Tiểu luận cuối khóa Lớp QLNN chương trình chuyên viên khóa I-
2010
LỜI MỞ ĐẦU
Đất đai là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc. Tư liệu sản xuất đặc biệt,
một trong những nguồn nội lực quan trọng hàng đầu, là cơ sở kinh tế để đảm bảo
sự phát triển bền vững của đất nước. Nó là thành quả lao động sáng tạo, đấu tranh,
bảo vệ, bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ cha ông ta.
Chính vì lẽ đó, Hiến pháp và Pháp luật nước ta đã xác định đất đai thuộc sở
hữu tòan dân. Điều 18 Hiến pháp 1992 qui định: “Nhà nước thống nhất quản lý
tòan bộ đất đai theo qui họach và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và
có hiệu quả”. Điều 5 Luật đất đai 2003 qui định: “Đất đai thuộc sở hữu tòan dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất
đai…”.
Trong quá trình điều hành và quản lý về đất đai, mặc dù các cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền có rất nhiều cố gắng nhưng trong thực tế lại nảy sinh rất nhiều
vấn đề cần giải quyết, trong đó giải quyết những vấn đề tranh chấp, khiếu nại về
đất đai là vấn đề phức tạp, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết triệt để,
đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý, hiệu quả, hạn chế tối đa những xung đột, bức xúc,
không công bằng, xáo trộn cuộc sống của người dân, nhằm đảm bảo an ninh trật tự,
an tòan xã hội, củng cố sự đòan kết, tình làng nghĩa xóm, lòng tin của nhân dân đối
với Đảng và Nhà nước.
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đảm bảo trật tự kỷ cương
phép nước, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đòi hỏi việc giải
quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai phải được tiến hành một cách thận trọng,
đúng Pháp luật. Đồng thời, yêu cầu các chủ thể áp dụng phải có kiến thức vững
Người thực hiện :Phan Thị Hồng Hạnh Trang 1
Tiểu luận cuối khóa Lớp QLNN chương trình chuyên viên khóa I-
2010
vàng về pháp luật, hành chính, tôn trọng qui trình về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
ban hành các quyết định giải quyết khiếu nại…
đối với Quyết định số 112/QĐ-UBND ngày 20/9/2008 của UBND huyện về chính
sách bồi thường, hỗ trợ do bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp LG của ba
hộ dân thuộc diện bị thu hồi đất là: hộ ông Nguyễn Văn S, hộ bà Nguyễn Thị T và
hộ ông Trương Văn P, hiện cư ngụ tại xã TL, huyện TP, tỉnh Tiền Giang.
Nội dung trong ba đơn khiếu nại như sau: Để xây dựng khu công nghiệp LG,
UBND huyện đã ra quyết định thu hồi đất của các hộ dân, trong đó:
UBND huyện đã ban hành Quyết định số 112/QĐ-UBND ngày 20/9/2008
phê duyệt kinh phí đền bù và hỗ trợ cho các hộ dân bị thu hồi đất để xây dựng khu
công nghiệp LG, mức đền bù hỗ trợ cho hộ ông Nguyễn Văn S, hộ bà Nguyễn Thị
T và hộ ông Trương Văn P như sau:
- Hộ ông Nguyễn Văn S: mức giá đền bù cho 1.200 m
2
: đất trồng khóm là
55.000 đồng/m
2
, mức giá đền bù cho 300m
2
đất thổ cư là 600.000đồng/m
2
, đơn giá
đền bù cho căn nhà là 576.000đồng/m
2
. Được hỗ trợ di chuyển là 20.000.000 đồng,
hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống là 3.600.000đồng.
- Hộ bà Nguyễn Thị T: mức giá đền bù cho 2.500 m
2
: đất trồng khóm là
55.000 đồng/m
2
, mức giá đền bù cho 70 cây dừa lọai A là 280.000đồng/cây.
, sân xi
măng 40 m
2
. Như vậy hộ này bị giải tỏa trắng, phải di dời đi nơi khác.
- Hộ bà Nguyễn Thị T bị thu hồi 2.500m
2
đất nông nghiệp trồng cây ăn trái
và khóm trên tổng số 5.000m
2
đất mà hộ đang sử dụng ( chiếm 50% diện tích đất
nông nghiệp của hộ), trên đất có 70 cây dừa lọai A.
- Hộ ông Trương Văn P bị thu hồi 4.000m
2
đất nông nghiệp trồng cây ăn trái
và khóm trên tổng số 8.000m
2
đất mà hộ đang sử dụng( chiếm 50% diện tích đất
nông nghiệp của hộ), trên đất có 200 cây dừa lọai A, 50 cây dừa lọai B.
Cả 03 hộ dân đều được UBND huyện Chợ Gạo cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, sinh sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng. Trên cơ sở kê biên đất đai và
Người thực hiện :Phan Thị Hồng Hạnh Trang 4
Tiểu luận cuối khóa Lớp QLNN chương trình chuyên viên khóa I-
2010
tài sản bị thiệt hại, Hội đồng đền bù của huyện tiến hành áp giá và đền bù cho 03
hộ.
- Giá đền bù nhà cửa, vật kiến trúc: áp dụng Quyết định số 67/2004/QĐ-UB
ngày 27/12/2004 của UBND tỉnh Tiền Giang về việc ban hành đơn giá xây dựng
nhà ở và vật kiến trúc thông dụng. Đơn giá đền bù là 576.000 đồng/m2, nhà cấp 4
đền bù 100% theo đơn giá xây dựng mới, không tính chất lượng sử dụng còn lại.
kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 12 tháng. Mức hỗ trợ bằng
tiền cho 01 nhân khẩu/01 tháng tương đương 150.000 đồng”.
II XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
1. Mục tiêu cụ thể:
- Cần giải quyết đơn khiếu nại của các hộ Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị T và
Trương Văn P cho thấu tình đạt lý, sớm chấm dứt tình trạng khiếu kiện kéo dài;
đồng thời để giải phóng mặt bằng đúng kế họach đảm bảo thực hiện công trình
theo đúng tiến độ
- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải giải quyết khiếu nại hợp pháp
của công dân, xem xét lại một cách toàn diện quyết định của các cơ quan nhà nước
ra quyết định bị khiếu kiện nhằm thỏa mãn những yêu cầu, lợi ích chính đáng của
người dân theo pháp luật nếu việc khiếu kiện có cơ sở.
- Xem xét lại giá cả đền bù cho các hộ khiếu nại đảm bảo hợp tình, hợp lý để
họ vui vẻ chấp nhận và sớm di dời.
- Nếu khiếu nại không có cơ sở, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần
giải thích tường tận để cho hiểu rõ chính sách về đền bù giải tỏa của Nhà nước và
có những biện pháp giải quyết tiếp theo nhằm tăng cường Pháp chế XHCN, giữ
vững kỷ cương, phép nước.
Người thực hiện :Phan Thị Hồng Hạnh Trang 6
Tiểu luận cuối khóa Lớp QLNN chương trình chuyên viên khóa I-
2010
2. Mục tiêu chung:
- Khắc phục những thiếu sót trong hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực
giải tỏa đền bù khi có chủ trương thu hồi đất, đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý khi
ra quyết định hành chính, thể hiện sự hài hòa giữa lợi ích của nhà nước, cộng đồng,
cá nhân.
- Đảm bảo giữ nghiêm Pháp luật, Pháp chế XHCN, ổn định trật tự trong xã
hội.
-Từng bước đưa công tác đền bù, giải tỏa đi vào nề nếp, đúng qui trình, sát
. 300 m
2
đất ở tương đương
180.000.000đ. Giá thực tế chuyển nhượng là 20 lượng vàng x 15.750.000 đ/lượng
=315.000.000 đ ( người dân bị thiệt 135.000.000 đ)
1. Nguyên nhân chủ quan:
- Thiếu dân chủ trong tính toán đền bù. Điều 39 Chương VI Nghị định
197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất qui định: trong Hội đồng định giá phải có một thành
viên là đại diện cho những hộ có đất bị thu hồi. Ở đây, Hội đồng đã không đưa đại
diện những hộ có đất bị thu hồi vào thành viên Hội đồng, do đó đã không làm sáng
tỏ cho người dân biết các căn cứ tính toán thiệt hại, chưa tạo cơ hội cho các hộ thể
hiện ý chí, nguyện vọng và trình bày những khó khăn của mình.
- Hội đồng đền bù của huyện thiếu thông tin về giá cả chuyển nhượng đất
thực tế, không áp dụng đầy đủ các qui định về giá đất đền bù theo Thông tư số
116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị
định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính Phủ.
- Hội đồng đền bù của huyện chưa được các ngành chức năng của huyện
hướng dẫn đầy đủ trong việc tính toán áp giá đền bù theo Nghị định 197/2004/NĐ-
CP ngày 03/12/2004, Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004, Quyết định
số 68/2004/QĐ-UB ngày 30/12/2004 của UBND tỉnh Tiền Giang về việc ban hành
giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, Quyết định số 26/2002/QĐ-UB ngày
04/07/2002 của UBND tỉnh Tiền Giang về việc ban hành đơn giá bồi thường thiệt
hại cây ăn trái, hoa màu khi nhà nước thu hồi đất dẫn đến việc lập dự toán đền bù
chưa sát đúng, thỏa đáng.
Người thực hiện :Phan Thị Hồng Hạnh Trang 8
Tiểu luận cuối khóa Lớp QLNN chương trình chuyên viên khóa I-
2010
2. Nguyên nhân khách quan:
- Giá đền bù đất nông nghiệp trong đô thị được tính theo Thông tư số
16/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị
định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Khoản 4.3, Phần II - Bồi thường, hỗ trợ về đất
qui định: Bồi thường về đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất ao vườn liền
kề với đất ở trong khu dân cư, ngòai việc được bồi thường theo giá đất nông
nghiệp cùng loại, còn được hỗ trợ bằng tiền. Giá tính hỗ trợ từ 20 – 50% giá đất
liền kề, hướng dẫn cụ thể như sau:
+ Đất nông nghiệp xen kẻ trong khu dân cư là thửa đất nằm trong khu dân
cư.
+ Đất ao vườn liền kề với đất trong khu dân cư là thửa đất có ít nhất một mặt
tiền giáp với đất ở trong khu dân cư.
+ Mức hỗ trợ cụ thể trong khoảng từ 20 – 50%, đối với thị trấn chưa xếp loại
đô thị thì được tạm xếp đô thị loại 5 theo Thông tư liên bộ số 94/TT-LB. Mặt khác,
tại Quyết định số 26/2004/QĐ-UB ngày 03/06/2004 của UBND huyện về việc phê
duyệt qui hoạch chi tiết khu công nghiệp, thì các hộ dân sống trong khu vực trên
được hưởng đất ở trong khu dân cư.
Hội đồng đền bù chưa áp dụng Quyết định số 1621/QĐ-UB ngày
05/03/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang về việc ban hành tạm thời các
chính sách hỗ trợ, bồi thường, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất sử dụng vào
mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng khi tính bồi
thường cho các hộ trong diện giải tỏa. Nếu tính toán đầy đủ theo các qui định trên,
Người thực hiện :Phan Thị Hồng Hạnh Trang 10
Tiểu luận cuối khóa Lớp QLNN chương trình chuyên viên khóa I-
2010
thì kết quả giá đền bù đất ở, đất nông nghiệp có thể tương đương với giá chuyển
nhượng thực tế đối với từng loại đất tại thời điểm đền bù và các hộ vui vẻ chấp
nhận di dời, tạo điều kiện công trình khởi công xây dựng đúng tiến độ đề ra.
Trong thực tế, giá cả nói chung và giá chuyển nhượng đất tăng nhanh, nếu
trong diện giải tỏa có đền bù.
• Nhược điểm:
- Không phù hợp với qui định của Luật khiếu nại tố cáo, về mặt nguyên tắc,
cơ quan nhà nước chỉ giải quyết khiếu nại những hành vi hành chính, hoặc quyết
định hành chính khi có khiếu nại hợp pháp. Ở đây, nhiều hộ chấp nhận đền bù đã
tự giác di dời, không khiếu nại, có hộ chỉ khiếu nại về giá đất mà không khiếu nại
về giá vật kiến trúc, nhà cửa và hoa màu.
- Phải tính toán lại tất cả những tài sản đền bù, trong đó có vật kiến trúc, nhà
cửa và cây trái, hoa màu, chi phí di dời… những phần này tất cả các hộ đều không
khiếu nại.
- Kéo dài thời gian giải tỏa, giải phóng mặt bằng để xây dựng công trình.
c/ Phương án 3:
Giữ nguyên quyết định ban đầu của UBND huyện. Nếu quá thời hạn qui
định mà các hộ không chịu nhận tiền đền bù để di dời thì UBND huyện ra
quyết định cảnh cáo, cưỡng chế buộc thi hành.
• Ưu điểm:
Thể hiện tính nhất quán trong quyết định của UBND huyện, kiên quyết dùng
sức mạnh cưỡng chế buộc di dời, sớm bàn giao mặt bằng để thi công công trình
Người thực hiện :Phan Thị Hồng Hạnh Trang 12
Tiểu luận cuối khóa Lớp QLNN chương trình chuyên viên khóa I-
2010
• Nhược điểm:
- Không quan tâm đến những lợi ích chính đáng của các hộ khiếu nại và
những khó khăn thực sự khi họ bị thu hồi đất, có thể gây bất bình cho các hộ khiếu
nại và nhân dân trong vùng nói chung.
- Chưa thể hiện được yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành
chính nhà nước, chưa tính đúng, tính đủ cho hộ dân theo qui định hiện hành.
- Có thể dẫn đến việc các hộ tiếp tục khiếu nại lên cấp trên, hoặc khởi kiện ra
tòa án hành chính cùng cấp, làm cho sự việc kéo dài lại có nguy cơ kéo dài thêm.
giao mặt bằng cho đơn vị thi công.
- Hội đồng bồi thường phải khẩn trương hòan thành các công việc nêu trên và
phải có báo cáo cụ thể cho UBND huyện về tiến độ giải quyết khiếu nại và các
vướng mắc phát sinh nếu có.
- Chủ tịch Hội đồng bồi thường tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm về các sai
sót của Hội đồng và có báo cáo về UBND huyện. UBND huyện sẽ tổ chức cuộc
họp để kiểm điểm rút kinh nghiệm chung về công tác áp giá đền bù bồi thường hỗ
trợ khi nhà nước thu hồi đất, nhằm tránh các sai sót không đáng có để làm tốt hơn
trong thời gian tới.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Quan điểm của Đảng ta: “Con người là mục tiêu là động lực chính của sự
phát triển”. Thật vậy, những chương trình, chính sách phát triển kinh tế xã hội của
nước ta đều nhằm vào mục tiêu, quan điểm trên, thể hiện “Nhà nước của dân, do
dân và vì dân”. Việc xây dựng các khu công nghiệp cũng không nằm ngòai các
mục tiêu trên nhằm phát triển kinh tế ở địa phương, giải quyết công ăn việc làm
Người thực hiện :Phan Thị Hồng Hạnh Trang 14
Tiểu luận cuối khóa Lớp QLNN chương trình chuyên viên khóa I-
2010
cho dân lao động. Vì vậy, phải làm sao cho có sự hài hòa giữa lợi ích của Nhà
nước và nhân dân khi các hộ này bị thu hồi đất để họ an tâm sớm ổn định cuộc
sống, đây là vấn đề hết sức nhạy cảm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của
nhân dân, đòi hỏi người làm công tác này phải nhạy bén, linh họat, đúng quy trình,
sát thực tế. Sau khi nghiên cứu tình huống trên, bản thân tôi có một vài kiến nghị
sau:
1. Kiến nghị
- Vấn đề giá đất đền bù là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến
quyền lợi của người dân, cho nên để tính giá đền bù sát đúng, cần thiết phải nắm và
xử lý thông tin về giá đất qua việc chuyển nhượng thực tế trong từng thời điểm,
trên từng địa bàn đối với các loại đất, hạn đất, vị trí đất.
hưởng đến an ninh, trật tự xã hội.
Giải quyết khiếu kiện của công dân là nhiệm vụ của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền trong quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về đất đai nói
riêng. Giải quyết đúng đắn, hiệu quả các khiếu nại của công dân chính là bảo vệ
quyền và nghĩa vụ của công dân được qui định trong Hiến pháp và Pháp luật, nhằm
tăng cường Pháp chế XHCN.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề đất đai càng trở nên phức tạp
nên các vụ khiếu kiện, tranh chấp đất đai phải giải quyết thấu lý, đạt tình, vừa mềm
dẻo, linh họat, vừa phải kiên quyết theo đúng pháp luật. Từ thực tế này, đòi hỏi cán
bộ làm công tác này phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, khách quan, chí công vô
tư, phải biết lắng nghe tâm tư nguyện vọng của nhân dân để từ đó tham mưu cho
lãnh đạo giải quyết và ban hành các quyết định hành chính hợp pháp, hợp lý, vừa
ích nước, vừa lợi dân./.
Người thực hiện :Phan Thị Hồng Hạnh Trang 16
Tiểu luận cuối khóa Lớp QLNN chương trình chuyên viên khóa I-
2010
Tài liệu tham khảo
- Tài liệu bồi dưỡng về QLNN chương trình chuyên viên.
- Luật Đất đai năm 1993 được sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2001;
- Luật Khiếu nại - tố cáo năm 1998;
- Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ về việc
ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã.
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc bồi
thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thực hiện Nghị định 197.
- Quyết định số 67/2004/QĐ-UB ngày 27/12/2004 của UBND tỉnh Tiền
Giang về việc ban hành đơn giá xây dựng nhà ở và vật kiến trúc thông dụng.
- Quyết định 68/2004/QĐ-UB ngày 30/12/2004 của UBND tỉnh Tiền