TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K6A-2015
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
CHÊNH LỆCH VỀ HẠ TẦNG CNTT NGÀNH
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI SAU MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI
HÀNH CHÍNH
Họ và tên:
Chức danh:
VŨ VIỆT CƯỜNG
Chuyên viên phòng Khoa học-CNTT
Đơn vị công tác : Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội
HÀ NỘI- 2015
1
MỤC LỤC
Trang
A. LỜI NÓI ĐẦU
3
B. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
3.2 Các biện pháp giải quyết
12
IV. Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện
18
V. Kiến nghị
21
C. KẾT LUẬN
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
25
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Giáo dục và Đào tạo
GD&ĐT
Công nghệ thông tin
CNTT
Cán bộ quản lý
Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp
KTTH
2
A. LỜI NÓI ĐẦU
Hà Nội là Thủ đô, trung tâm của khoa học công nghệ của cả nước nên
không những phải làm tốt, mà còn phải đi đầu trong việc ứng dụng và phát triển
CNTT. Xác định vị trí đặc biệt đó, Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố rất
quan tâm đầu tư cho sự phát triển của khoa học-kỹ thuật, trong đó có CNTT.
Thành uỷ Hà Nội đã ban hành Chỉ thị 13-CT/TU tăng cường sự lãnh đạo của
các cấp ủy Đảng về việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng, Nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội; UBND Thành phố có Kế
hoạch 80/KH-UBND ngày 10/6/2009 về “Ứng dụng CNTT trong các cơ quan
Nhà nước trên địa bàn Thành phố đến năm 2010, định hướng 2015”.
Giáo dục và Đào tạo Hà Nội có vai trò quan trọng, chuẩn bị nguồn nhân lực
khoa học-kỹ thuật tiên tiến cho Thủ đô tương lai. Trong thời gian qua, công tác
ứng dụng CNTT trong ngành GD&ĐT Hà Nội đã đáp ứng được các yêu cầu cơ
bản về CNTT của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT và Thành phố. Tuy vậy vẫn
còn nhiều vấn đề Thành phố cần phải giải quyết một cách có hệ thống và đồng
bộ, nhất là trong bối cảnh Hà Nội được mở rộng địa giới hành chính. Trước tình
hình cơ sở vật chất, thiết bị, sự đầu tư cho CNTT còn rất khác nhau giữa các
vùng trong địa bàn Thành phố, Thủ đô Hà Nội rất cần thiết phải có biện pháp
kịp thời, đồng bộ nhằm xây dựng và phát triển hạ tầng CNTT, giảm độ chệnh
lệch về hạ tầng CNTT trong ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Nội sau hợp nhất
góp phần xây dựng Hà Nội thành Thủ đô văn minh, hiện đại. Chình vì vậy tôi
chọn đề tài: “Xử lý tình huống chênh lệch về hạ tầng công nghệ thông tin
ngành giáo dục và đào tạo Hà Nội sau mở rộng địa giới hành chính” làm tiểu
máy tính với khoảng 60 máy tính đã vài năm trước hợp nhất nhưng “ xếp xó” vì
không có phòng máy đủ tiêu chuẩn, máy tính không được sử dụng thường
xuyên, không được bảo trì bảo dưỡng, không có người bảo quản, gây lãng phí
nghiêm trọng. Một số trường như THPT TĐN ở Ứng Hòa, THCS NC ở Chương
Mỹ, TH YB huyện Thạch Thất, TH SĐ ở Ba Vì… đều thấy tình trạng hệ thống
4
điện và mạng Internet không ổn định, thiếu máy tính và phòng máy tính. Công
tác ứng dụng CNTT trong quản lý điều hành Ngành gặp rất nhiều khó khăn do
hạ tầng CNTT không đồng bộ, độ chênh lệch lớn giữa hai khu vực, hơn 67%
trường học chưa được kết nối Internet, nhận thức và kỹ năng ứng dụng CNTT
của đội ngũ CBQL giáo dục, của giáo viên chưa đáp ứng được nhu cầu. Việc chỉ
đạo điều hành, gửi nhận thông tin khó khăn, mất nhiều thời gian, tốn nhiều nhân
lực, công sức và kinh phí.
Cơ sở vật chất và hạ tầng CNTT ngành GD&ĐT còn rất hạn chế, chưa
đáp ứng được nhu cầu ứng dụng CNTT trong GD&ĐT và chưa ngang tầm với
sự phát triển của Thủ đô. Máy tính, thiết bị số còn ít và số lượng trong các
trường rất khác nhau, phụ thuộc vào sự quan tâm đầu tư và tình hình kinh tế của
từng quận/huyện. Đa số trường MN chưa có máy tính, trên 40% trường THCS
và 70% trường TH của các huyện ngoại thành và khu vực mới mở rộng trước
đây mới chỉ có máy tính phục vụ văn phòng, số máy dùng giảng dạy Tin học tự
chọn cho học sinh rất thiếu, hoặc máy sử dụng đã nhiều năm, không được bảo
dưỡng, sửa chữa, thay thế nên không đáp ứng được nhu cầu công việc. Với số
lượng máy tính như vậy, Hà Nội sẽ không thực hiện được mục tiêu, kế hoạch
tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin của Thủ tướng Chính
phủ đề ra.
Hệ thống mạng tại các đơn vị trường học không đảm bảo. Mặc dù đã có
65% đơn vị được kết nối đường truyền Internet, nhưng 60% số trường mới chỉ
nối mạng đến Ban giám hiệu và bộ phận hành chính do không có đủ máy tính
VNPT giảm 80% cước truy cập). Vấn đề đặt ra rất cấp thiết là phải nhanh chóng
tìm các biện pháp xây dựng và phát triển hạ tầng CNTT trong Ngành GD&ĐT
sau hợp nhất, thu hẹp khoảng cách chênh lệnh về hạ tầng CNTT giữa hai khu
vực (Hà Nội cũ và Hà Nội mở rộng) tạo điều kiện và sức mạnh để toàn Ngành
ổn định và phát triển bền vững trong thời đại của CNTT.
6
II. Phân tích tình huống
2.1. Cơ sở pháp lý:
Quán triệt tinh thần công tác ứng dụng CNTT và đào tạo nguồn nhân lực
CNTT là công tác thường xuyên và lâu dài của ngành giáo dục, tiếp tục phát
huy các kết quả đạt được trong các năm qua. Sở GD&ĐT đề nghị các phòng
GD&ĐT, các đơn vị trường học trực thuộc nâng cao nhận thức, trách nhiệm đến
toàn thể cán bộ, giáo viên trong ngành ở địa phương, trước hết cho lãnh đạo các
đơn vị, các cơ sở giáo dục và đào tạo về tinh thần và nội dung của các văn bản
quan trọng sau:
- Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục
vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”;
- Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực từ ngày
1 tháng 1 năm 2007;
- Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về
ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước;
- Quyết định số 698/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 01 tháng 06
năm 2009 về việc Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công
nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;
- Chỉ thị số
2.3. Phân tích tình huống
Chỉ thị số 58-CT/TW của BCH Trung ương Đảng CSVN về đẩy mạnh ứng
dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đã khẳng định “Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là
một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện
chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi
trước. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào
tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa
phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung phát triển mạng
máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở
giáo dục và đào tạo”.
Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến
năm 2010 và định hướng đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
ngày 6-10-2005 đã chỉ rõ: “Đối với GD&ĐT, phải phát triển mạng và các dịch
vụ giáo dục, đào tạo ứng dụng trên Internet; đảm bảo 100% trường trung học
phổ thông sử dụng Internet; kết nối Internet cho các trường trung học cơ sở.
Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức, giáo viên các cấp, bác sĩ, y sĩ, sinh viên
8
đại học và cao đẳng, học sinh trung học chuyên nghiệp, trung học nghề và trung
học phổ thông, 50% học sinh trung học cơ sở và một bộ phận người dân có nhu
cầu được đào tạo kiến thức ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông và
khai thác Internet”.
Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến
năm 2015 và định hướng đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ ra mục
tiêu: Đảm bảo 100% học sinh trung cấp chuyên nghiệp và học nghề được đào
tạo các kiến thức và kỹ năng ứng dụng về CNTT. Đến năm 2010, 100% sinh
viên đại học, cao đẳng, học sinh trung học phổ thông, 50% học sinh trung học
cơ sở và 20% học sinh tiểu học được học tin học và đến năm 2015 đạt 100% đối
- Công tác tin học hóa hoạt động quản lý, giảng dạy, học tập được thực
hiện không đồng đều, còn tự phát. Nhiều đơn vị thực hiện tốt, song nhiều đơn
vị, địa phương ứng dụng CNTT còn rất hạn chế (ngoài lý do về khả năng tài
chính). Thông tin về giáo dục và đào tạo trên môi trường mạng của đa số đơn vị
trường học chưa có và không đầy đủ.
- Phần mềm dạy học cho giáo viên, phần mềm quản lý đồng bộ rất thiếu.
- Không có hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ toàn ngành.
Nguyên nhân hạn chế và bất cập:
- Nhận thức của cán bộ quản lý giáo dục về vai trò CNTT trong GD&ĐT
còn hạn chế dẫn đến việc quan tâm đầu tư cho CNTT còn tự phát, không đồng
đều, công tác tin học hóa các hoạt động giáo dục chưa được quan tâm đúng
mức.
- Cơ sở vật chất, thiết bị CNTT không được đầu tư đồng bộ, còn đầu tư dàn
trải theo cơ chế xin- cho; chưa tập trung ưu tiên đầu tư cho những đơn vị,
trường học của các khu vực khó khăn, vùng xa trung tâm.
- Trình độ năng lực, kỹ năng CNTT của cán bộ quản lý, công chức, viên
chức trong các cơ quan quản lý và trong các đơn vị, trường học chưa đáp ứng
kịp nhu cầu phát triển của khoa học-công nghệ. Đội ngũ phụ trách công tác
10
CNTT trong các cơ quan, đơn vị, trường học vừa thiếu vừa yếu về năng lực nhất
là trình độ Tin học.
- Việc ứng dụng CNTT chưa được thực hiện một cách có hệ thống. Phần
mềm phục vụ công tác quản lý trường học và giảng dạy của giáo viên rất thiếu.
Các phần mềm ứng dụng không được xây dựng hoặc mua và triển khai đồng bộ,
thống nhất trong ngành.
- Cơ chế, chính sách quản lý, đãi ngộ về ứng dụng và phát triển ứng dụng
CNTT còn thiếu, chưa cụ thể, nên không bắt buộc, động viên, khuyến khích
được cá nhân và các tập thể đầu tư, ứng dụng CNTT.
đâu tư đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu về công tác quản lý, văn phòng. Đặc
biệt, cấp THPT đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện để dạy môn Tin học chính
khóa. Hạ tầng CNTT từ các trường học đến các cơ quan quản lý từng bước được
hoàn thiện, đảm bảo yêu cầu kỹ cho việc trao đổi thông tin, văn bản, hội họp
qua mạng. Công tác tin học hóa trong quản lý, giảng dạy và học tập được mở
rộng và phát triển đồng bộ. Phần lớn những hoạt động chính của công tác quản
lý và giảng dạy đã được quan tâm ứng dụng CNTT,...Tất cả những yếu tố đó đã
góp phần tích cực mang lại kết quả toàn diện của ngành Giáo dục và Đào tạo
Thủ đô. Tuy vậy, việc triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm xây dựng và phát
triển hạ tầng CNTT trong toàn ngành rất cần phải thực hiện nhanh chóng, kịp
thời và đồng bộ.
III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
3.1. Mục tiêu xử lý tình huống
- Nghiên cứu nắm vững thực trạng và định hướng ứng dụng CNTT trong ngành
GD&ĐT để đề xuất và triển khai các biện pháp quản lý chỉ đạo giải quyết tình
trang chệnh lệch về hạ tầng CNTT trong Ngành GD&ĐT Hà Nội sau hợp nhất,
tạo sự chuyển biến tích cực đưa CNTT phát triển phục vụ đắc lực cho việc đổi
mới quản lý Ngành và nâng cao chất lượng giáo dục và Đào tạo.
3.2 Các biện pháp giải quyết.
Nhận thức rõ vai trò của ứng dụng CNTT trong Giáo dục và Đào tạo, Sở
GD&ĐT Hà Nội luôn thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Bộ GD&ĐT và các văn
12
bản chỉ đạo công tác CNTT của Thành phố, triển khai tốt nhiệm vụ năm học và
hướng dẫn công tác ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục và Đào tạo Hà Nội.
Cùng với việc tập trung phát triển các nguồn lực CNTT, Sở GD&ĐT
Hà Nội đã chỉ đạo đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng CNTT bằng nguồn
ngân sách và xã hội hóa, tăng cường bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kiến
giáo dục, ngay từ đầu năm học Sở GD&ĐT Hà Nội đã Thành lập Ban chỉ đạo
công tác Đẩy mạnh ứng dụng CNTT toàn ngành do Giám đốc Sở làm Trưởng
ban.
Để hướng dẫn các đơn vị cơ sở thực hiện chủ đề năm học theo chỉ đạo của
Bộ, Sở GD&ĐT đã ban hành văn bản 6675/SGD&ĐT-KHCN ngày 28/8/2010
Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ ứng dụng CNTT năm học 2010-2011, qua đó
quy định nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị giáo dục (bao gồm các trường mầm
non, Tiểu học, THCS, THPT, Trung cấp chuyên nghiệp trực thuộc, Trung tâm
KTTH, TT GDTX) trên địa bàn TP về việc ứng dụng CNTT trong quản lý giáo
dục phục vụ công tác dạy và học; Văn bản về quản lý học sinh sử dụng Internet
và Games Online; Văn bản chỉ đạo về các cuộc thi thiết kế bài giảng điện tử
Elearning; sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở, sử dụng hộp thư điện tử, xây
dựng website nhằm cung cấp thông tin, các thủ tục hành chính nhanh chóng, tiết
kiệm và hiệu quả; Hướng dẫn các đơn vị giáo dục sử dụng sổ liên lạc điện tử,
các phần mềm báo cáo trực tuyến, văn bản cấu hình máy tính phục vụ mua sắm
thiết bị CNTT, tổ chức họp trực tuyến, các văn bản về đào tạo bồi dưỡng kỹ
năng CNTT... Sở đã xây dựng và trình UBND thành phố ký Kế hoạch đẩy mạnh
ứng dụng CNTT trong Ngành GD&ĐT năm 2011-2015.
3.2.2 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng CNTT có trọng điểm,
tập trung và hiệu quả.
- Đầu tư đủ máy tính phục vụ công tác quản lý, văn phòng cho các trường
Mầm non (tối thiểu 5 máy tính và 1 máy chiếu đa năng Projector). Trang bị máy
tính cho các trường: TH đạt tỷ lệ bình quân 45 học sinh/1 máy tính; THCS bình
quân 35 học sinh/1 máy tính; mỗi Trung tâm GDTX, TT GDKTTH có ít nhất
25-30 máy nối mạng. Đầu tư trang bị các phương tiện kỹ thuật số, đáp ứng 50%
14
yêu cầu phục vụ giáo viên, giảng viên soạn bài giảng điện tử và giáo án trên
VNPT, Viettel, 100% các đơn vị trường học thuộc cấp học Mầm non, Tiểu học,
THCS, THPT, GDTX, TCCN đã kết nối Internet từ năm học 2009-2010. Việc
kết nối Internet đã mang lại hiệu quả cao, giúp giáo viên sử dụng Internet trong
việc tìm kiếm tư liệu giảng dạy, gửi nhận thông tin, văn bản qua mạng nhanh
chóng và thuận tiện. Tuy vây, chất lượng đường truyền ở một số khu vực xa
trung tâm còn chưa ổn định, một số xã miền núi còn phải dùng kết nối 3G.
Cơ quan Sở GD&ĐT Hà Nội đã có 5 đường cáp quang - 3 đường cáp
quang của Công ty viễn thông quân đội (VIETTEL), 2 đường cáp quang của
thành phố, hệ thống mạng nội bộ gồm 150 nút, có hệ thống cân bằng tải, tường
lửa chống xâm nhập, switch, router hoạt động ổn định.
Sở GD&ĐT Hà Nội rất chú trọng và quan tâm đầu tư ứng dụng CNNT trong
quản lý ngành và trong cơ quan Sở, đồng thời thực hiện nghiêm túc việc công
khai thông tin trên môi trường mạng. Các phần mềm chuyên dụng: Quản lý
Sáng kiến-kinh nghiệm, Quản lý học liệu điện tử được áp dụng có hiệu quả. Các
thông tin trên Cổng giao tiếp điện tử Hà Nội và trên website của Sở đã cung cấp
thủ tục hành chính cho công dân, đồng thời, tạo ra môi trường trao đổi thông tin
giữa cha mẹ học sinh, học sinh với các cơ quan quản lý GD&ĐT và nhà trường.
Sở đã chỉ đạo và triển khai thống nhất việc gửi văn bản qua hệ thống
email và website của Sở. Kết quả 100% các đơn vị trực thuộc Sở chấp hành qui
chế về vấn đề gửi nhận văn bản qua email và webiste. Đây là một ứng dụng rất
hiệu quả và Sở GD&ĐT Hà Nội sẽ tiếp tục triển khai trong các năm học tiếp
theo. Trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT, Sở đã triển khai thành công việc báo
cáo nhanh trực tuyến trên mạng cho 100% các Hội đồng thi và đã nhiều năm
cung cấp tra cứu điểm thi trên mạng. Bên cạnh đó, Sở GD&ĐT Hà Nội xây
dựng
hệ
thống
đề, phát sinh đề và chấm thi trắc nghiệm, phần mềm lấy ý kiến của học sinh
Online,...quản lý phòng máy tính, quản lý đồ dùng thiết bị dạy học, quản lý phổ
cập GD, quản lý và chăm sóc suất ăn cho trường Mầm non... Trong đó, có rất
nhiều phần mềm do giáo viên tự xây dựng.
- Xây dựng một số dịch vụ trực tuyến trên mạng Internet và qua điện thoại
di động, tạo số liên lạc trực tuyến giữa các đơn vị trường học với cha mẹ học
sinh, học sinh, ứng dụng trong 35% số trường học.
- Xây dựng xong hệ thống thư viện học liệu điện tử của các trường/Phòng
GD&ĐT và đưa lên website của ngành trên mạng nội bộ và Internet. Tổ chức
các khoá bồi dưỡng và thi về kỹ năng CNTT trên mạng. Cung cấp các phần
mềm hỗ trợ giảng dạy cho giáo viên các bộ môn trong tất cả các cấp học.
- Xây dựng và triển khai thực hiện hệ thống các tiêu chuẩn cho các hoạt
động của công tác ứng dụng và phát triển CNTT trong các đơn vị, trường học.
Xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế đầu tư tài chính cho công tác ứng dụng
và phát triển CNTT trong các đơn vị, trường học.
3.2.5 Phối hợp chặt chẽ với các Sở, ban Ngành, các cơ quan, đơn vị
trong việc xây dựng hạ tầng CNTT ngành GD&ĐT, tăng cường xã hội hóa
trong công tác CNTT.
- Phối hợp với UBND các quận, huyện, các phòng GD&ĐT, các tổ chức và
cá nhân trong công tác xã hội hóa xây dựng hạ tầng CNTT ngành. Quan tâm
đầu tư, xây dựng các đơn vị, trường học điển hình về CNTT.
17
- Hoàn thành và triển khai hệ thống hội nghị trực tuyến tại Sở GD&ĐT và
29 quận huyện trên địa bàn Hà Nội. Tổ chức họp qua mạng làm giảm chi phí hội
họp, thuận tiện cho các đơn vị ở xa trung tâm, tiết kiệm thời gian, công sức.
- Cùng các đơn vị cung cấp dịch vụ tổ chức tuyên truuyền, giới thiệu các
dịch vụ, giải pháp kỹ thuật mới, có chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho Ngành
TT
NỘI DUNG CÔNG VIỆC
1
Quản lý, chỉ đạo, ban
hành các văn bản ứng
dụng CNTT trong toàn
Ngành
THỰC HIỆN
TỔ CHỨC
VÀ CÁ
NHÂN
THAM GIA
Đầu năm học Sở
và từng thời GD&ĐT
điểm triên khai
công việc
Hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ Ứng dụng
CNTT năm học 20112012
Số:
7972
/SGD&ĐT-KHCN
ngày 1/9/2011
Sở Thông
UBND TP hiện đang Tháng 8/2011
chờ phê duyệt
3
Thực hiện quản lý nhà Trong năm học Sở
nước về công tác ứng
GD&ĐT
dụng CNTT trong
ngành GD&ĐT (Thanh
tra, kiểm tra, giám sát,
đánh giá...), tổng hợp
kết quả định kỳ 6 tháng
một lần báo cáo với
UBND Thành phố
Các đơn vị giáo
dục toàn TP
4
Văn
bản
4676/ Trong năm học Sở
SGD&ĐTHN- KHCN
GD&ĐT
V/v cấu hình máy tính
phục vụ mua sắm thiết
bị CNTT năm học
2010-2011
công tác ứng dụng CNTT, riêng khối phòng GD&ĐT là 20.81 tỷ đồng. Ngoài ra
các PGD&ĐT đã chủ động xây dựng đề án, kế hoạch đầu tư cho phát triển
CNTT với tổng số tiền là 130 tỷ đồng. Số lượng, chất lượng máy tính tại các
trường học ngày càng tăng. Bình quân cấp Trung học phổ thông (THPT) đạt
20HS/máy tính, cấp Tiểu học 39.68 HS/máy tính, THCS đạt 32.5 HS/máy tính.
Đến năm học này, 100% các trường THPT đã đủ máy tính để dạy Tin học chính
khóa, 75% trường Tiểu học, 80% trường THCS đã có phòng máy tính để dạy
Tin học tự chọn cho học sinh. Hầu hết các trường THCS, THPT đã trang bị máy
chiếu đa năng (projector), máy tính phục vụ giáo viên giảng dạy. Tỷ lệ học sinh
được học tin học ở cấp tiểu học đạt 46.12%, THCS đạt 68.75%.
Tại các đơn vị giáo dục, 100% các đơn vị trường học đã kết nối Internet,
giúp giáo viên, học sinh sử dụng Internet trong việc tìm kiếm tư liệu giảng dạy,
20
học tập, gửi nhận thông tin, văn bản qua mạng nhanh chóng và thuận tiện. Tuy
nhiên, chất lượng đường truyền ở một số khu vực xa trung tâm còn chưa ổn
định, một số xã miền núi còn phải dùng kết nối 3G.
Trang tin điện tử (Website) của Ngành hoạt động ổn định, thường xuyên
cập nhật thông tin mới, cung cấp thông tin, văn bản quản lý điều hành kịp thời
cho các đơn vị giáo dục và toàn xã hội được xã hội và thành phố đánh giá cao.
Hệ thống thư điện tử (e-mail) riêng với trên 3000 địa chỉ hộp thư cho tất cả các
trường từ Mầm non trở lên được sử dụng thường xuyên, đáp ứng yêu cầu nhanh
nhạy về thông tin trong quản lý điều hành, góp phần tích cực vào công tác đổi
mới quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục và thực hành tiết kiệm. Cuối năm
học 2010-2011, có 14/29 phòng GD&ĐT có website, 10 Phòng GD&ĐT xây
dựng hệ thống Email nội bộ, 138 trường THPT, TTGDTX đã cung cấp địa chỉ
email cho tất cả giáo viên và học sinh.
Trong năm học 2011-2012, sở GD& ĐT chỉ đạo các đơn vị giáo dục toàn
thành phố Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất thiết bị CNTT và truyền thông, làm cơ
Phối hợp với các Sở GD&ĐT, Sở Tài chính, Sở Thông tin-Truyền thông
xây dựng cơ chế đặc thù về nhân lực CNTT trình thành phố để định biên viên
chức phụ trách CNTT trong các đơn vị, trường học Hà Nội và lập kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng CNTT cho cán bộ viên chức ngành GD&ĐT.
4- Sở Thông tin- Truyền thông
- Phối hợp với Sở GD&ĐT và tham mưu với Thành phố để thực hiện các dự
án , đề án trọng điểm tăng cường ứng dụng CNTT trong ngành GD&ĐT.
- Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ về CNTT cho các đơn vị, trường
học ngành GD&ĐT trong quá trình thực hiện đề án và các dự án triển khai thực
hiện đề án này.
- Phối hợp xây dựng và ban hành hệ thống các tiêu chuẩn cho các hoạt động
của công tác ứng dụng và phát triển CNTT trong các đơn vị, trường học.
22
- Phối hợp với Sở GD&ĐT củng cố hệ thống mạng của ngành GD&ĐT và
xây dựng các dịch vụ công về thông tin giáo dục trên Internet và Cổng giao tiếp
điện tử của Thành phố.
5- Uỷ ban nhân dân các quân, huyện, thành phố trực thuộc:
- Chỉ đạo tuyên truyền, nâng cao nhận thức về ứng dụng CNTT trong GD&
ĐT.
- Chỉ đạo các đơn vị trường học và các đơn vị liên quan trực thuộc
quận/huyện/TX xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện đề án, xây
dựng các dự án tăng cường ứng dụng CNTT trong ngành GD&ĐT do Thành
phố phê duyệt.
- Đẩy mạnh công tác xã hội hoá hoạt động ứng dụng CNTT trong các đơn
vị, trường học. Mỗi quận/huyên/TX đầu tư xây dựng ít nhất 3 trường học điển
hình về ứng dụng CNTT (mỗi cấp học có ít nhất 1 trường).
V. KẾT LUẬN
quốc (UNESCO) đã cảnh báo: “Các quốc gia chậm phát triển vẫn sẽ là quốc gia
chậm phát triển nếu không biết tận dụng máy tính và internet”.
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”;
2. Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 1
tháng 1 năm 2007;
3. Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về ứng
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước;
4. Quyết định số 698/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 01 tháng 06 năm
2009 về việc Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công
nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;
5. Chỉ thị số 55/2008/CT–BGDĐT của Bô ̣ trưởng Bô ̣ GD &ĐT ngày 30/9/2008
về tăng cường giảng da ̣y , đào ta ̣o và ứng du ̣ng cô ng nghê ̣ thông tin trong
ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012;
6. Chỉ thị 13-CT/TU ngày 9 tháng 6 năm 2009 của Thành ủy Hà Nội tăng
cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng về việc ứng dụng CNTT trong các
cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội;
7. Kế hoạch 80/KH-UBND ngày 10 tháng 6 năm 2009 của UBND Thành phố
có về việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nhà nước trên địa bàn Thành
8. Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về
quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước;
9. Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các
cơ sở giáo dục;