát ở các vùng nghiên cứu và giải phẫu các mẫu thu
được từ quá trình khảo sát để phân tích đặc điểm sinh học.
Thu thập số liệu về chiều dài và trọng lượng của các loài hải sâm có giá trị kinh tế
ở các vùng nghiên cứu để phục vụ cho ước tính trữ lượng t
ức thời bằng phương pháp
VPA: Thu thập số lượng mẫu hải sâm có giá trị kinh tế tại các bến cá và nậu vựa ở các
vùng nghiên cứu.
Xây dựng tập bản đồ phân bố cho các đối tượng nghiên cứu chính ở từng khu vực
lựa chọn nghiên cứu: Sử dụng kết quả của các chuyến khảo sát.
Đề xuất các biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi hải sâm ở
vùng biển Việt Nam.
Sử dụng các giống hải sâm cát sinh sản nhân tạo đánh dấu và thả nuôi ngoài tự
nhiên với các kích cỡ khác nhau. Sử dụng kết quả nuôi hải sâm cát trong ao đất của đề tài
nuôi hải sâm cát thương phẩm do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3 chủ trì.
Đề xuất phương hướng và biện pháp bảo vệ, tái tạo các loài hải sâm có giá trị
thương mại: Phân tích các kết quả nghiên cứu trên đưa ra các phương h
ướng và biện pháp
tái tạo các loài hải sâm có giá trị thương mại.
Kết quả thực hiện của đề tài
c từ quá trình khảo
sát để phục vụ cho ước tính trữ lượng bằng phương pháp VPA là rất ít. Vì vậy
phải chuyển sang thu mẫu từ các bến cá và chủ nậu vựa thu mua hải sâm.
- Đánh dấu các cá thể hải sâm có giá trị thương mại bắt được trong quá trình
khảo sát không thực hiện được. Cho nên chúng tôi tiến hành đánh dấu trên cá
thể hải sâm cát thả nuôi ngoài tự nhiên.
- Các địa phương không thực hiện việ
c thống kê sản lượng các loài hải sâm khai
thác nên chỉ tính được sản lượng khai thác tối ưu cho nguồn lợi hải sâm.
Những khó khăn và hạn chế trên đã phần nào ảnh hưởng đến kết quả chung của Đề tài.
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hải sâm (lớp Holothuroidea) là một trong 5 lớp thuộc ngành động vật Da gai
(Echinodermata) có thành phần loài phong phú, trên thế giới đã phát hiện được khoảng
trên 1.400 loài hải sâm (Rowe & Gates, 1995; Kerr & Kim, 2001), trong đó loài có giá trị
thương mại cao hiện đang được khai thác sử dụng làm thực phẩm và dược phẩm khoảng
52 loài (Choo, 2008). Do hải sâm có giá trị sử dụng cao, nên nguồn lợi hải sâm đã và
đang bị khai thác quá mức ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới (FAO, 1990; Richards
bảo vệ các loài hải sâm. Nhưng trong thực tế do thiếu các thông tin nên rất khó xác định
các công cụ phân tích, đánh giá để có thể đưa ra một cách tiếp cận quản lý phù hợp nhất.
Chính vì vậy, việc khai thác quá mức và sự suy giảm nguồn lợi hải sâm vẫn đang tiếp tục
xảy ra ở nhiề
u vùng biển trên thế giới. Cũng từ hội thảo này nhiều hướng nghiên cứu đã
được đưa ra là: (i) Xác định các tham số sinh trưởng, tử vong và sự bổ sung quần đàn hải
sâm; (ii) Kích thước tối thiểu tham gia sinh sản; (iii) Sinh thái học loài hải sâm; (iv) Hiệu
quả của các khu bảo tồn và các phương pháp quản lý; (v) Mô tả quần thể; (vi) Phân loại;
(vii) Tái tạo nguồn lợi.
Ở Việt Nam, hải sâm là một trong những nhóm nguồn lợ
i hải sản quan trọng, có
mức độ phong phú về thành phần loài (theo Đào Tấn Hổ, 1991 đã thống kê được 53 loài
động vật thuộc lớp hải sâm ở vùng biển phía Nam Việt Nam), trong đó có nhiều loài có
giá trị kinh tế cao (khoảng 9 loài) đã được khai thác với sản lượng lớn (trong những năm
của thập kỷ 20). Tuy nhiên trong những năm gần đây, nguồn lợi hải sâm đã và đang có
chiều hướng suy gi
ảm nhanh chóng do việc khai thác quá mức, chưa có biện pháp quản lý
và sử dụng hợp lý nguồn lợi. Tại Phú Quốc sản lượng khai thác hải sâm trong những năm
thập kỷ 20 ước đạt trung bình khoảng 3000 – 4000 kg/ngày. Trong những năm gần đây, sản
lượng khai thác trung bình giảm nhiều, khoảng 90% (300 – 400 kg/ngày) (Nguồn: Báo
TTXVN, 2003). Nhiều loài hải sâm có nguy cơ tuyệt chủng hoặc đe dọa bị tuyệt chủng đã
được liệt kê trong danh mục nhữ
ng loài cần được bảo tồn (Sách đỏ Việt Nam, 2000).
Mặc dù hải sâm có giá trị kinh tế cao, nhưng có thể nói cho đến nay chưa có một
chương trình điều tra, nghiên cứu nào riêng về nguồn lợi hải sâm. Các công trình nghiên
cứu liên quan đến nguồn lợi hải sâm chủ yếu thu thập kết hợp từ các chuyến điều tra nguồn
lợi hải sản nói chung và thực hiện từ trước những năm 1990. Do đó, ch
ưa có đầy đủ cơ sở
khoa học cho việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi hải sâm ở vùng biển Việt Nam.
Mặt khác, các thông tin đã thu thập được về nguồn lợi hải sâm chủ yếu là thống kê
4
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Tạo cơ sở khoa học cho việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi hải sâm ở
vùng biển Việt Nam.
III. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tập trung chủ yếu vào các loài hải sâm có giá trị kinh tế -
thương mại và đang bị áp lực mạnh về khai thác, nhữ
ng loài khác chỉ ghi nhận các
thông tin về đặc điểm tình hình phân bố.
- Địa điểm nghiên cứu:
Điều tra tình hình khai thác, chế biến và tiêu thụ hải sâm ở các tỉnh:
Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Trị, Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa-
Vũng Tàu, Kiên Giang và TP. Hồ Chí Minh (tại TP. Hồ Chí Minh chỉ thực hiện điều tra
tình hình chế biến và tiêu thụ Hải sâm).
Điều tra nguồn lợi hải sâm ở vùng biển Vi
ệt Nam:
Dựa trên các kết quả phân tích tổng hợp về hệ sinh thái, phân bố, thành phần loài
hải sâm chúng tôi lựa chọn các khu vực sau đây để tiến hành điều tra, đánh giá nguồn lợi
hải sâm, bao gồm (xem phụ lục 1):
ần loài hải sâm đã được nghiên cứu trước kia.
Tiến hành khảo sát nhanh theo phương pháp Manta Tow để xác định các trạm khảo
sát, thu mẫu.
- Sử dụng các thống kê khai thác để xác định chỉ số CPUE (Năng suất khai thác /số cá thể
do một người lặn bắt trong 1 giờ) nhằm làm cơ sở cho việc đánh giá nguồn lợi và tình
hình khai thác.
- Sử dụng các thiết bị máy quay phim và chụp ảnh dưới nước để ghi nhận các thông tin
liên quan đến tình hình phân bố, sinh cảnh, thành phần loài,… phục vụ công tác nghiên
cứu đánh giá nguồn lợi hải sâm.
- Cách tiếp cận đánh giá nguồn lợi hải sâm bằng phương pháp lặn điều tra theo mặt cắt
của Hodg son & Waddell, 1997 và English et al. 1997 cùng với sử dụng một số kỹ thuật
thu mẫu định lượng của Stoddart và Johannes (1978).
- Cách tiếp cận đánh giá trữ lượng tự nhiên bằng phương pháp chủng quần ảo (VPA):
Trữ
lượng hải sâm tự nhiên tính theo phương pháp chủng quần ảo (VPA) được áp
dụng công thức: B = SUM [N(Li, Li + 1)*W(Li, Li+1)]. Do vậy để tính toán được trữ
lượng tự nhiên, cần xác định được số cá thể trung bình tồn tại trong các nhóm chiều dài
và khối lượng trung bình của các nhóm chiều dài.
Các nhóm chiều dài (theo nhóm tuổi t) được xác định dựa trên kết quả phân tích
phân bố tần xuất các nhóm chiều dài của quần thể trong tự nhiên, kết quả tính toán xác
6
định các nhóm chiều dài dựa trên phần mềm FISAT với điều kiện số mẫu đo chiều dài đủ
lớn, mỗi nhóm chiều dài phải đo khoảng trên 30 mẫu. Dựa trên kết quả đo kích thước của
các cá thể thu được ngoài tự nhiên, có thể tính toán được số lượng cá thể phân bố trong
mỗi nhóm chiều dài.
Khối lượng trung bình của các nhóm chiều dài: dựa trên kết quả đo khối lượng củ
a
từng cá thể phân bố trong mỗi nhóm chiều dài, khối lượng trung bình của mỗi nhóm
chiều dài bằng tổng khối lượng đo được chia cho số lượng cá thể nghiên cứu.
BVNLTS, Phòng Thuỷ sản các huyện, thị, ), các thông tin thu thập bao gồm:
+ Thực trạng khai thác hải sâm: Ngư cụ, mùa vụ khai thác, sản lượng, kích cỡ, thành
phần loài, số lượng tàu thuyền, số lượng ngư dân khai thác,…;
+ Tình hình chế biến hải sâm: Nhu cầu, số lượng hả
i sâm chế biến qua các năm ở dạng
tươi và khô, các hình thức chế biến, dạng sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm sau chế biến, ;
+ Tình hình sử dụng hải sâm: Thị trường và các hình thức tiêu thụ hải sâm, nhu cầu
về sản phẩm, giá bán, các hình thức sử dụng, số lượng hải sâm xuất khẩu, nhu cầu và tiềm
năng của thị trường ngoài nước,
Điều tra phỏng v
ấn trực tiếp ngư dân, các cơ sở tham gia chế biến, tiêu thụ hải sâm ở
Việt Nam:
Thiết kế các biểu mẫu điều tra theo từng đối tượng và nội dung thông tin (khai
thác, chế biến và tiêu thụ hải sâm). Các nội dung phỏng vấn được chuẩn bị trước theo
mục tiêu của đề tài.
Số lượng phiếu điều tra trực tiếp cho mỗi nhóm thông tin là: 50 phiếu/nhóm thông
tin (khai thác, chế biến và tiêu thụ
hải sâm).
Các địa phương thực hiện điều tra bao gồm: Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Trị,
Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kiên Giang, và TP. Hồ Chí
Minh (tại TP. Hồ Chí Minh chỉ thực hiện điều tra tình hình chế biến và tiêu thụ hải sâm).
¾ Hoạt động điều tra trên biển:
Điều tra khảo sát thực tế trên tàu khai thác hải sâm của ngư dân để xác định các
thông tin về kỹ thuật khai thác, s
ản lượng khai thác, ngư trường, mùa vụ khai thác, thành
phần loài, kích cỡ khai thác, hiệu quả khai thác,
Các nghề khai thác điều tra: Lặn bắt hải sâm và nghề khai thác lẫn hải sâm. Thời
gian điều tra khảo sát trực tiếp trên biển (trên tàu của ngư dân): Mỗi năm thực hiện 2
chuyến điều tra (mỗi chuyến 6 ngày/tỉnh) vào mùa vụ chính và mùa phụ tại 8 tỉnh trong
cả nước.
English et al. 1997 ở các khu vực hệ sinh thái khác nhau.
Tại các điểm nghiên cứu sử dụng máy quay phim, chụp ảnh dưới nước để ghi nhận
các thông tin liên quan đến đặc trưng sinh cảnh nơi phân bố của từng loài hải sâm. Các
thông tin liên quan đến địa điểm khảo sát (vị trí, thời gian,…) được mô tả và ghi chép đầy
đủ vào sổ nhật ký thực địa làm cơ sở cho việc lập bản đồ phân bố sau này. Các dữ liệu
được ghi lại trên boong tàu, vị trí các mặt cắt (điểm khảo sát) được xác định bằng máy
định vị cầm tay (GPS).
9
Tất cả các loài hải sâm thuộc nhóm có giá trị kinh tế được quan sát và ghi nhận
trực tiếp dưới nước hoặc trên boong tàu (thành phần loài, đo kích thước, khối lượng, và
chụp ảnh các mẫu vật). Đối với những loài chưa xác định được, chú thích chi tiết trong
quá trình điều tra và thu mẫu phân loại trong phòng thí nghiệm.
Thời gian khảo sát thu mẫu: 2 năm (2008 - 2009): Mỗi năm tiến hành 2 chuyến
khảo sát tại mỗi vùng nghiên cứu. Thực hiệ
n khảo sát thực địa và thu mẫu vào 2 đợt trong
mùa khô (tháng 5 - 6) và mùa mưa (tháng 9 – 10) tùy thuộc vào điều kiện thời tiết của
từng khu vực cụ thể.
Thu mẫu hải sâm tại các khu vực nghiên cứu để phân tích xác định các chỉ tiêu
sinh học sinh trưởng (về khối lượng, chiều dài, mối quan hệ giữa khối lượng và chiều dài
theo các nhóm kích thước khác nhau, ) nhằm phục vụ công tác nghiên cứu đánh giá
nguồn lợi hải sâm (sử d
ụng cho phương pháp VPA).
Cơ sở khoa học để xác định các đối tượng nghiên cứu chính đó là:
+ Các loài hải sâm có giá trị kinh tế: Các chỉ tiêu đánh giá loài hải sâm có giá trị kinh tế:
- Được sử dụng làm thực phẩm hoặc dược phẩm rộng rãi
- Đang được tiêu thụ trên thị trường trong hoặc ngoài nước
+ Các loài hải sâm đang bị áp lực mạnh về khai thác (có nguy cơ tuyệt chủng).
Bảng 1: Danh sách các loài hải sâm điều tra nghiên cứu
TT Tên khoa học TT Tên khoa học
khai thác).
Thu mẫu hải sâm tại các vùng nghiên cứu để tiến hành định loại. Các mẫu hải sâm
không thể định loại được tại hiện trường sẽ được bảo quản và gửi đến Viện Hải Dương
Học phân tích định lo
ại.
a. Nghiên cứu đánh giá đa dạng thành phần loài, đặc điểm sinh học - sinh thái, phân
bố của một số loài hải sâm có giá trị kinh tế
Phương pháp định dạng đối với mẫu thu được từ các chuyến khảo sát: Các loài hải
sâm được định loại ngay tại hiện trường dựa vào hình thái bên ngoài theo tài liệu của Đào
Tấn Hỗ và các tài liệu của Gosliner et al. (1996), Colin & Ameson (1995), Allen et al.
(1994), Clark & Rowe (1971). Các loài định dạnh ngoài hiện trường
được chụp ảnh, cố
định mẫu đưa về kiểm định lại tên loài bởi chuyên gia Đào Tấn Hỗ. Một số loài không thể
định loại ngay được cũng tiến hành thu mẫu, chụp ảnh, tại mỗi vị trí bắt gặp thu 2-3 mẫu
đặc trưng, bảo quản trong cồn 90
0
, dán nhãn, trên các nhãn ghi ký hiệu địa điểm thu mẫu,
ngày tháng thu, nơi thu sau đó đem về Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III định
dạng. Tại Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III chỉ định dạng được một số loài quen
thuộc còn lại các mẫu chuyển về Viện Hải Dương Học xác định. Tên loài hải sâm sau khi
định loại tại hiện trường và Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III đều được giám định
lại tại Viện hải Dương Học (do chuyên gia Đào Tấn Hỗ giám định). Các mẫu lưu trữ tại
phòng mẫu Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3.
Phương pháp định dạng đối với những mẫu thu được từ các chuyến điều tra trên
bờ: Cách xác định tên loài cũng tương tự như thu từ các chuyến khảo sát chỉ khác ở chỗ
mẫ
u thu được chụp trên bờ, các mẫu sau khi chụp ảnh cũng được bảo quản trong cồn 90
0
và dán nhãn, trên các nhãn cũng ghi đầy đủ các thông tin như ký hiệu mẫu, nơi thu, ngày
M
i-j
= N
i-j
* W
i
M
i-j
= Sinh khối trung bình của loài thứ i trong sinh cảnh thứ j
W
i
= Khối lượng trung bình của loài hải sâm thứ i
i = 1 → 9 (1= Holothuria atra, 2 = H. edulis, 3 = H. leucospilota, )
j = 1→ 4 (1= Sinh cảnh rạn san hô, 2= Thảm thực vật, ).
c. Nghiên cứu ước tính trữ lượng quần thể của một số loài hải sâm có giá trị kinh tế
¾ Ước tính trữ lượng tức thời bằng phương pháp diện tích (điều tra theo mặt cắt):
Trữ lượng quần thể tức thời của m
ột số loài hải sâm có giá trị kinh tế theo sinh
cảnh được ước tính thông qua mật độ phân bố trung bình của nó ở các vùng nghiên cứu
và được tính toán theo công thức sau:
12
T
i-j
= A
j
* N
i-j
* W
Trong đó: L
t
, W
t
: chiều dài và trọng lượng ở tuổi t
L
∞,
W
∞
: chiều dài, khối lượng tối đa giả thuyết
K: hệ số sinh trưởng
t
0
tuổi cá thể ở chiều dài 0
t : là tuổi của cá thể có chiều dài đo được ở thời điểm nghiên cứu
Cách xác định tuổi cá thể (t):
Giá trị t được xác định dựa trên kết quả phân tích phân bố tần suất các nhóm chiều
dài của quần thể trong tự nhiên, kết quả tính toán dựa trên phần mềm FISAT với điều kiện
số mẫu đo chiều dài đủ lớn (mỗ
i nhóm chiều dài đo khoảng trên 30 mẫu).
- Xác định mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng:
W = aL
b
hay logW = loga + blogL (Với: y = log W; a = log a; x = log L)
Trong đó: a và b là hằng số được tính theo phương pháp hồi quy:
()
()
n
xb
Trữ lượng hải sâm tự nhiên tính theo phương pháp chủng quần ảo, áp dụng công thức:
B = SUM [N(Li, Li + 1)*W(Li, Li+1)]
Trong đó: N(Li, Li + 1) là số cá thể trung bình tồn tại trong nhóm chiều dài Li và Li+1
W(Li, Li+1) là khối lượng trung bình nhóm chiều dài Li và Li+1
- Ước tính ngưỡng khai thác hợp lý:
+ Áp dụng mô hình Schaefer để xác định sản lượng khai thác hợp lý: Y=a*f + b*f
2
Trong đó: Y- sản lượng khai thác hợp lý
f- cường lực khai thác
d. Lập bản đồ sinh cảnh, phân bố hải sâm
Những số liệu liên quan đến việc xây dựng bản đồ phân bố hải sâm được các cán
bộ khoa học (quan sát viên) thu tại chỗ khi lặn, dùng các hình ảnh được chụp và quay lại
dưới biển, Sử dụng các kỹ thuật thông tin khác trong quá trình xây dựng bản đồ (như
GIS, GPS, ). Bản đồ phân bố h
ải sâm sẽ được xây dựng cho từng khu vực nghiên cứu.
4.3. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi hải sâm ở
Việt Nam
- Nghiên cứu khả năng và biện pháp tái tạo nguồn lợi các loài hải sâm có giá trị kinh tế:
Sử dụng và kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan đến đặc điểm sinh học, sinh
sản của hải sâm cát (trong môi trường tự nhiên và ao
đất) để làm cơ sở phân tích đánh giá
khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống sót và đề xuất biện pháp tái tạo nguồn lợi.
Thử nghiệm thả và đánh giá khả năng sống ngoài tự nhiên và phát tán ra môi
trường xung quanh loài hải sâm cát tại vùng biển Khánh Hòa.
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý nguồn lợi hải sâm:
Dựa vào các kết quả nghiên cứu về thực trạng khai thác, đặc trưng phân bố, đặc
điểm sinh thái-sinh học của các loài hải sâm, trữ lượng quần thể và ngưỡng khai thác bền
vững nguồn lợi hải sâm,… Đề tài đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý như: Quy định
mùa vụ khai thác, sản lượng khai thác tối đa cho phép, kích cỡ khai thác hợp lý, ngư cụ và
i
*log(P
i
))
Chỉ số đồng đều Pielou: J’=H’/log(S)
Trong đó: S là tổng số loài, N là tổng số cá thể, P
i
là xác suất bắt gặp của loài thứ i.
- Chiều dài tối đa (L
∞
), khối lượng tối đa (W
∞
), tuổi khi chiều dài cá thể bằng 0 (t
0
) được
tính toán trên phần mềm chuyên dụng FISAT 2.
15
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học – sinh thái, đặc trưng phân bố của một số
loài hải sâm có giá trị kinh tế ở các khu vực nghiên cứu
Qua các chuyến khảo sát dưới biển tại 11 vùng nghiên cứu, đề tài đã thu được 9 loài
hải sâm có giá trị kinh tế. Việc lựa chọn các loài có giá trị kinh tế được sàng lọc qua điều
tra ngư
dân, tại các điểm thu mua và chế biến hải sâm. Ngoài ra còn tham khảo các tài
liệu đã nghiên cứu trước đây như của Conand (1990), Đào Tấn Hỗ (2006) Các loài có
giá trị kinh tế được xếp theo hệ thống phân loại trong danh sách sau đây:
Ngành Da gai Echinodermata
Lớp Hải sâm Holothuroidea
Bộ Aspidochirotida
- Độ mặn thích hợp từ 30 - 33‰, phân bố nhiều hơn ở độ mặn 30‰.
1.1.3. Đặc điểm sinh học
4.5. Kích thước cơ thể
Cơ thể có dạng hình trụ kéo dài, 2 đầu tròn, dài trung bình 28,7cm và đường kính
từ 60mm. Hải sâm da trăn có khối lượng lớn, có thể đạt tới 2,5kg, đây là loài hải sâm có
giá trị kinh tế rất cao, giá trị sau khi chế biến khoảng 250,000 - 300,000đ/kg.
Bảng 2: Các chỉ số của cơ thể của hải sâm da trăn
Các chỉ số N
(số mẫu)
X (giá trị trung bình)
Chiều dài cơ thể 04 28,7cm
Đường kính cơ thể 04 6cm
Khối lượng tươi của cơ thể 04 535 gam
Độ dày thành cơ thể tươi 04 0,41cm
Khối lượng vách cơ thể tươi 04 385,5gam
Chiều dài ruột/Chiều dài cơ thể tươi 04 2,80 lần
Kích thước trưởng thành sinh dục 04 20cm
4.6. Đặc điểm hình thái cấu tạo ngoài
Khi sống có màu nâu, xám đục hoặc hơi tím. Đặc biệt trên lưng mang những đốm
vòng tròn hoặc kéo dài và có chấm đậm ở trung tâm trông giống hình con mắt, những
đốm tròn này có màu sắc tương phản với thân, được xếp gần như thành những băng dọc.
Mặt lưng mang rải rác những gai thịt nhỏ xếp không đều. Mặt bụng màu vàng nhạt mang
nhiều chân ống màu đậm. Hả
i sâm da trăn rất đa dạng về màu sắc trên cơ thể, các hoa văn
trên cơ thể không giống nhau nhưng nhìn chung đều là các hình tròn hay hình bầu dục
phân bố khắp cơ thể, màu sắc của hải sâm da trăn chủ yếu là màu vàng nhạt với những
17
khoang hình màu trắng, màu nâu vàng, nâu sậm. Mặt bụng của hải sâm trăn đa số thường
có màu trắng và cũng có những khoang màu giống với phần lưng nhưng hơi nhạt hơn.
Hình 2: Cấu tạo nội quan bên trong của Hải sâm da trăn
18
rất nhiều cát và các mảnh vụn san hô nhỏ, chiều dài của ruột có thể dài gấp 2,80 lần chiều
dài cơ thể. Ruột phân thành hai phần khác nhau là ruột trước và ruột sau, ở ruột trước
chứa dịch màu vàng nâu hay vàng nhạt.
¾ Thức ăn
Kết quả phân tích dạ dày của hải sâm
da trăn chủ yếu là cát đá sỏi nhỏ, san hô
vụn, một số động vật đáy có kích thước nhỏ
như zoopankton. Thức ăn chứa đầy trong dạ
dày và ruột, do thành ruột của hải sâm rất
mỏng, chỉ cần tác động nhỏ cũng đủ để làm
rách thành ruột của hải sâm. Theo người
dân, hải sâm da trăn chủ yếu sống ở độ sâu
từ 10 đến 20m nơi có nhiều cát đá sỏi nhỏ,
còn hải sâm ngận sống ở độ sâu nông hơn, nơi có nhiều đáy cát bùn nhiều h
ơn.
¾ Hệ hô hấp
Cây hô hấp khá lớn, nằm dọc cơ
thể có điểm xuất phát từ vách cơ phía
cuối cơ thể, có màu nâu sẫm, dính với
một phần ruột và vách cơ thể. Cơ quan
hô hấp phân làm nhiều nhánh khác nhau,
thường bị trôi ra ngoài cùng với ruột và
một số bộ phân khác khi bị bắt lên.
¾ Hệ sinh dục
Tuyến sinh dục của Hải sâm da trăn có màu trắ
ng trong ở giai đoạn nhỏ và màu
trắng đục ở giai đoạn trưởng thành, bao gồm nhiều ống nhỏ và tạo thành từng búi và nằm
1.1. Bohadschia graeffei (Hải sâm chấm đen)
1.1.1. Phân bố
Ở Việt Nam Bohadschia graeffei phân bố ở Phú Yên, Khánh Hòa, Thuận Hải,
Minh Hải, Phú Quốc, Thổ Chu. Hiện nay, qua điều tra thực địa, chúng được bắt gặp ở
vịnh Vân Phong – Khánh Hòa và một địa điểm mới là đảo Phú Quý. Ở vịnh Vân Phong,
mật độ phân bố của chúng cao hơn ở đảo Phú Quý.
1.1.2. Điều kiện sinh thái
- Nền ch
ất đáy: Qua khảo sát thực địa, Bohadschia graeffei chỉ xuất hiện tại 2/20 mặt cắt
ở vịnh Vân Phong và 1/20 mặt cắt tại Phú Quý. Như vậy, tần số bắt gặp chúng trên các
mặt cắt khảo sát tại các vùng nghiên cứu là rất thấp. Chúng sinh sống trên rạn san hô, trên
đá cứng hoặc trên các sinh cảnh rong biển.
- Độ sâu: Theo những nghiên cứu trước đây Bohadschia graeffei thường sống ở độ sâu từ
5 - 10m, kết qu
ả nghiên cứu lần này cho thấy: chúng sống ở độ sâu từ 5 - 18m.
- Độ mặn thích hợp từ 32 - 34‰.
1.1.3. Đặc điểm sinh học
a. Kích thước cơ thể
Bảng 1: Các chỉ số của cơ thể của Hải sâm chấm đen
Các chỉ số
N (số mẫu)
X(giá trị trung bình)
Chiều dài cơ thể 05 25,3cm
Đường kính cơ thể 05 6,5cm
Khối lượng tươi của cơ thể 05 750g
Độ dày thành cơ thể tươi 05 0,4cm
Khối lượng vách cơ thể tươi 05 680g
Chiều dài ruột/Chiều dài cơ thể tươi 05 2,6 lần
Kích thước trưởng thành sinh dục 05 19,8cm
sinh
d
ụ
c