PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
1.1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới, mở cửa, không ngừng mở rộng và phát triển, đất
nước ta như một công trường khổng lồ với sự gia tăng hoạt động kinh tế, kéo
theo một loạt tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến môi trường. Có thể nói, chưa
bao giờ đất nước phải đối diện với nhiều vấn đề bức xúc về môi trường như hiện
nay. Mặc dù hoạt động bảo vệ môi trường đã thu hút được sự tham gia của cộng
đồng, nhưng cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, các nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường đang tiềm ẩn. Nhiều nhà máy, xí nghiệp được xây dựng từ
thời bao cấp với công nghệ, thiết bị lạc hậu, phát sinh nhiều phế thải, đa phần
không có hệ thống xử lý nước thải, khí thải. Thêm vào đó, các cơ sở sản xuất
công nghiệp lại nằm xen kẽ với khu dân cư hoặc gần khu vực đông dân cư ảnh
hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng. Bên cạnh đó, cũng phải nhìn nhận rằng ý
thức trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường chưa cao.
Thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp đều vi phạm các quy định pháp luật
về bảo vệ môi trường.
Quốc Oai cách Thủ đô Hà Nội 30km về phía Tây, cách Hà Đông 18km và
thị xã Sơn Tây 24km. Hiện nay, trên địa bàn huyện đang triển khai nhiều dự án
lớn như các khu đô thị, khu công nghiệp và khu du lịch sinh thái... Vì vậy Quốc
Oai có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên đi kèm với phát
triển kinh tế cũng phát sinh nhiều vấn đề về xã hội và môi trường. Vì vậy, tôi lựa
chọn đề tài: "Xử lý tình huống các hộ dân thôn Đồng Bụt, xã Ngọc Liệp, huyện
Quốc Oai có đơn kiến nghị Công ty X sản xuất gây ô nhiễm môi trường” để thực
hiện tiểu luận tốt nghiệp cho chương trình “Bồi dưỡng tiêu chuẩn ngạch
chuyên viên”.
Vì thời gian và kiến thức còn hạn chế, tiểu luận không tránh khỏi những
khiếm khuyết, thiếu sót. Rất mong được sự góp ý chân thành của các Thầy Cô
giáo và các học viên. Tôi xin chân thành cảm ơn!
1
Công ty X ở thôn Đồng Bụt, xã Ngọc Liệp, Huyện Quốc Oai đã gây ô
nhiễm môi trường, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường dẫn đến các hộ nhân
dân kiến nghị nhiều lần tới cơ quan chức năng đề nghị xử lý. Cụ thể như sau:
Công ty X bắt đầu hoạt động năm 2011 chuyên sửa chữa, gò hàn, lắp ráp
quạt thông gió. Công ty được xây dựng trên một diện tích là 500m2, có khoảng
cách gần nhất từ Công ty đến hộ gia đình xung quanh là 5m.
Về tổ chức sản xuất: Công ty làm việc theo cơ chế thị trường, hoạt động
dưới hình thức dịch vụ phục vụ. Nhiệm vụ chính của Công ty là sản xuất, lắp ráp
quạt thông gió. Nguyên liệu phục vụ cho việc lắp ráp gồm sắt, nhôm, que hàn,
đất đèn, gỗ và một số thiết bị chính: Bình ôxy, bộ hàn hơi, máy phun sơn, bình
đất đèn…
Khi Công ty đi vào hoạt động, Công ty đã được cơ quan chức năng là
phòng Tài nguyên và môi trường hướng dẫn thực hiện các quy định về bảo vệ
môi trường của Luật bảo vệ môi trường. Tháng 9 năm 2011, Công ty đã lập bản
cam kết bảo vệ môi trường, trong bản cam kết đã xác định được các nguồn gây ô
nhiễm chính do hoạt động của Công ty gây ra, bao gồm: Khí thải (Clo, CO, CO2,
SO4, C2H2, mùi sơn…) bụi, tiếng ồn, chất thải rắn. Bản cam kết cũng đã nêu một
số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm gồm: Thực hiện trồng cây xanh quanh khu vực
sản xuất, trang bị đầy đủ bảo hộ lao động cho công nhân, xây dựng hệ thống
thoát nước đảm bảo vệ sinh, xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững, bố trí các hoạt
động gây tiếng ồn lệch pha, thường xuyên kiểm tra chặt chẽ các thiết bị và các
van của bình khí, xây dựng nhà phun sơn…
3
Căn cứ vào bản cam kết bảo vệ môi trường của Công ty, sau khi tổ chức
thẩm định, UBND huyện đã ban hành Giấy xác nhận số 123/XN-UBND-TNMT
ngày 12/9/2011 đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường của Công ty, đồng thời
yêu cầu Công ty X:
cử cán bộ phòng phối hợp với UBND xã xác minh nội dung đơn của các hộ dân
thôn Đồng Bụt và tiến hành kiểm tra tại Công ty X. Tại thời điểm kiểm tra,
Công ty X đang tạm ngừng hoạt động nên chỉ kiểm tra được hồ sơ pháp lý và
những thành phần tĩnh, UBND xã đã lập biên bản làm việc ghi nhận những việc
đã làm được và chưa làm được của Công ty:
- Công ty có đầy đủ các thủ tục giấy tờ quy định về sản xuất kinh doanh
và qui định của Luật Bảo vệ môi trường như:
+ Giấy phép kinh doanh.
+ Cam kết và nộp đủ thuế theo quy định
+ Có Bản cam kết bảo vệ môi trường đã đường xác nhận dăng ký tại Giấy
xác nhấn số 123/XN-UBND-TNMT ngày 12/9/2011 của UBND huyện Quốc Oai.
+ Chưa có hệ thống xử lý nước thải; chưa có khu vực phun sơn riêng; Hệ
thống khí thải đơn giản không đúng với thiết kế đã cam kết; chưa thực hiện quan
trắc môi trường định kỳ như cam kết trong bản cam kết bảo vệ môi trường đã được
xác nhận.
- Đề nghị Công ty thực hiện các yêu cầu sau:
+ Thực hiện đầy đủ những nội dung đã cam kết tại Bản cam kết bảo vệ
môi trường đã được xác nhận và những yêu cầu bắt buộc ghi tại giấy xác nhận
số 123/XN-UBND-TNMT ngày 12/9/2011 của UBND huyện Quốc Oai.
+ Khu vực sơn của Công ty phải được đặt trong phòng kín cách ly. Lắp
đặt hệ thống xử lý khí thải theo thiết kế đã cam kết..
+ Công ty nghiêm túc thực hiện các biện pháp hạn chế ô nhiễm môi
trường.
- Việc Công ty hoạt động gây ô nhiễm đến khu vực dân cư xung quanh là
có. Tuy nhiên do Công ty đang tạm ngừng hoạt động nên không có cơ sở để xác
minh chính xác mức độ gây ô nhiễm môi trường. UBND xã và đại diện các hộ
dân đề nghị phòng Tài nguyên và môi trường, UBND huyện có biện pháp xử lý
đối với Công ty, yêu cầu Công ty thực hiện các giải pháp để chấm dứt tình trạng
5
2. Mục tiêu xử lý tình huống
6
Hoạt động quản lý và QLHCNN là hoạt động mang tính chủ động, sáng
tạo. Chủ thể quản lý phải luôn luôn dự tính những công việc của tương lai phù
hợp với sự vận động, phát triển của thực tế khách quan.
Lập các phương án giải quyết tình huống là đưa ra được tất cả các
phương án giải quyết tình huống có tính khả thi để làm cơ sở cho việc chọn
đúng phương án giải quyết tình huống tối ưu nhất. Các yêu cầu cơ bản của việc
lập phương án giải quyết tình huống là:
- Xác định rõ tình huống thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản pháp luật
nào để sử dụng văn bản pháp luật đó làm căn cứ giải quyết tình huống
- Xem xét thấu đáo chức năng, thẩm quyền của cơ quan, của cán bộ, công
chức lãnh đạo cơ quan để thực hiện đúng phạm vi thẩm quyền giải quyết tình huống
- Phải lập được đầy đủ các phương án khả thi để làm cơ sở cho việc chọn
đúng phương án giải quyết tình huống.
Căn cứ vào những phân tích ở trên, chúng ta thấy Công ty X có vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường. Hành vi vi phạm có quy định rõ ràng trong
khung luật. Vi phạm xảy ra trong thời gian dài. Quá trình vi phạm gây ảnh
hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân xung quanh dẫn đến việc phát
sinh đơn kiến nghị gửi đến cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy trong trường hợp
này phải xử lý nghiêm Công ty X. Về quan điểm, việc xử lý Công ty X chưa có
dấu hiệu tội phạm, việc xử lý sẽ tiến hành theo trình tự xử lý vi phạm hành
chính. Hình thức xử lý là phạt tiền; Hình thức xử phạt bổ sung, và Biện pháp
khắc phục hậu quả nếu trong quá trình xác minh thấy cần thiết.
2.3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả
2.3.1. Phân tích tình huống
- Khoản 2 Điều 130 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 về công bố, công
- Việc tổ chức đối thoại tiến hành như sau:
+ Chuẩn bị cho buổi đối thoại
* UBND xã có trách nhiệm gửi giấy mời, thông báo rõ về mục đích tổ
chức đối thoại và ấn định ngày tổ chức đối thoại cho Công ty X; đồng thời mời
đại diện nhân dân sống trong khu vực ô nhiễm; yêu cầu nhân dân có văn bản nêu
rõ các vấn đề cần yêu cầu phía Công ty X phải giải thích hoặc đối thoại;
* Cùng với giấy mời triệu tập đến đối thoại, UBND xã gửi cho Công ty X
(bên được yêu cầu đối thoại) văn bản về các vấn đề cần giải thích hoặc đối thoại;
8
* UBND xã có thể mời thêm Phòng Tài nguyên - Môi trường là cơ quan
quản lý chuyên ngành cấp trên dự họp, nắm tình hình để báo cáo với lãnh đạo
UBND huyện;
* Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu
cầu, bên nhận yêu cầu phải chuẩn bị các nội dung trả lời, giải thích, đối thoại;
trường hợp cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường yêu cầu tổ chức đối
thoại thì các bên có liên quan thực hiện theo quy định của cơ quan đã yêu cầu.
+ Tổ chức buổi đối thoại trực tiếp
Buổi đối thoại trực tiếp được tiến hành khi có sự tham gia đầy đủ của đại
diện nhân dân và đại diện có thẩm quyền của Công ty X. UBND xã Ngọc Liệp
là cơ quan chủ trì tổ chức đối thoại. Kết quả đối thoại phải được ghi chính xác,
trung thực thành biên bản ghi nhận các ý kiến, thỏa thuận, làm căn cứ để các bên
có trách nhiệm liên quan thực hiện hoặc để xem xét xử lý vi phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường, bồi thường thiệt hại về môi trường.
Tuy nhiên UBND xã Ngọc Liệp vẫn không thực hiện được những công
việc theo quy định trên nên công dân tiếp tục gửi đơn lên phòng Tài nguyên và
Môi trường, UBND huyện.
- Về trách nhiệm của cơ sở sản xuất, kinh doanh trong quản lý khí thải:
Theo quy định tại Điều 102 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì tổ chức, cá
UBND xã cần báo cáo UBND cấp huyện để tổ chức việc điều tra, xác định ô
nhiễm môi trường, làm căn cứ để xác định thẩm quyền xử lý cũng như các biện
pháp cần áp dụng để khắc phục ô nhiễm môi trường.
- Ở đây chúng ta cần lưu ý là đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh,
để được cấp phép đầu tư, triển khai hoạt động sản xuất thì hồ sơ của doanh
nghiệp phải có Báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi
trường, kế hoạch bảo vệ môi trường… Do đó, để xác định xem doanh nghiệp có
vi phạm quy định về bảo vệ môi trường hay không, hoặc nếu có vi phạm thì ở
mức độ nào, cần có sự điều tra, xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm và mức
độ ô nhiễm của cơ quan quản lý chuyên ngành về môi trường. Nội dung điều tra
về ô nhiễm môi trường theo quy định tại khoản 1 Điều 111 Luật Bảo vệ môi
trường 2014 gồm:
+ Phạm vi, giới hạn khu vực môi trường bị ô nhiễm;
+ Mức độ ô nhiễm;
+ Nguyên nhân, trách nhiệm của các bên liên quan;
+ Biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường;
10
+ Các thiệt hại đối với môi trường làm căn cứ để yêu cầu bên gây ô
nhiễm, suy thoái phải bồi thường.
- Căn cứ những phân tích tình huống ở trên và căn cứ Điều 1 Nghị định
số 179/2013/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường, chúng ta nhận thấy Công ty X có vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường. Xét theo Nghị định số 179/2013/NĐ-CP thì Công ty X có thể bị xử
lý vi phạm hành chính do các hành vi và hình thức xử lý như sau:
+ Vi phạm Điểm b, Khoản 1, Điều 8 Nghị định số 179/2013/NĐ-CP.
* Hành vi: Thực hiện không đầy đủ nội dung trong bản cam kết bảo vệ
môi trường đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.
việc về vấn đề môi trường tại xã Ngọc Liệp còn ít. Vì vậy UBND xã còn chưa
có kinh nghiệm trong quá trình giải quyết.
- Công cụ để xác định hành vi Công ty X gây ô nhiễm môi trường bằng
định lượng là khó khăn đối với cấp xã. Việc xác định Công ty X gây ô nhiễm
môi trường hoàn toàn là nhờ cảm quan.
- Về phía các cơ sở sản xuất: Chưa có ý thức, trách nhiệm về công tác bảo
vệ môi trường, có tâm lý đối phó trong việc phòng ngừa, kiểm soát nguy cơ gây
ô nhiễm môi trường, vì những lợi ích kinh tế, đầu tư không thích đáng hoặc
không đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường dẫn đến ô nhiễm môi trường, cơ
sở chưa chú trọng đầu tư hệ thống xử lý nước thải, chất thải, khí thải; quản lý
chất thải, chất thải nguy hại không đúng quy định, thải ra môi trường không qua
xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường cho phép; khi để xảy ra
tình trạng gây ô nhiễm môi trường không thực hiện đầy đủ các biện pháp khắc
phục…; không tuân thủ các quy định của pháp luật và yêu cầu của cơ quan quản
lý nhà nước về bảo vệ môi trường, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
2.3.3. Hậu quả
Việc giải quyết chậm trễ của UBND xã Ngọc Liệp đối với vụ việc gây
mất lòng tin trong nhân dân. Về phía dư luận cho rằng UBND xã đã cố tình bao
che cho hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Trong thời gian giải quyết đơn thư chậm, do chưa có kết luận xử lý nên
Công ty X chưa có động thái thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, bảo
12
vệ môi trường. Hành vi này có thể gây ô nhiễm môi trường xung quanh và ảnh
hưởng tới sức khỏe của người dân trong khu vực.
2.4. Các phương án giải quyết
2.4.1. Phương án 1
a. Phương án
nguy hại. Thực hiện quan trắc môi trường định kỳ. Thực hiện các quy định về
khai thác nước dưới đất và xả thải vào nguồn nước.
- Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện có vi phạm thì phải lập biên bản
vi phạm hành chính. Trong biên bản ghi rõ hành vi vi phạm; điều khoản vi phạm
theo quy định hiện hành của pháp luật.
- Đối với trường hợp có vi phạm được phát hiện thì trong thời gian 07
ngày làm việc đoàn kiểm tra phải có kết luận kiểm tra và có văn bản đề nghị chủ
tịch UBND huyện ra quyết định xử lý vi phạm hành chính.
b. Ưu điểm của phương án
- Quy trình xử lý vụ việc hành chính thực hiện theo đúng quy định của
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Chương II, thủ tục xử phạt, thi hành
quyết định xử phạt và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt).
- Giải quyết vụ việc kịp thời. Sau khi có Quyết định thành lập đoàn kiểm
tra, kế hoạch kiểm tra, đoàn kiểm tra có thể kiểm tra tại cơ sở và có phương án
lập biên bản vi phạm hành chính, kết luận có vi phạm hay không vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường.
- Đảm bảo pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, có tính răn
đe cao.
- Trách nhiệm giải quyết vụ việc là của đoàn kiểm tra. Đoàn kiểm tra về
cơ bản đã được trang bị đủ về chuyên môn (gồm cán bộ, chuyên viên các phòng
ban, cảnh sát môi trường), có thẩm quyền kiểm tra toàn diện Công ty X và tham
mưu cho UBND huyện phương án xử lý hành vi vi phạm trên phạm vi rộng hơn
chức năng tham mưu của riêng phòng Tài nguyên và Môi trường, có đủ dụng cụ
tác nghiệp (đã mời đơn vị quan trắc môi trường).
- Giải quyết vụ việc theo đúng chức năng, thẩm quyền, nhiệm vụ đã được
phân cấp cho UBND cấp huyện.
c. Nhược điểm của phương án
14
15
- Biên bản vi phạm hành chính có giá trị hành chính không cao. Nếu có
phát hiện vi phạm hành chính thì phải thông báo UBND xã và người làm chứng
để lập biên bản vi phạm hành chính. Sau khi lập xong biên bản phải gửi tới
người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính ký biên bản.
2.4.3. Phương án 3
a. Phương án:
UBND huyện lập hồ sơ, đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường hỗ trợ
kiểm tra và xử lý vi phạm tại Công ty X.
b. Ưu điểm của phương án
- Nếu Sở Tài nguyên và môi trường hỗ trợ thì việc xử lý vi phạm rất dễ
giải quyết do sở là cơ quan chuyên môn quản lý về lĩnh vực môi trường có trang
bị đầy đủ về chuyên môn, công cụ pháp lý đủ mạnh và dụng cụ phục vụ tác
nghiệp có sẵn.
- Mức độ sử lý vi phạm theo thẩm quyền của cấp sở và thành phố rất cao,
đặc biệt khi áp dụng các biện pháp kinh tế trong quản lý vì vậy có tác dụng lớn
trong việc răn đe các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.
- Về phía UBND huyện sẽ dễ dàng trả lời công dân khi vụ việc được giải
quyết. Đảm bảo khách quan và hạn chế được việc gửi đơn vượt cấp.
c. Nhược điểm của phương án
- Vụ việc nhỏ, có thể sở Tài nguyên và Môi trường sẽ không phối hợp do
thẩm quyền là của cấp huyện, sở Tài nguyên và Môi trường có thể chỉ hướng
dẫn phương án giải quyết.
- Tiến độ chậm do phải lập hồ sơ và có văn bản giải trình đối với sở Tài
nguyên và Môi trường. Thông thường đối với những vụ việc nhỏ, mức độ không
quá nghiêm trọng và thuộc thẩm quyền của cấp huyện đã được phân cấp thì cơ
quan cấp trên gửi trả hồ sơ về cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo chức
TT
1
2
3
Nội dung công việc
Văn bản đề nghị cử cán bộ tham gia
đoàn kiểm tra
Tờ trình đề nghị UBND huyện
quyết định thành lập đoàn kiểm tra
Quyết định thành lập đoàn kiểm tra,
nhiệm vụ đoàn kiểm tra, kinh phí
phục vụ kiểm tra
4
Kế hoạch kiểm tra, thông báo lịch
kiểm tra, họp phân công nhiệm vụ
kiểm tra
5
Kiểm tra tại thực địa (thời gian 5
ngày, không kể thời gian lấy mẫu
17/10/2015
Trưởng đoàn kiểm tra
UBND huyện
18-23/10/2015
Đoàn kiểm tra, đơn vị
lấy mẫu và phân tích
môi trường, UBND
Công ty X
18
Sản phẩm
Công văn, các
thành viên đoàn
kiểm tra và chức
danh công vụ của
từng người
Tờ trình, dự thảo
Quyết định
Quyết định
Kế hoạch, phân
công nhiệm vụ rõ
ràng cho từng
thành viên đoàn
Đoàn kiểm tra
Công ty X
Đơn vị lấy mẫu và
phân tích môi trường
Phòng phân
tích Môi
trường
8
Kết quả phân tích môi trường
Trước ngày
15/11/2011
9
Báo cáo kết luận kiểm tra
15/11/2011
Trưởng đoàn kiểm tra
UBND huyện
10
Quyết định xử lý
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường
11
Giao quyết định xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường
12
Nộp tiền phạt
13
Áp dụng các biện pháp giảm thiểu ô
nhiễm môi trường (Buộc trong thời
hạn do người có thẩm quyền xử
phạt ấn định trong quyết định xử
phạt vi phạm hành chính phải thực
hiện biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
môi trường)
huyện, có thể ủy
quyền cho phó chủ
tịch
cho chính quyền
xã, các hộ dân,
Công ty X. Riêng
Công ty X phải có
biên bản bàn giao
quyết định
Biên lai thu tiền
Các công trình xử
lý môi trường,
trang thiết bị, các
biện pháp bảo vệ
môi trường
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Trên đây là một tình huống xảy ra rất phổ biến tại các địa phương. Qua
quá trình nghiên cứu và đề xuất phương án giải quyết tình huống nêu trên tôi rút
ra một số kết luận sau:
- Việc tuyên truyền Luật Bảo vệ môi trường chưa được sâu rộng và chưa
thường xuyên nên việc nhận thức của nhân dân, các cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp về công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế.
- Công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường còn hạn chế, Nhiều
các dự án đầu tư, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện, không có báo
cáo đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường được cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt hoặc xác nhận đăng ký.
- Cán bộ làm công tác quản lý về môi trường còn thiếu về số lượng, trình độ
chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn nên gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong
công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Các xã, thị trấn chưa có cán bộ chuyên trách
quả công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường từ huyện đến cơ sở
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy
định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng
trong việc phát hiện ô nhiễm, thu thập chứng cứ tại chỗ, đầu tư các phương tiện
phục vụ giám sát hiện trường.
- Từng bước cụ thể và thể chế hoá các văn bản pháp luật để xây dựng và
ban hành cơ chế về bảo vệ môi trường phù hợp với tình hình địa phương nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Tăng cường nguồn lực tài chính trong bảo vệ môi trường, từng bước xã
hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
22