Tiểu Luận Xử lý vi phạm hành chính của Bà Nguyễn Thị A trong việc xây dựng nhà trái pháp luật - Pdf 26

MỤC LỤC
I – LỜI MỞ ĐẦU
1.1 – Lý do chọn đề tài
1.2 – Mục tiêu nghiên cứu
1.3 – Giới hạn đề tài
1.4 – Phương pháp nghiên cứu
II – NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 – Tóm tắt tình huống:
2. 2 – Diễn biến tình huống:
2. 3 – Phân tích tình huống:
2.3.1 – Bà Nguyễn Thị A:
2.3.2 – Phòng Công thương huyện:
2.3.3 – Cán bộ địa chính thị trấn:
2. 3.4 Thanh tra Sở Xây dựng:
2.3.5 Chủ tịch UBND huyện K:
2.4 – Nguyên nhân và hậu quả
2.5 – Các phương án giải quyết khiếu nại của Bà Nguyễn Thị A:
2.6 – Chọn phương án tối ưu:
III – KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
3.1 – Kết luận
3.2 – Kiến nghị
IV – TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
LỜI NÓI ĐẦU
1.1 – Lý do chọn đề tài
Thực hiện chủ trương đổi mới, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta
tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
định hướng XHCN; kinh tế - xã hội của cả nước luôn có sự tăng trưởng khá, đời
sống nhân dân được nâng cao, bộ mặt thành thị và nông thôn được cải thiện đáng
kể.
Để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa hiện

Do đề tài thuộc lĩnh vực nghiên cứu sâu rộng và thời gian hoàn thiện có
hạn nên đề tài chỉ được nghiên cứu trên các tài liệu và các phương tiện thông tin
liên quan đến “ vụ án hành chính”.
2
Đề tài chỉ được nghiên cứu trong khuôn viên trường đại học công nghệ
sinh học vạn xuân.
II – NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 – Tóm tắt tình huống:
Bà Nguyễn Thị A, cư ngụ tại thị trấn K, làm đơn xin giấy phép xây dựng
nhà trên nền nhà cũ và ngày 02/3/2009 được phòng Công thương huyện H cấp
giấy phép xây dựng với diện tích là 4m X 15 m.
Phòng Công Thương cùng cán bộ địa chính thị trấn K tiến hành cắm mốc
xây dựng, có sự xác nhận không lấn ranh của hộ ông B và đất công cộng giáp
ranh với bà A.
Nhưng khi tiến hành, Bà Nguyễn Thị A đã xây dựng nhà theo quy cách 01
trệt, 01 lầu với diện tích là 120m2 và nhà xây lại lấn ranh đất công cộng 4,5 m2.
Sau đó, Thanh tra Sở xây dựng phát hiện việc xây nhà trái pháp luật của Bà
Nguyễn Thị A và đã làm văn bản kiến nghị phòng Công thương huyện H xem
xét lại việc xây dựng nhà trái phép này, đồng thời Đoàn Thanh tra Sở xây dựng
xử phạt vi phạm hành chính đối với Bà Nguyễn Thị A là 7.500.000 đồng.
Thực hiện kiến nghị của Đoàn Thanh tra Sở xây dựng, Phòng Công thương
huyện H kiểm tra việc xây dựng và buộc Bà Nguyễn Thị A tháo dỡ phần xây
dựng trái phép; Đồng thời kiến nghị Chủ tịch UBND huyện xử phạt vi phạm
hành chính 20.000.000 đồng.
Sau đó, Chủ tịch UBND huyện H ra quyết định xử phạt vi phạm hành
chính đối với Bà Nguyễn Thị A là 20.000.000 đồng và buộc Bà tháo dỡ toàn bộ
ngôi nhà, trả lại hiện trạng ban đầu.
Ngày 10/8/2009, Bà A làm đơn gửi đến UBND huyện H và Sở Xây dựng
tỉnh khiếu nại với lý do tháo dỡ toàn bộ ngôi nhà là quá nặng, ảnh hưởng đến
kinh tế của gia đình.

2. 3 – Phân tích tình huống:
* Cơ sở pháp lý viện dẫn:
Một số văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng để phân tích tình huống:
- Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003
Trong đó chú ý các Điều liên quan như:
+ Khoản 1, điều 62, quy định trước khi khởi công xây dựng công trình chủ
đầu tư phải có giấy phép xây dựng, trừ trường hợp có quy định khác.
+ Tại Khoản 2, Điều 66 quy định thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng: Uỷ
ban nhân dân cấp huyện cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình xây dựng
trong đô thị, các trung tâm cụm xã thuộc địa giới hành chính do mình quản lý,
trừ các công trình xây dựng quy định tại khoản 1 Điều này.
+ Tại Khoản 3, Điều 67 quy định về trách nhiệm của cơ quan cấp giấy
phép xây dựng phải kiểm tra việc thực hiện xây dựng theo giấy phép, đình chỉ
xây dựng, thu hồi giấy phép xây dựng khi chủ đầu tư xây dựng công trình vi
phạm; Khoản 6 quy định Giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc cấp giấy phép xây
dựng.
+ Khoản 1, khoản 2, Điều 68 quy định về Quyền và nghĩa vụ của người xin
cấp giấy phép xây dựng: Người xin cấp giấy phép xây dựng có quyền yêu cầu cơ
quan cấp giấy phép xây dựng giải thích, hướng dẫn và thực hiện đúng các quy
định về cấp giấy phép xây dựng; Thực hiện đúng nội dung của giấy phép xây
dựng; khi có sự điều chỉnh, thay đổi thiết kế phải được sự chấp thuận của cơ
quan cấp giấy phép xây dựng.
+ Khoản 4, Điều 112 về cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng có quy
định Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về xây
dựng trên địa bàn theo phân cấp của Chính phủ.
4
+ Điều 113, 114, 115 về Thanh tra xây dựng có quy định về nhiệm vụ của
thanh tra xây dựng trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền
hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về
xây dựng; Có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu và

+ Điều 149 quy định việc xử lý đối với người vi phạm pháp luật về nhà ở;
Người có hành vi vi phạm pháp luật về nhà ở thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Tổ chức, cá
nhân xây dựng nhà ở sai quy hoạch, không có giấy phép xây dựng đối với trường
hợp phải có giấy phép hoặc xây dựng sai với giấy phép thì phải bị xử lý theo quy
định của pháp luật; Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định
của pháp luật về nhà ở, thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm hoặc
có hành vi vi phạm khác làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của chủ sở hữu nhà ở,
người sử dụng hợp pháp nhà ở thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử
5
lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định
của pháp luật.
- Bộ Luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005.
Điều 265 quy định Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian
và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với
quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không
được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.
- Luật đất đai năm 2003 và các luật sửa đổi, bổ sung luật đất đai.
Điều 107 quy định nghĩa vụ của người sử dụng đất phải sử dụng đất đúng
mục đích, đúng ranh giới.
- Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 24/6/2004 và Luật sử đổi, bổ sung
một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày12/12/2005.
+ Điều 1 quy định tổ chức, công dân có quyền khiếu nại quyết định hành
chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định,
hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
+ Điều 3 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kiểm tra, xem
xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật của
mình, nếu thấy trái pháp luật thì kịp thời sửa chữa, khắc phục để tránh phát sinh

trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị.
+ Điều 57 quy định thẩm quyền xử phạt của Chánh thanh tra Sở Xây dựng
được phạt tiền đến 30.000.000 đồng; Tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng,
giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền của cấp huyện, cấp sở
cấp; Ban hành quyết định xử phạt hành chính trong trường hợp Chủ tịch ủy ban
nhân dân cấp huyện chậm ban hành quyết định xử phạt theo quy định; Áp dụng
các biện pháp khắc phục hậu quả:. Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị
thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;
+ Điều 60 quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp
huyện được phạt tiền đến 30.000.000 đồng; Áp dụng các biện pháp khắc phục
hậu quả; Buộc khôi phục tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành
chính gây ra.
- Thông tư số 24 /2009/TT-BXD của Bộ Xây dựng ngày 22 tháng 7 năm
2009:
+ Điều 11 quy định về thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt bổ sung của
Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện; Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện còn
có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy
phép đăng ký kinh doanh, giấy phép xây dựng, các loại giấy phép và chứng chỉ
hành nghề khác thuộc thẩm quyền ủy ban nhân dân cấp huyện cấp;
2.3.1 – Bà Nguyễn Thị A:
*Mặt tích cực:
- Khi có nhu cầu xây dựng nhà ở trên nền ngôi cũ, Bà đã làm đủ thủ tục xin
phép xây dựng gửi đến Phòng Công thương huyện H, thể hiện ý thức trong việc
chấp hành quy định của nhà nước trên lĩnh vực xây dựng; Thực hiện đúng theo
khoản 1, điều 62, Luật xây dựng về yêu cầu trước khi khởi công xây dựng công
trình nhà ở riêng lẻ đô thị phải xin giấy phép xây dựng.
- Trong quá trình phòng Công thương và cán bộ địa chính của thị trấn K
đến cắm mốc xây dựng, Bà thống nhất ranh đất liền kề theo xác nhận không lấn
ranh của hộ Ông B và ranh đất công cộng đúng theo quy định.
- Khi được cấp phép xây dựng và được cắm mốc, Bà mới tiến hành xây

*Mặt tích cực:
- Tiếp nhận hồ sơ và cấp phép xây dựng nhà ở cho Bà A đúng theo khoản
1, điều 62; khoản 2, điều 66 của Luật xây dựng; Cùng cán bộ địa chính thị trấn K
cắm mốc xây dựng cho Bà A, đảm bảo có xác nhận không lấn ranh của hộ liền
kề và ranh đất công cộng là đúng thẩm quyền quy định.
- Nhận được công văn kiến nghị của Đoàn Thanh tra Sở xây dựng, phòng
đã tiến hành kiểm tra việc xây dựng của hộ Bà A và có kết luận cụ thể việc xây
dựng sai phép và lấn ranh đất công cộng đúng thẩm quyền quản lý.
- Việc buộc Bà A tháo dỡ phần xây dựng trái phép và kiến nghị Chủ tịch
UBND huyện xử phạt vi phạm hành chính đối với Bà A là 20.000.000 đồng là
đúng thẩm quyền quy định tại điều 60 của Nghị định 23/2009/NĐ-CP về thẩm
quyền xử phạt của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, mức đề nghị
xử phạt 20.000.000 đồng là không có căn cứ pháp lý, vì Bà A xây dựng nhà ở sai
nội dung giấy phép được cấp là vi phạm điểm b, khoản 1, điều 11 của Nghị định
23/2009/NĐ-CP. Theo đó, hành vi xây dựng nhà ở riêng lẻ đô thị sai nội dung
giấy phép thì chỉ bị xử phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
8
*Mặt hạn chế:
- Là cơ quan quản lý, cấp phép trên lĩnh vực xây dựng nhưng thiếu kiểm
tra, không kịp thời phát hiện vi phạm trong việc xây dựng không đúng so với
giấy phép và lấn ranh đất công cộng của Bà A. Đó là chưa thực tốt trách nhiệm
quản lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn quản lý theo phân cấp của Chính phủ
được quy định tại điều 112 Luật xây dựng.
- Khi nhận được Công văn kiến nghị của Đoàn Thanh tra Sở xây dựng mới
tiến hành kiểm tra, đến khi kiểm tra kiến nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp
huyện xử phạt hành chính đối với Bà A 20.000.000 đồng là không có căn cứ
pháp lý
- Chưa chủ động phối hợp Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, cán bộ
địa chính thị trấn K để lập biên bản hành vi lấn chiếm đất công của Bà A.
2.3.3 – Cán bộ địa chính thị trấn:

dựng.
2.3.5 Chủ tịch UBND huyện K:
*Mặt tích cực:
- Chủ tịch UBND huyện ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
đối với Bà A trong việc xây nhà trái pháp luật là đúng thẩm quyền theo điều 112
Luật Xây dựng và điều 60 của Nghị định 23/2009/NĐ-CP của Chính phủ;
Nhưng mức phạt bằng tiền 20.000.000 đồng và hình thức phạt bổ sung buộc tháo
dỡ toàn bộ ngôi nhà là không có cơ sở pháp lý.
*Mặt hạn chế:
- Chưa thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở phòng Công thương trong việc
thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên lĩnh vực xây dựng.
- Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bà A là đúng
thẩm quyền, nhưng mức xử phạt 20.000.000 đồng là không có căn cứ pháp lý, vì
Bà A xây dựng nhà ở sai nội dung giấy phép được cấp là vi phạm điểm b, khoản
1, điều 11 của Nghị định 23/2009/NĐ-CP; Theo đó, hành vi vi phạm của Bà A
có khung xử phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Bên cạnh đó về
hình thức phạt bổ sung buộc tháo dỡ toàn bộ căn nhà là không có cơ sở, vì Bà A
chỉ xây dựng lấn chiếm đất công 4,5m2 (30 cm X 15 m), phần còn lại không ảnh
hưởng đến phần đất công liền kề.
- Việc ban hành quyết định chưa lấy ý kiến các phòng chuyên môn, chưa
đảm bảo quy định pháp luật. Mặt khác, việc để bà A xây dựng ngôi nhà sai phép
và lấn ranh đất công cộng còn là trách nhiệm của các phòng liên quan và UBND
thị trấn K chưa kịp thời kiểm tra, ngăn chặn ngay từ đầu. Qua những phân tích
tình huống nêu trên chúng ta thấy nổi lên những nguyên nhân và hậu quả sau:
2.4 – Nguyên nhân và hậu quả
*Nguyên nhân:
- Nguyên nhân chủ quan: Ý thức chấp hành pháp luật, nhất là pháp luật trên
lĩnh vực xây dựng của một bộ phận nhân dân chưa cao.
- Nguyên nhân khách quan:
+ Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực xây dựng của cơ quan chuyên

không tốt và hạn chế thiệt hại về kinh tế cho Bà A là cần thiết.
2.5 – Các phương án giải quyết khiếu nại của Bà Nguyễn Thị A:
2.5.1 – Phương án 1:
Căn cứ theo điều 112 Luật Xây dựng về công tác quản lý nhà nước về xây
dựng theo phân cấp của Chính phủ; điều 60 của Nghị định số 23/2009/NĐ-CP
của Chính phủ; Giữ nguyên Quyết định của Chủ tịch UBND huyện K ngày
05/8/2009 xử phạt vi phạm hành chính đối với Bà Nguyễn Thị A là 20.000.000
đồng và buộc Bà tháo dỡ toàn bộ ngôi nhà, trả lại hiện trạng ban đầu.
Ưu điểm:
Việc giữ nguyên quyết định này giữ nghiêm được trật tự, kỷ cương trong
quản lý nhà nước trên lĩnh vực xây dựng, bảo đảm tính hiệu lực của quyết định
đã được Chủ tịch UBND huyện ban hành.
Hạn chế:
Quyết định của Chủ tịch UBND huyện K về xử phạt vi phạm hành chính
đối với Bà A là 20.000.000 đồng và buộc Bà tháo dỡ toàn bộ ngôi nhà, trả lại
hiện trạng ban đầu là không đúng căn cứ pháp lý; Việc buộc tháo dỡ toàn bộ
ngôi nhà sẽ thiệt hại lớn về kinh tế cho bà A. Quá trình buộc tháo dỡ có thể phát
sinh những khiếu nại kéo dài và phải tiến hành cưỡng chế thi hành quyết định
nếu bà A không tự giác thi hành. Mặt khác, Bà A có thể khởi kiện đối với quyết
định hành chính này của Chủ tịch UBND huyện tại Tòa án nhân dân huyện.
11
2.5.2. Phương án 2:
Căn cứ điều 112 Luật Xây dựng; Điều 21, 22 Luật Nhà ở; khoản 1, điều 11,
điều 60 của Nghị định 23/2009/NĐ-CP của Chính phủ. Chủ tịch UBND huyện K
thu hồi Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 05/8/2009 đối với Bà A,
ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mới đối với Bà A, mức phạt
bằng tiền là 10.000.000 đồng và buộc Bà A làm cam kết tháo dỡ phần xây dựng
lấn chiếm đất công khi nhà nước có nhu cầu sử dụng.
Ưu điểm:
Đảm bảo căn cứ pháp lý và việc thi hành quyết định, trước mắt giảm thiệt

2.6 – Chọn phương án tối ưu:
Chọn phương án 3 vì các lý do:
12
- Đảm bảo căn cứ pháp lý và tính nghiêm minh của pháp luật khi ban hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bà A, với mức phạt 10.000.000
đồng và buộc tháo dỡ phần xây dựng lấn chiếm đất công.
- Tạo điều kiện cho Bà A khắc phục ngay hậu quả của việc xây dựng trái
phép. Sau khi Bà A tháo dỡ phần xây dựng lấn chiếm, tuy có ảnh hưởng về kinh
tế nhưng Bà có điều kiện tiếp tục hoàn thiện ngôi nhà, an tâm trong cuộc sống.
- Phương án này tạo được sự đồng tình cao trong xã hội và có tính giáo
dục, ngăn chặn các hành vi vi phạm tương tự trên lĩnh vực xây dựng.
III – KIẾN NGHỊ-KẾT LUẬN:
3.1 – Kiến nghị:
Qua giải quyết khiếu nại của Bà Nguyễn Thị A đối với quyết định của Chủ
tịch UBND huyện, xin có một số kiến nghị sau:
- UBND huyện cần chỉ đạo phòng Công thương phối hợp UBND thị trấn
K tổ chức công bố thực hiện quyết định của Chủ tịch UBND huyện; đồng thời
phải kiểm điểm Bà A về việc vi phạm quy định trên lĩnh vực xây dựng và quản
lý đất đai. Kiểm điểm trách nhiệm của Phòng Công thương trong việc thực hiện
chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực xây dựng; Nâng cao chất lượng đội
ngũ CB-CC cả về năng lực và tinh thần trách nhiệm trong việc thi hành công vụ,
đặc biệt là đối với vai trò trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan.
Cần phê bình đối với cán bộ địa chính và UBND thị trấn K về tinh thần
trách nhiệm trong việc quản lý đối với địa bàn phụ trách. Vì cán bộ địa chính thị
trấn ở tại cơ sở, nếu phát hiện ngay việc lấn chiếm đất công của Bà A và báo cáo
cơ quan có thẩm quyền chặn từ đầu thì sẽ không gây ra hậu quả phải giải quyết
như trên.
- UBND huyện cần giao ngành chức năng giám sát việc thực hiện Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính của Bà A là nộp phạt và tháo dỡ phần xây dựng
lấn chiếm đất công đúng quy định.

Sống và làm theo pháp luật là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân;
Đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp trong công tác chuyên môn, công tác
tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, theo dõi kiểm tra xử lý kịp thời hành
vi vi phạm… là một trong các biện pháp nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm,
nhất là trên lĩnh vực xây dựng. Thực hiện tốt hai yêu cầu trên sẽ góp phần vào
việc giữ gìn trật tự kỷ cương hành chính.
Làm tại Tân Trụ 11/10/2009.
IV – TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003
2- Luật Nhà ở số 56/2005/QH11 do Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005; Luật
sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai số
34/2009/QH12 ngày 29/6/2009.
3- Bộ Luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005. 4/- Luật đất
đai năm 2003 và các luật sửa đổi, bổ sung luật đất đai.
5- Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 24/6/2004 và Luật sử đổi, bổ sung một
số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày12/12/2005.
6- Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ về
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản;
khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ
thuật; quản lý phát triển nhà và công sở.
6- Thông tư số 24 /2009/TT-BXD của Bộ Xây dựng ngày 22 tháng 7 năm 2009
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status