PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
1.1- Lý do lựa chọn đề tài
Hiện nay, trong tiến trình xây dựng nền hành chính nhà nước, cải
cách hành chính nói chung và cái cách thủ tục hành chính nói riêng có
nhiều nội dung được đề cập trong Chương trình tổng thể cải cách hành
chính giai đoạn 2011-2020, trong đã có vấn đề đáng quan tâm là làm sao
để cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền, trách nhiệm khi ban hành
quyết định hành chính giảm thiểu sai, trái pháp luật và quyết định hành
chính có hiệu lực pháp luật phải được tổ chức thực hiện đúng pháp luật.
Quyết định hành chính là sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương
của cơ quan quản lý hành chính nhà nước, nhất là đối với các nhà quản lý,
cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước - những
người được nhà nước giao trọng trách thừa hành pháp luật, "cầm cân nảy
mực", được ban hành các quyết định hành chính trên cơ sở các quy định
của pháp luật.
Để ban hành các quyết định hành chính thì thông tin vừa là đối
tượng, vừa là công cụ để nhà nước quản lý. Để bảo đảm quản lý tốt thì
việc xử lý thông tin và hiểu biết về pháp luật là điều hết sức cần thiết cho
việc ban hành quyết định hành chính, nếu không sẽ dẫn đến việc ban hành
những quyết định sai lầm, dẫn đến hậu quả đáng tiếc như: ra những văn
bản quản lý, những quyết định sai trái, gây oan ức cho mọi người, làm
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây tốn
kém về thời gian và công sức và nghiêm trọng hơn nó làm sai lệch mục
đích quản lý, làm mất lòng tin ở quần chúng đối với Đảng và Nhà nước,
từ đã dẫn tới hiện tượng coi thường kỷ cương phép nước.
Thực tế hiện nay cho thấy, không ít cơ quan hành chính nhà nước,
những cán bộ, công chức được nhà nước trao thẩm quyền đã lạm dụng
quyền hạn mà nhà nước giao cho để ban hành những quyết định hành
chính vượt quá thẩm quyền hoặc có nội dung trái pháp luật.
quyết hài hòa giữa tính pháp lý, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.
1.3- Phương pháp nghiên cứu:
Tiểu luận tình huống sử dụng tổng thể các phương pháp nghiên cứu thích
hợp, trong đó coi trọng phương pháp đánh giá, phân tích, tổng hợp các vấn đề
liên quan tới nội dung nghiên cứu.
1.4- Phạm vi nghiên cứu:
Tiểu luận tình huống tập trung nghiên cứu giải quyết xử lý Quyết định
hành chính ban hành trái quy định trên địa bàn huyện Quốc Oai .
1.5- Bố cục của tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung của tiểu luận tình huống
được trình bày trong 5 phần:
Phần 2.1- Mô tả tình huống
Phần 2.2- Xác định mục tiêu xử lý tình huống
Phần 2.3- Phân tích tình huống
Phần 2.4- Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống
Phần 2.5- Lập kế hoạch tổ chức phương án đã lựa chọn
Tuy nhiên, với khoảng thời gian có hạn, nhận thức và kinh nghiệm
thực tế về xử lý tình huống còn hạn chế vì vậy bài tiều luận không tránh
khỏi thiếu sót, hạn chế về nội dung cũng như cách mô tả, trình bày. Vì
vậy, rất mong được sự quan tâm, đóng góp của các thầy, cô để bài tiểu
luận của em được hoàn thiện hơn.
3
PHẦN II: NỘI DUNG
2.1- MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
Ngày 20/6/2013 Bà Nguyễn Thị Hoa tốt nghiệp trường Đại học Tài
chính Kế toán. Cũng vào thời gian này, được biết UBND huyện Quốc Oai
-Hà Nội có thông báo tuyển dụng công chức kế toán, làm việc tại Tổ kế
nghỉ hưởng chế độ thai sản khi sinh con được quy định như sau:
“Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước
và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên
thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01
tháng.
Thời gian nghỉ trước hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa
không quá 02 tháng”
Căn cứ vào các loại giấy tờ cơ quan mà bà Hoa đã lập, sau khi kiểm
tra và xét duyệt, Bảo hiểm xã hội huyện đã thanh toán chế độ trợ cấp thai
sản đối với bà theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong thời gian bà Hoa nghỉ chế độ bảo hiểm công việc
của Phòng K bị đảo lộn, số liệu cung cấp và đối chiếu không kịp thời, báo
cáo gửi cấp trên luôn chậm trễ, làm ảnh hưởng tới mọi hoạt động của
phòng K. Khi bà nghỉ công việc của bà không có người làm thay mà mọi
người trong tổ mỗi người kiêm nhiệm một ít vì vậy tiến độ công việc luôn
bị chậm, không đáp ứng yêu cầu và cấp trên đã không ít lần phê bình vì
sự chậm trễ đó.
Vì vậy ngày 22/04/2015, Trưởng phòng K đã có thông báo và yêu
cầu bà Hoa tới cơ quan làm việc - dù thời điểm này bà mới chỉ nghỉ sinh
con được 04 tháng và theo quy định thì bà còn tiêu chuẩn nghỉ sinh con
02 tháng nữa. Nội dung thông báo nêu rõ: "Do công tác của bà không có
người làm thay nên bà phải đi làm nếu không Trưởng phòng K sẽ buộc
thôi việc để tuyển người khác". Biết rằng mình đang được nghỉ thai sản
5
và được hưởng theo chế độ bảo hiểm xã hội nhưng bà vẫn đi làm bởi bà
phải tuân thủ theo mệnh lệnh hành chính trưởng phòng đã đưa ra và bà
cũng sợ bị buộc thôi việc.
công luận có nhận thức đúng đắn, tích cực vào đường lối, chính sách pháp luật
của Đảng và Nhà nước.
- Mục tiêu chung khi xử lý tình huống là nhằm tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
- Những biện pháp, cách thức xử lý của cơ quan Nhà nước phải bảo vệ lợi
ích chính đáng của tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân.
- Giải quyết hài hòa giữa tính pháp lý, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.
2.2.2. Cơ sở lý luận và pháp lý.
Căn cứ vào tính hợp pháp, hợp lý của quyết định hành chính, việc
ban hành quyết định hành chính cần đảm bảo các yếu tố tổng hợp.
- Đúng đường lối của Đảng.
- Phù hợp với pháp luật, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Đúng thẩm quyền do pháp luật quy định.
- Đảm bảo sự thích hợp, hợp lý với sự phát triển của xã hội, tính
khả thi, kịp thời và nhất quán.
- Căn cứ vào Bộ luật lao động số: 10/2012/QH13 ngày 18/6/2012;
- Căn cứ vào Luật bảo hiểm xã hội số: 58/2014/QH13 của Quốc hội
ngày 20/11/2014;
- Căn cứ vào Luật cán bộ công chức ngày 01/1/2010,
- Căn cứ Quyết định số 103/2009/QĐ-UBND ngày 24/9/2009 của UBND
thành phố ban hành Quy định về quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, tiền lương,
tiền công, cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng trong các cơ
quan, đơn vị thuộc thành phố Hà Nội;
7
- Căn cứ vào quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của Uỷ
ban nhân dân huyện về việc buộc thôi việc.
2.3- Phân tích tình huống
pháp lý, hoàn toàn trái với quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề
này. Trong trường hợp này, bà Hoa đang trong thời gian nghỉ thai sản,
hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật đối với lao
động nữ. Cụ thể, tại khoản 5, điều 9 Pháp lệnh cán bộ công chức quy định
đối với công chức là nữ còn được hưởng các quyền lợi được quy định tại
khoản 2 Điều 109, các điều 111, 113, 114, 115, 116 và 117 của Bộ luật
lao động.
1. Người lao động nghỉ trước và sau khi sinh con cộng lại là 06
tháng do Chính phủ quy định.
2. Hết thời gian nghỉ thai sản quy định tại khoản 1 điều này, nếu có
nhu cầu người lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng
lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động. Người lao động nữ có
thể đi làm việc trước khi nghỉ thai sản, nếu đã nghỉ ít nhất được 4 tháng
sau khi sinh con và có giấy chứng nhận đảm bảo sức khỏe của cơ quan y
tế, chứng nhận việc trở lại đi làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ và
phải báo cho người sử dụng lao động biết trước. Trong trường hợp này,
người lao động nữ vẫn phải tiếp tục được hưởng chế độ trợ cấp thai sản
ngoài tiền lương của những ngày làm việc (Điều 40 của Luật bảo hiểm xã
hội)
Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND huyện
Quốc Oai về việc buộc thôi việc bà Hoa là trái với quy định các điều 34
và 40 của Bộ luật lao động. Việc đưa ra quyết định sai trái này đã gây hậu
quả hết sức nghiêm trọng trong việc thực hiện quản lý hành chính nhà
nước.
9
Như chúng ta đã biết, Uỷ ban nhân dân huyện là cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các
gia đình.
2.3.1. Nguyên nhân xảy ra tình huống
Nguyên nhân dẫn đến tình huống trên chính là quyết định số 70/QĐ UB ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội, ban hành
không chặt chẽ quy định quyền hạn cho Trưởng phòng chuyên môn được
quyền ra quyết định thôi việc nhưng lại không trừ các trường hợp mà luật
quy định được ưu tiên như đối với cán bộ là lao động nữ. Còn Trưởng
phòng K - huyện Quốc Oai do không nắm được những nguyên tắc quản lý
nhà nước, thiếu sự hiểu biết pháp luật, vận dụng một cách máy móc vì vậy
đã ra Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND huyện
Quốc Oai về việc buộc thôi việc đối với bà Hoa là sai pháp luật, dẫn đến
tính khả thi kém.
Bên cạnh đó bà Hoa cũng thiếu hiểu biết về pháp luật cho nên bà
cũng không biết được rằng việc Trưởng phòng K buộc bà thôi việc là việc
làm trái pháp luật.
Đến khi biết quyết định của Trưởng phòng là sai thì lại không biết
trình tự phải giải quyết như thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình. Lẽ ra
bà phải làm đơn trình bày hoàn cảnh và nêu rõ lý do dẫn đến việc phải
nghỉ làm trong cả 2 lần cơ quan yêu cầu đi làm và nêu rõ những căn cứ
pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình gửi Hội đồng xét kỷ luật và tổ chức
công đoàn cơ quan để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân nhưng bà
đã không làm như vậy mà đến phòng Trưởng phòng phản ứng gay gắt.
Còn Hội đồng xét kỷ luật - là nơi đáng lẽ thấu hiểu pháp luật nhưng
trước thái độ phản ứng gay gắt của bà Hoa, Hội đồng lại không có ý kiến
gì và cũng không phân tích được sự việc, không có sự tham mưu cho
11
Trưởng phòng. Đây không phải là trường hợp đặc biệt trong tình hình
hiện nay. Thực tế do thiếu hiểu biết về pháp luật và kiến thức quản lý nhà
định này của quyết định số 70/QĐ-UB ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân
dân Thành phố Hà Nội.
Trước mắt là bảo vệ uy tín cho người ra quyết định quản lý và Hội
đồng kỷ luật mặc dù Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của
UBND huyện Quốc Oai là sai như ở phần trên). Nếu chấp nhận quyết định
thì không giải quyết được yêu cầu công luận, không giải quyết được mâu
thuẫn của sự việc mà càng làm tăng thêm sự dị nghị, sự không tin tưởng
vào pháp luật nói chung và người ra quyết định quản lý của công chức
trong cơ quan nói riêng. Quyết định trên gây ra thiệt hại cả về kinh tế lẫn
chính trị đối với bà Hoa nói riêng, đồng thời gây ra một tâm lý nặng nề,
căng thẳng trong cơ quan làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác
nói chung.
Việc chấp hành Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của
UBND huyện Quốc Oai về việc thôi việc bà Hoa sẽ làm mất uy tín của
người và ra quyết định và sẽ gây hậu quả là mọi công dân sẽ coi thường
pháp luật, gây mất lòng tin về sự công bằng trong quản lý, làm mất đi mất
đi một công chức giỏi, nhiệt tình phục vụ cho cơ quan và hậu quả nghiêm
trọng nhất là ảnh hưởng tới thể chất và trí tuệ của một cháu bé.
2.4.2. Phương án 2
Huỷ bỏ Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của UBND
huyện Quốc Oai về việc buộc thôi việc đối với bà Hoa.
Thực hiện phương án này cũng có nghĩa là hủy bỏ quyết định số
70/QĐ-UB ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Điều
này sẽ làm mất uy tín của người ra quyết định nhưng sẽ lấy lại lòng tin
13
của công chức trong các cơ quan thuộc huyện Quốc Oai. Qua đó làm cho
mọi người tôn trọng pháp luật và sẽ nghiêm chỉnh chấp hành theo pháp
ra quyết định bãi bỏ Quyết định số: 130/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của
UBND huyện Quốc Oai về việc buộc thôi việc đối với bà Hoa
Kế toán phòng K của huyện Quốc Oai có trách nhiệm thanh toán
chế độ cho bà Hoa theo quy định hiện hành.
Ông Trưởng phòng vận dụng tinh thần của quyết định số 70/QĐ-UB
ngày 20/5/1998 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội là sai. Riêng
trong trường hợp bà Hoa đang nghỉ chế độ thai sản mà chỉ vận dụng theo
nội dung quyết định trên là chưa đảm bảo cơ sở pháp lý, trách nhiệm
chính thuộc về Trưởng phòng K - huyện Quốc Oai và một phần trách
nhiệm của Hội đồng kỷ luật cơ quan.
*Qua 3 phương án đã nêu tôi sẽ lựa chọn phương án 3 vì Phương án
này đáp ứng được nhiều mục tiêu:
Phương án này giải quyết được tận gốc vấn đề, làm rõ được trách
nhiệm và thiếu sót thuộc về ai, đảm bảo giải quyết đúng người, đúng việc,
kể cả việc quy trách nhiệm quản lý.
Phương án này đảm bảo quyền lợi cho công chức đúng với chính
sách và chế độ của Nhà nước. Đảm bảo các chính sách đối với người lao
động, giải quyết được mâu thuẫn, dẹp tan được dư luận không tốt trong
quần chúng nhân dân. Nâng cao sự thiếu hiểu biết pháp luật công chức,
đặc biệt là đối với người quản lý như ông Trưởng phòng K Huyện Quốc
Oai.
Để có uy quyền người lãnh đạo phải ban hành các quyết định hành
chính vừa có lý lại vừa có tình. Giải quyết theo phương án 3 sẽ làm tăng
thêm uy quyền của người lãnh đạo, tăng cường việc thực hiện pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
15
2.5- Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn
thêm giời cho cán bộ, công chức thì công việc sẽ bớt trì trệ, không ảnh
hưởng tới việc chung của cơ quan.
Còn đối với bà Hoa, bà đã vi phạm lời cam kết đối với công đoàn
thì hội đồng kỷ luật xem xét hình thức kỷ luật sao cho phù hợp với mức
độ vi phạm. Còn đối với tổ chức cơ quan người phạm sai lầm trong việc
ban hành và thực hiện quyết định hành chính cần phải được xử lý theo
pháp luật. Có như vậy mới giữ được kỷ cương phép nước và để quần
chúng nhân dân tin vào Đảng và Nhà nước.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1- Kết luận
Hiện nay, trong tiến trình xây dựng nền hành chính nhà nước, cải
cách hành chính nói chung và cái cách thủ tục hành chính nói riêng có
nhiều nội dung được đề cập trong Chương trình tổng thể cải cách hành
chính giai đoạn 2011-2020, trong đã có vấn đề đáng quan tâm là làm sao
để cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền, trách nhiệm khi ban hành
quyết định hành chính giảm thiểu sai, trái pháp luật và quyết định hành
chính có hiệu lực pháp luật phải được tổ chức thực hiện đúng pháp luật.
Quyết định hành chính trái pháp luật về nội dung, hình thức, trình
tự, thủ tục… và quyết định hành chính chậm thực hiện, không thực hiện…
có nhiều nguyên nhân. Để phát hiện những sai, trái, tìm nguyên nhân để
khắc phục có nhiều biện pháp, trong đó khâu rất quan trọng là thực hiện
giám sát, kiểm tra thường xuyên quá trình ban hành quyết định hành
chính và tổ chức thực hiện quyết định hành chính.
Thực tế cho thấy, khi ban hành quyết định hành chính, tổ chức, cá
nhân được giao soạn thảo văn bản phải kiểm tra, rà soát hồ sơ, tài liệu ,
các yếu tố có liên quan, khi cần thiết thẩm tra, xác minh thực tế để đảm
17
quyết khiếu kiện hành chính đã có hiệu lực pháp luật thì chắc chắn sẽ gúp
phần hạn chế được khiếu kiện hành chính phát sinh./.
3.2- Kiến nghị
Qua tình huống trên ta thấy một quyết định hành chính sai sẽ dẫn
đến những hậu quả rất nghiêm trọng. Vậy để hạn chế xảy ra những tình
huống tương tự như trên tôi có một số kiến nghị sau:
1. Để hạn chế những quyết định hành chính không phù hợp với nội
dung và mục đích của Luật thì cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa
phương, các cấp, các ngành phải nghiêm minh chấp hành pháp luật đồng
thời phải tuyên truyền, giáo dục, tổ chức công tác tư vấn pháp luật cho
nhân dân hiểu biết về pháp luật và thực hiện đúng.
2. Trước mắt các cấp, các ngành cần bồi dưỡng kiến thức quản lý
hành chính nhà nước cho cán bộ lãnh đạo, sau đó cũng cần bồi dưỡng cho
tất cả cán bộ công chức mà chưa qua đào tạo quản lý nhà nước để mọi
người nghiêm chỉnh thực hiện đúng quy trình trong việc quản lý nhà nước
nhằm làm giảm bớt sự mất lộn xộn trong các cơ quan quản lý hành chính
nhà nước.
3. Đưa hiến pháp và pháp luật trở thành một công cụ quản lý sắc
bén. Nền kinh tế ở nước ta hiện nay là nền kinh tế vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy nó đòi hỏi chúng ta phải có một hành lang pháp lý phù hợp với sự
phát triển kinh tế của đất nước, có một bộ máy quản lý nhà nước đủ trình
độ, năng lực và sự cải cách về tổ chức cũng như phương thức điều hành
thủ tục hành chính gọn nhẹ.
4. Đẩy mạnh kiểm tra, thực hiện các quyết định hành chính nhà
nước, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật thì cơ quan chủ q uản phải tiến
hành kiểm tra thường xuyên: Cấp trên kiểm tra cấp dưới, các cơ quan
19