r r TT-TV ♦ ĐHỌGHN
599.9
LU-T
2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA - HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHÂN VAN
L J -
NGUYÊN
LÝ
THỜI SINH HỌC vởl VIỆC
Dự BÁO SỨC KHỎE VÀ TÍNH CÁCH CỦA NGƯỜI VIỆT
ở CHÂU THỔ SÔNG HỒNG
Mã số đề tài: Q.x.2004.13.
Người chủ trì: Lương Gia Tĩnh.
Đơn vị công tác: Khoa Triết học.
Đ Ạ I H ỌC QUO C G IA HA NỌ|
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỀN
Hà Nội, 2005
DT/00491
MỤC LỤC
Trang
A- Nguyên lý sinh học trong triết học cổ đại phương đông 1
1. Vấn đề không gian và thời gian 1
1.1. Khắc 3
1.2. Giờ 5
1.3. Ngày 8
1.4. Tháng và tiết khí 9
1.5. Năm 15
2. Thời gian trong mối quan hộ với vũ trụ và sinh thể 16
cường độ ánh sáng mạnh hay yếu, nhiệt độ nóng hay lạnh, độ ẩm nhiều hay
ít. Thời gian là giờ, ngày, tháng, năm (hoặc dưới giờ là phân, khắc; trên
năm là các mốc lớn hơn như Giáp, Hợi
).
Khí âm - dương trong môi trường sống là cường độ ánh sáng, nhiệt độ
và độ ẩm tuy chỉ được biểu hiện trong môi trường cụ thể mà con người
nhận biết được bằng cảm giác thông thường nhưng lại là nhân tố tác động
vào sự sống nhiều nhất, mạnh nhất.
Từ thời cổ đại, người phương Đông đã có một quan niệm rất biện
chứng về mối quan hộ giữa không gian và thời gian, vật chất luôn luôn vận
động trong không gian và thời gian. Khi nhìn dòng sông chảy, Khổng Tử đã
thốt lên: ‘Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ” (Ôi, dòng sông chảy mãi,
không lúc nào ngưng nghỉ). Thời gian là phương thức ghi lại quá trình vật
2
chất vận động trong không gian theo thứ tự trước sau, ngắn dài. Điểm khác
nhau căn bản giữa cách tính thời gian của người phương Đông và người
phương Tây là chuẩn mốc để xác định chu kỳ của 4 đơn vị thời gian cơ bản:
giờ, ngày, tháng, năm.
Cơ sở của phép làm lịch của phương Tây là thuần tuý dựa vào vòng
quay của mặt trời xung quanh trái đất (chuyển động biểu kiến - giả thiết trái
đất là định tinh, mặt trời là hành tinh) trong chu kỳ một năm. Từ ngày 1/1
năm này đến ngày 1/1 năm sau hết 365 ~ 1/4 ngày (từ điểm mạt trời mọc
hôm trước đến điểm mặt trời mọc hôm sau). Vì chỉ căn cứ vào sự chuyển
động của mặt trời nên gọi là Dương lịch (lịch mặt trời). Lịch mật trời có ưu
điểm là theo dõi chính xác diễn biến thời tiết nóng lạnh trực cảm, do độ bức
xạ của mặt trời gây nên, nhưng điểm hạn chế căn bản của nó là không đề
cập tới ảnh hưởng của mặt trăng đối với môi trường, sinh thể trên trái đất.
Hầu hết những trung tâm văn minh lớn của phương Đông đều ở lưu
vực các con sông lớn, chủ nhân của nó là những cư dân nông nghiệp, chãn
100
Ngày xưa người ta làm một dụng cụ chứa cát hoặc nước, cho chảy từ
từ đều đặn. Thoạt đầu, người ta mở lỗ và đánh dấu vạch đầy của nước (hoặc
cát khô) vào lúc chính Ngọ (xác định giờ chính Ngọ là khi mà bóng ngả của
ánh sáng mặt trời đổ dọc trùng với đường kim chỉ hướng Nam của la bàn).
Qua một ngày đêm, nước (hoặc cát) chảy ra vơi đi đến chính Ngọ hôm sau,
người ta chia khoảng cách giữa hai vạch đầy và vơi ấy làm 100 đoạn, mỗi
đoạn là một khắc. Từ đó, hàng ngày vào đầu giờ Dần người ta tiến hành đổ
nước (hoặc cát) vào đổng hổ cho tới vạch đẩy, theo vạch đã chia để đếm số
khắc. Mỗi ngày đêm có 12 giờ (can-chi), mỗi giờ (8,33 khắc).
ứng dụng của khắc, chủ yếu được dùng trong y học phương Đồng cổ
truyền, để tính vòng vận hành của kinh khí trong cơ thể con người. Chẳng
4
hạn, trong Vệ khí hành luận có đoạn: “Nước xuống một khắc, nhân khí tại
Thái dương; nước xuống hai khắc, nhân khí tại Thiếu dương; nước xuống ba
khắc, khí tại Dương minh; nước xuống bốn khắc, khí tại Âm phần; nước
xuống năm khắc, khí tại Thái dương; nước xuống sáu khắc, khí tại Thiếu
dương; nước xuống bảy khắc, khí tại Dương minh; nước xuống tám khắc,
khí tại Âm phần; nước xuống chín khắc, khí tại Thái dương; nước xuống
mười khắc, khí tại Thiếu dương; nước xuống mười một khắc, khí tại Dương
minh; nước xuống mưòi hai khắc, khí tại Âm phần; nước xuống mười ba
khắc, khí tại Thái dương; nước xuống mười bốn khắc, khí tại Thiếu dương;
nước xuống mười lăm khắc, khí tạo Dương minh; nước xuống mười sáu
khắc, khí tại Âm phần; nước xuống mười bảy khắc, khí tại Thái dương;
nước xuống mười tám khắc, khí tại Thiếu dương; nước xuống mười tám
khắc, khí tại Thiếu dương; nước xuống mười chín khắc, khí tại Dương
minh; nước xuống hai mươi khắc, khí tại âm phần; nước xuống hai mươi
mốt khắc, khí tại Thái dương; nước xuống hai mươi hai khắc, khí tại Thiếu
dương; nước xuống hai mươi ba khấc, khí tại Dương minh; nước xuống hai
mươi bốn khắc, khí tại Âm phần; nước xuống hai mươi lăm khắc, khí tại
12 365,25
Trong các môn dự báo của phương Đông, cơ sở tính toán là giờ. Giờ
cổ truyền là loại giờ địa phương cụ thể, nó mang nội dung thời sinh học,
cho nên việc xác định giờ chuẩn phải dựa vào bóng ngả của ánh sáng mặt
trời tại địa phương cụ thể. Khi bóng ngả của ánh sáng mặt trời trùng khít
với đường theo hướng chỉ nam của mũi kim trên la bàn, đó là lúc chính giữa
6
giờ Ngọ (thường gọi tắt là chính Ngọ), hướng ngược với chính Ngọ là
chính Tý, hướng vuông góc với chính Ngọ - chính Tý về hai phía là chính
Mão và chính Dậu. Trước hướng chính Ngọ một góc bằng 1/24 đường tròn
là bắt đầu giờ Ngọ. Sau góc chính Ngọ một góc bằng 1/24 đường tròn là hết
giờ Ngọ. Cách chia vạch và khắc của dụng cụ đo giờ (Nhật quĩ) cũng giống
như cách chia trên đồng hổ nước (hoặc cát). Do cách chia giờ theo bóng ngả
của mặt trời trên mặt đất nên ta gọi là giờ Địa chi (chia trên mật đất). Tên
gọi của 12 giờ địa chi là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân,
Dậu, Tuất, Hợi.
Mười hai giờ theo địa chi kết hợp với mười thiên can (Giáp, Ất, Bính,
Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quí) thành tên gọi đầy đủ can - chi của
giờ. Cách xác định can của giờ, được căn cứ theo can của giờ:
Ngày Giáp, ngày Kỉ: là giờ giáp tý, ất sửu, bính dần
Ngày ất, ngày Canh: là giờ bính tý, đinh sửu, mậu dần
Ngày Bính, ngày Tân: là giờ mậu tý, kỉ sửu, canh dần
Ngày Đinh, ngày Nhâm: là giờ canh tý, tân sửu, nhàm dần
Ngày Mậu, ngày Quí: loà giờ nhâm tý, quí sửu, giáp dần
Ý nghĩa về dự báo, các nhà y, lý, số xưa chú trọng nhiều đến thiên can
(bởi mỗi chữ của thiên can đều mang một nội dung có ý nghĩa thông báo
nhất định) hơn là địa chi. Chẳng hạn, với y học cổ Phương đông, thiên can
không chỉ đơn thuần là một hộ số đếm thập phân mà nó còn là một quy luật
thời sinh học ứng với các bộ phận trong cơ thể con người, rất quan trọng
trong việc dự báo, chẩn trị bệnh tật cũng như dự báo về tính cách, khí chất
độ lệch kinh độ ra độ lệch thời gian như sau: 01 độ kinh độ bằng 04 phút
đồng hồ thông dụng; 15 phút kinh độ bằng 01 phút đồng hồ thông dụng.
Chẳng hạn, ta lấy múi giờ thứ 7 làm 0 giờ, vậy — *7 = 105 là chính
Tý. Nơi nào lùi về phía Đông kinh tuyến 105, cứ 01 kinh độ thì giảm 04
phút. Thí dụ, tại Phan Rang (kinh tuyến 109) giờ Tý sẽ đến trước (so với
kinh độ 105) là: 4x (109 - 105) = 16 phút.
Giờ
Địa
chi
Tý
Sửu Dần
Mão Thìn
Tỵ
Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
Giờ
thông
dụng
23-1
1-3 3-5
5-7
7-9 9-11
11-13 13-15
15-17
17-19 19-21
21-23
1.3. Ngày.
Ngày là đơn vị thời gian được tính bằng một vòng tự xoay của quả đất,
lấy một điểm chuẩn góc chiếu sáng của mặt trời làm mốc. Trên thực tế, quả
đất vừa tự xoay quanh trục của mình, vừa di chuyển trên quĩ đạo quanh mặt
trời. Với điểm chuẩn là mặt trời, trị số của góc tự xoay một ngày của quả
1.4. Tháng và tiết khí.
Tháng theo Âm - dương hợp lịch là vấn đề phức tạp nhất trong phép
làm lịch, bởi nó là con số kết hợp hai chu kỳ của mặt trăng và mặt trời xoay
10
quanh một vòng tròn khép kín. Con số đó lại là số không chia hết, là số vô
tỷ, và người ta ghi nhận một tháng là (29.503588
ngày.
Tháng tính theo mặt trăng (âm lịch), mặt trăng vượt một vòng Bạch
đạo hết 27,321661 ngày, một năm có -355 ngày, trong khi đó tháng theo
dương lịch có 29,503588 ngày, do vậy năm Âm - dương hợp lịch phải có
thêm tháng nhuận (năm có 13 tháng).
Ngoài đặt tên tháng theo thứ tự (như tháng Giêng, tháng hai
) còn
có cách gọi tên tháng theo can - chi. Hiện nay chúng ta đang dùng tháng
Kiến Dần, tức là lấy tháng Giêng là tháng Dần, theo kinh nghiệm quan sát
thiên văn, cứ vào lúc hoàng hôn (giờ Dậu) tháng Giêng nhìn lên bầu trời
phương Bắc thấy chùm sao Bắc Đẩu chỉ về hướng cung Dần, lấy tên cung
Dần đặt làm tháng Giêng.
Căn cứ theo can của năm để xác định can của tháng:
Năm Giáp, năm Kỉ: tháng giêng là bính dần, tháng hai là đinh mão,
tháng ba là mậu thin
Năm Ât, năm Canh: tháng giêng là mậu dần, tháng hai là kỉ mão,
tháng ba là canh thin
Năm Bính, năm Tân: tháng giêng là canh dần, tháng hai là tân mão,
tháng ba là nhâm thin
Năm Đinh, nám Nhâm: tháng giêng là nhâm dần, tháng hai là quí
mão, tháng ba là giáp thin
Năm Mậu, năm Quí: tháng giêng là giáp dần, tháng hai là ất mão,
khí), tháng nãm
10. Hạ chí: Giữa mùa hạ. (Trung khí)
11. Tiểu thử: Bắt đầu nóng nực. (Tiết khí), tháng sáu.
12. Đại thử: Nóng nực nhiều. (Trung khí)
13. Lập thu: Bắt đầu mùa thu. (Tiết khí), tháng bảy.
14. Xử thử: Mưa ngâu. (Trung khí)
15. Bạch lộ: Có sương mù trắng. (Tiết khí), tháng tám.
16. Thu phân: Giữa mùa thu. (Trung khí)
17. Hàn lộ: Có sương mù lạnh. (Tiết khí), tháng chín.
18. Sương giáng: Sương đọng thành giọt rơi xuống. (Trung khí)
19. Lập đông: Đầu mùa Đông. (Tiết khí), tháng mười.
20. Tiểu tuyết: Bắt đầu có tuyết ít. (Trung khí)
21. Đại tuyết: nhiều tuyết phủ dày. (Tiết khí), tháng một.
12
13
22. Đông chí: Giữa mùa Đông. (Trung khí)
23. Tiểu hàn: Bắt đầu giá rét. (Tiết khí), tháng chạp.
24. Đại hàn: Giá rét nhiều. (Trung khí).
Ngoài ra, theo cách tính của các nhà Dịch học (Dịch thời) và Âm -
dương gia, người ta còn căn cứ vào sự chuyển dịch của Âm dương trong các
quẻ dịch qua tiết nhịp của thời gian, chia một năm ra 12 phần âm và dương,
đặt tên cho từng tháng theo độ tiến lui của âm và dương. Một năm bắt đầu
từ tháng Một (tháng 11), là tháng Tý, có tiết Đông chí gọi là tháng Nhất
dương sinh, tính đến tháng Tư là tháng Lục dương sinh. Tháng Năm là
tháng Nhất âm sinh, đến tháng 10 là tháng Lục âm sinh, cứ theo vòng tuần
hoàn như vậy. Đây là loại lịch được dùng phổ biến trong y học và trong
nông nghiệp để theo dõi sức khoẻ con người, định chế độ ăn uống (dưỡng
sinh) và theo dõi chu kỳ sinh trưởng của sinh giới.
Từ quan sát lâu dài tự nhiên giới, người ta cho rằng: âm - dương là hai
thuộc tính, tính năng, khuynh hướng thống nhất trong một chỉnh thể của
nước Sở, trầm mình xuống sông Mịch La, thực chất là một lễ thức cổ của
người Việt ở phương nam theo nguyên lý thời sinh học. Truyền thống của
người Việt ở Châu thổ Sông Hồng, vào ngày 5/5 thường thực hiện những
hèm như: ăn một loại quả nào đó vào lúc vừa ngủ dậy (gọi là giết sâu bọ),
bôi phẩm hoặc là lá cây có mầu đỏ (biểu tượng của khí dương) vào móng
chân móng tay, hoặc, buổi trưa thường đi lấy các loại dễ, lá tầm gửi và cây
thuốc nam (tính dương) về phơi khô để uống suốt mùa, bồi bổ khí dương
đang suy kiệt.
Ngoài ý nghĩa tín ngưỡng-tôn giáo, tết Trung Nguyên, rằm tháng bảy
(là tháng thuộc quẻ Thiên địa bĩ) còn là lễ thức biểu hiện sự thê lương, ảm
15
đạm, chết chóc của tự nhiên, đất trời.
Tháng 4
Lục dương sinh
Tháng 5
Nhất âm sinh
Hạ chí
Tháng 6
Nhị âm sinh
Tháng 7
Tam âm sinh
Tháng 3
Ngũ dưcmg sinh
Tỵ Ngọ V
Mùi Thân
Tháng 8
Tứ âm sinh
Thìn \
Dậu
Thu phân
16
và dễ nhất là người ta cho rằng năm thứ 61 đời Hoàng Đế (một triều đại có
tính truyền thuyết), năm 2.637 t.c.n là năm Giáp Tý thứ nhất, căn cứ vào đó
để tính các năm tiếp theo.
Thí dụ, Lý Công uẩn dời đô ra thành Đại La vào năm 1010, vậy đó là
năm nào của hệ can-chi.
Ta có: (2.637+1010):60 = 60 và đư 47.
Vậy, năm 1010 đang ở vào năm thứ 47 của chu kì can-chi thứ 61. Tính
từ Giáp Tý là 1, đến thứ 47 là Canh Tuất. Năm 1010 là năm Canh Tuất.
Tóm lại, trên đây là năm khái niệm cơ bản trong phép tính thời gian
sinh học của phương Đông cổ đại, là cơ sở cho mọi tính toán suy luận của
các môn dự báo. Nó có quan hệ hữu cơ, biện chứng với không gian và vật
chất vận động trong không gian nói chung và đời sống của sinh giới nói
riêng.
2. Thời gian trong mối quan hệ với vũ trụ và sinh thể.
2.1. Những khái niệm, ký hiệu vật chát - không gian - thời gỉan.
Trong các môn dự báo học của triết học phương Đông cổ đại có rất
nhiều những khái niệm, ký hiệu được xây dựng trên cơ sở sự kết hợp biện
chứng giữa thời gian, không gian và vật thể vũ trụ cũng như các bộ phận
trong cơ thể con người. Nó là cơ sở của mọi tính toán, suy luận đã được
thực tiễn kiểm nghiệm chứng minh, dù rằng về mặt lý luận,để chứng minh
được một cách chặt chẽ, rõ ràng, thì đó là công việc không phải dễ dàng.
2.1.1. Khái niệm Ầm dương ngũ hành.
Theo lý thuyết phân đôi (Nhị phân) người phương Đông cổ đại cho
rằng sự cấu thành của vạn vật là do sự tương tác, kết hợp, phân dã của hai
17
yếu tố là âm và dương. Âm - Dương đối lập nhưng không phải là huỷ thể
của nhau, mà là điều kiện tính cho sự tồn tại của nhau trong một chỉnh thể
sự vật, hiện tượng. Trong thời sinh học, một năm từ tháng một (tháng 11)
đến tháng tư là thuộc về dương; từ tháng năm đến tháng mười là thuộc về
Từ đó tính ra có giờ, ngày, tháng, năm can - chi thuộc âm hay dương.
Ngũ Hành.
Do đặc điểm về điều kiện địa mạo của địa lý tự nhiên, sự tương ứng
giữa khí và gió theo phương hướng và mùa là một đặc điểm quan trọng cần
lưu ý khi xem xét vấn đề thời sinh học của vùng Nam Trung Quốc và châu
thổ Sông Hồng.
Vào mùa xuân, gió từ phía đông thổi vào mang theo khí hậu ẩm mát
của biển Đông, thuận lợi cho sự sinh trưởng của vạn vật, cho nên mùa xuân
có tiết Tam dương sinh, chủ về sinh sôi nảy nở (xuân sinh). Mùa thu gió từ
phía tây thổi vào, tức là từ trung tâm đại lục địa với những cao nguyên như
nóc nhà của thế giới, cho nên khí hậu là hanh heo, cây cỏ úa tàn, cho nên
mùa thu thuộc về hành kim, chủ về sự sát phạt, chết chóc thê lương (thu
tàn). Mùa hạ gió từ thương nam, tức là từ xích đạo và vành đai nhiệt đới
thổi tới, mang theo khí nóng, cây cối hoa quả nhanh chóng trưởng thành, đỏ
chín, cho nên thuộc hành hoả, chủ về sự trưởng thành (hạ trưởng). Gió mùa
đông từ phương bắc, nơi có những núi băng và vành đai lạnh thổi tới, đem
theo khí hậu lạnh lẽo , không thuận lợ cho việc gieo trổng, sinh trưởng,
cho nên thuộc hành thuỷ, chủ sự tàng chứa, tích luỹ (đông liễm). Xét về tỷ
lệ nhiệt - ẩm, ở trung tàm và vùng giao tiếp các phương, các mùa là tương
19
đối quân bình, cho nên thuộc hành thổ (thổ chủ hoá).
Như vậy, dù Ngũ hành được kí hiệu bằng những kí hiệu chỉ vật chất
(kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ) và có nội hàm cực rộng dùng để chỉ những tính
năng, khuynh hướng, phẩm chất, sự vật khác nhau nhưng xét về nguồn
gốc nó đều được xây dựng và xuất phát từ mùa, phương và khí, mang ý
nghĩa thời sinh học sâu sắc. Có thể tóm tắt tượng của ngũ hành như sau:
Hành Mộc: mùa xuân, tháng giêng và tháng hai, phương đông, khí
phong, chủ sinh, chủ về điều nhân, thuộc gan và mật, thiên can thuộc giáp
và ất, địa chi thuộc dần và mão, bát quái thuộc chấn và tốn.
Hành Hoả: mùa hạ, tháng tư và tháng năm, phương nam, khí thử, chủ
‘Phương bắc màu đen, thông vào với thận, khai khiếu ở tai, tàng tinh ở
thận, làm bệnh ở khe (nách, bẹn ), vị là mặn, loài là thuỷ, súc là lợn, cốc là
đậu, là ứng với 4 mùa. Trên trời thấy sao Thìn là đã biết bệnh ở xương, âm
là Vũ (trầm mà sâu), số là 6, mùi là khai, dịch là nước bọt “
‘Phương đông màu xanh, thông vào với can, khai khiếu ở mắt, chứa
tinh ở gan, là bệnh phát co giật, vị là chua, loài là thảo mộc, súc là gà, cốc
là mach, là ứng với 4 mùa. Trên trời thấy sao Tuế tinh thì đã biết là bệnh ở
gân, âm là Giốc (đều mà thẳng) số là 8, mùi là hôi, dịch là nước m ắt “
Các nhà Ngũ hành cho ràng khi khí hậu biến đổi thì vạn vật biến đổi,
mỗi loại khí ứng với một loài vật. Mỗi khí có một tên, mỗi tên khí có một
đặc điểm của khí:
21
Phong là gió, phong khí có đặc điểm là mát và ẩm;
Hoả là lửa, là nóng, hoả khí là khí nóng;
Thử khí là khí mùa hạ, nắng nóng;
Thấp khí là khí nóng và ẩm;
Táo là khô ráo, táo khí là khí khô mát;
Hàn là lạnh, hàn khí là khí lạnh.
Mỗi khí lại sinh ra ở mỗi mùa, mỗi mùa lại có một hướng gió, mỗi
mùa lại có một loài vật hợp với sự nảy sinh và phát triển Trong sự tương
ứng phức tạp đó, chúng ta khái quát lại: Mỗi mùa ứng với một khí, một
hướng gió và mỗi hướng gió ứng với một loại khí, và người ta ký hiệu là:
Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thuỷ.
2.1.2. Nhị thập bát tú
Ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, Nhị thập bát tú (28 chòm sao)
được dùng phổ biến và dự báo thời tiết, khí hậu khá chính xác. Sách Khải
đồng thuyết ước in năm Tân Tỵ, triều Tự Đức ghi rõ về vị trí, thời gian xuất
hiện và ý nghĩa của các chòm sao như sau:
Phương Đông có bảy chòm sao:
Chòm sao Giác: Gồm hai sao, ở 21,5 độ. Nửa cuối tháng năm xuất
xuất hiện,
Chòm sao Tất: Gồm sáu sao, ở 15 độ. Trung tuần tháng Giêng xuất
hiện.
Chòm sao Chuỷ: Gồm ba sao, ở 01 độ. Hạ tuần tháng Giêng xuất hiện.
Chòm sao Sâm: Gồm bảy sao, ở 08 độ. Nửa đầu tháng hai xuất hiện.
Phương Nam có bảy chòm sao:
Chòm sao Tỉnh: Gồm tám sao, ở 31 độ. Nửa cuối tháng hai thấy.
Chòm sao Quỉ: Gồm có bốn sao, ở 03 độ. Nửa đầu tháng ba thấy.
Chòm sao Liễu: Gồm có tám sao, ở 14 độ. Nửa cuối tháng ba thấy.
Chòm sao Tĩnh: Gồm bẩy sao, ở 9 độ. Thượng tuần tháng tư thấy.
Chòm sao Trương: Gồm có sáu sao, ở 19 độ. Trung tuần tháng tư thấy.
Chòm sao Dực: Gồm hai mươi hai sao, ở 19 độ. Hạ tuần tháng tư thấy.
Chòm sao Chẩn: Gồm sáu sao, ở 18 độ. Nửa đầu tháng năm thấy.
2.1.3 Những kỷ hiệu, khái niệm khác.
Như chúng ta đã biết, thời gian thay đổi cũng đổng thời các vật thể
trong không gian vũ trụ thay đổi tương tác, gây ra những hệ quả thay đổi
tiếp theo như thời tiết, khí hậu Nhiều loại tương tác khác nhau từ nhiều
vật thể vũ trụ khác nhau sẽ gây ra nhiều loại khí hậu, môi trường khác nhau