Lịch sử và văn hoá khu vực Đông Bắc Á - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐAI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHẢN VÁN
KHOA QUỐC TẾ HỌC
LỊCH SỬ VÀ VĂN HOÁ KHU vực
ĐÔNG BẮC Á
Đề tời khoa học cấp đại học quốc gia
Mã số QX. 97.10
Chủ nhiệm đề tài: G V C Đ ặng Xuân K háng
Tham gia đề tài : TS Đỗ Đ Ì11I1 H ãng
tv •, r
Hà Nội 10-2001
MỤC LỤC
Trang
Phần thứ nhất: 2
Kỉiái quát chung về lịch sử - văn hoá khư vực Đ ông Bắc Á .
Phần thứ hai: Ịg
Tóm lược lịch sử , vãn hoá các quốc gia thuộc khu vực
Đ ỏng B ắc Á ( Trung quốc, N hật Bản và Triều Tiên ).
1
PHẦN THỨ NHẤT
KHÁI QUÁT CHUNG VỂ LỊCH sử - VÃN HOÁ
KHU V ự c ĐÔNG BẮC Á
2
Khi nói đến Đông Bắc Á, người ta thường đề cập đến 3 quốc gia: Nhạt
Bản, Triều Tiên và Mông cổ. Trung Quốc là một quốc gia lớn nên thường
được đặt ở vị trí riêng.
Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi không đề cập đến
Mông Cổ bởi nền văn hoá của nước này dường như gắn bó với nước Nga
nhiều hơn. Chữ viết là một thí dụ. Ba nước: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật
Bản thực sự có một nền văn hoá tương đổng. Hay nói đúng hơn là trong quá
khứ, Nhật Bản và Triều Tiên đã từng tiếp thu một cách toàn diện những

những phát kiến địa lý vào cuối thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI để có được một
con đường biển sang phương Đông. Và mục tiêu số một của con đường đến
không phải quốc gia nào khác mà chính là Trung Quốc. Vì vậy, khu vực này
trở thành nơi trọng điểm của con đường qua lại, giao lưu buôn bán từ Đông
sang Tây và ngược lại.
Trong thời hiện đại, khi cuộc chiến tranh lạnh bùng nổ, đây cũng là một
trong số ít khu vực chiếm vị trí quan trọng vào loại bậc nhất đối với cả hai
phe. Chiến tranh lạnh kết thúc, Nhật Bản, Hàn Quốc (phía Nam bán đảo Triều
Tiên), Trung Quốc tiếp lục là những quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh,
năng động, vẫn giữ được vai trò đầu mối của những con đường đi đến từ khắp
nơi trên thế giới.
Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên đều là những quốc gia có điều kiện
địa lý tự nhiên đa dạng. Nó vừa có những khó khăn để thách thức con người
như núi cao, biển thẳm, giông bão, lũ lụt, động đất, lại vừa có những điều kiện
thuận lợi để quốc gia Irở lên giàu có, con người trở lên lãng mạn nhưng ý chí.
Chẳng hạn, ở Trung Quốc, nếu vùng Tây Tạng núi non hiểm trở, đi lại
khó khăn thì hai con sông bắt nguồn từ vùng núi này là Hoàng Hà và Dương
Tử (Trường Giang) đã tạo nên những cánh đồng màu mỡ thẳng cánh cò bay,
những cái nôi của nền văn minh thuộc hàng số một thế giới. Nếu khí hậu ở
vùng Hoàng Hà có phần khắc nghiệt do chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu lục
địa thì cư dân quanh vùng Trường Giang lại được hưởng những cái ưu việt của
miền khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, nắng lắm, cây cỏ tốt tươi
Nhật Bản không được trời phú cho nguồn khoáng sản dồi dào nlurng mặt
khác lại không thể phủ nhận là tạo lioá đã đem lại cho quần đảo phong cảnh
hữu lình, ctâì đai màu mỡ. Một khoảng cách vừa phải của Nhật Bản với lục (lịa
4
đã giúp nước này duy trì được nền độc lập trong quá khứ. Hơn nữa, những hải
cảng tốt của quốc gia đảo đã đem lại cho Nhật Bản một nguồn lợi vô tận từ
việc vận tải đường thuỷ, rẻ nhất trong mọi hình thức vận tải hiện nay
Bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông đều rất rõ trong thời tiết của cả 3 nước.

Bên cạnh đạo Phật, Khổng giáo xuất phát từ Trung Quốc đã phổ biến
sang tất cả các nước trong khu vực. Khi gia tộc Tokugawa đứng đầu chính
quyền võ sĩ ở Nhật Bản từ năm 1600 thì Khổng giáo được coi là Quốc giáo
ở nước này. Còn Khổng giáo mới ở Triều Tiên được coi là một trong những
yếu tố đóng góp vào sự phát triển kinh tế như vũ bão trên phàn lãnh thổ
Hàn Quốc.
Các tôn giáo khác, trong dó có Cơ đốc giáo cũng được các giáo sĩ
phương Tây truyền đến. Nhưng hầu hết đều gặp sự phản ứng của giới cầm
quyền nên tỷ lệ người theo không nhiều. Cao nhất là ở Hàn Quốc, chiếm
khoảng 1/3 cư dân. Nhật Bản không hơn 1%. Còn Trung Quốc thì không đáng
kể và có xu hướng giảm đi từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Ngoài ra, cư (lãn mỗi nước còn theo tôn giáo cổ truyền của dân tộc mình
nữa. Chẳng hạn, đạo Giáo là tôn giáo bản địa, sinh ra và phát triển trên đất
Trung Quốc dã có ảnh hưởng rất lớn đối với văn hoá truyền thống của nước
này. Trong đó có cả việc hình thành nhiều tập quán dân gian mà người Trung
Quốc hiện nay vẫn còn duy trì.
ở Hàn Quốc, dạo Shaman cũng là tôn giáo lâu đời nhất ở nước này. Đó
là lối thờ pliụng linh hồn hay thiên nhiên mà nguồn gốc của nó dã thất lạc
trong bí ẩn của thời tiền sử. Shaman dựa trên một niềm tin rằng linh hồn
không chỉ có trotijỊ con người mà còn ử trong các lực lượng thiên nhiên, trong
các loài vật cũng như đồ vật. Thầy cúng Shaman trước đây thường là nam giới
nhưng ngày nay chủ yếu là phụ nữ. Với những yếu tố văn hoá độc đáo, cư dân
trên bán đảo này tin rằng sức sống của Shaman sẽ còn mãi mãi.
Ở Nhật Bản, Sliinto thực sự là tôn giáo bản địa. Nó vẫn đóng vai trò nghi
Ihức quan Irọng trong đời sống nhiều mặt của người Nhật. Shinlo tồn tại song
song và đôi khi hoà trộn với dạo Phật trong ý thức của dân chúng.
Tuy đều là tòn giáo bản địa của mỗi nước, nhưng Đạo Giáo, Shaman và
Sliinto có những nét chung. Nhân vật trung gian giữa thần và người trong cả
ha tôn giáo này đ(iu là “thầy cúng”.
6

lớn vùng Đông Bắc Á là Hoàng Hà và Dương Tử, quê hương của một trong 4
nền văn minh vĩ đại của thế giới mới đích thực là lun vực Hoàng Hà và nền
văn hoá lưu vực Hoàng Hà.
Không thể phỉi nhận rằng: Trung Quốc là một trong những cái nôi của
loài người mà người vượn Bắc Kinh cách ngày nay khoảng 60 vạn năm là một
trong 3 giống người vượn cổ xưa tiêu biểu nhất của thế giới. Trong đó, khu
vực Trung Nguyên thuộc trung du sông Hoàng Hà là nơi hội tụ của nền văn
hoá Trung Hoa. Từ đó lan dần sang phía Đông và phía Nam để hình thành nên
nước Trung Hoa rộng lớn có diện tích 9,8 triệu km2 như ngày nay.
Trải qua một thời gian dài cẩm quyền của những ông vua mang đậm
chất truyền thuyết, nhà nước đầu tiên cuả Trung Quốc được xác định là nhà
Hạ ( 2033 - 1562 ? TCN). Năm 221 TCN, nhà Tần thống nhất Trung Quốc,
mở ra một bước ngoặt cho lịch sử nước này. Những thành tựu mà nhà Tần đạt
được trong thời gian cầm quyền vẻn vẹn 15 năm (221 TCN - 206 TCN) có ý
nghĩa không chỉ với Trung Quốc mà còn hơn thế nữa.
Trong khi đó trên bán đảo Triều Tiên ,vào khoảng 500 ngàn năm về trước
cũng xuất hiện những dấu vết cư trú của cư dân cổ. Đến khoảng 4000 năm
TCN ở nhiều nơi vổ phía Tây và Nam, cư dân ở đây đã biết đào lỗ trồng trọt,
biết chăn nuôi súc vật Khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN đồ đồng xuất
hiện và những truyền thuyết về xã hội có giai cấp, nhà nước đầu tiên tập trung
vào vùng núi huyền thoại giáp biên giới Trung Quốc ngày nay. Người Triều
Tiên coi đây là những buổi đầu của lịch sử và Tangun chính là tổ tiên của
người Triều Tiên (rong truyền thuyết. Tiếp đó Nhà nước Choson cổ tồn tại từ
tlìế kỷ 14 TCN - 2 TCN trở thành mối đe doạ ở phía Đông nhà Hán (Trung
Quốc). Vì vậy nhà Hán đã đem quân chiếm phần phía Bắc bán đảo và người ta
cho rằng vùng Bình Nhưỡng ngày nay là thuộc địa của Trung Quốc đến thế
kỷ 4 sau CN (lã trở thành trung tâm buôn bán và giao lun văn hoá trực tiếp
giữa Triều Tiên và Trung Quốc.
Đay cũng là Iliời kỳ một số lượng lớn cư dân từ lục địa di cư đến Nhật
Bán qua con đường Triều Tiên hoặc trực tiếp từ Trung Quốc vượt qua biển

Thời kỳ Đường ử Trung Quốc tương ứng với thời kỳ tồn lại hai Nhà
nước Parhae ở phía Bắc và Shilla ở phía Nam (676 - 935) bán đảo Triều
Tiên. Trong khi đó, ở Nhật Bản thuộc triều đại Nara (710 - 794) và Heian
(794 - I 192).
9
Trước thời Tùy Đường, quan hệ giữa Trung Quốc và Triều Tiên dã khá
mậl thiết. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, nhân dân các
nước Yên, Tề, Việt phải chạy sang Triều Tiên lánh nạn để thoát khỏi ách nô
dịch của nhà Tần. Họ đã mang sang Triều Tiên nhiều công cụ sản xuất, đồ sắt
cùng kỹ thuật sản xuất nông nghiệp. Trong Đông Di truyện của Hậu Hán Thư
có ghi rằng: "Từ sớm, nước Hàn (Triều Tiên) nghe những tự nói họ là người
chạy loạn nước Tần, tránh khổ dịch, đến nước Hàn. Hàn cắt phẩn đất phía
Đông cho họ, đất đai màu mỡ, thích hợp với ngũ cốc. Biết trồng dâu, nuôi
tằm, dệt vải lụa".
Văn hóa Trung Quốc truyền sang Trung Quốc cũng rất sớm. Nhiều
người Triều Tiên tôn sùng Nho giáo. Bắt chước phục trang của Trung Quốc
(mà đến nay ở Triều Tiên vẫn còn giữ phong cách này).
Trong thời Ngụy, Tấn và Nam Bắc Triều của Trung Quốc, bán đảo
Triều Tiên được chia thành 3 quốc gia: phía Bắc là Koguryo (Cao Câu Ly),
phía Tây ]à Parkche (Bách Tế) và phía Đông là Shilla (Tân La), cả 3 quốc gia
đều duy trì quan hệ thường xuyên với Trung Quốc. Paekche đưa hàng thủ
công mỹ nghệ tinh xảo sang Trung Quốc. Nhiều loại sách như Ngũ kinh, Tam
quốc chí của Trung Quốc được nhập vào Triều Tiên, cả Koguryo và Shilla
đều mở các khoa Nho học. Đổng thời thuốc Đông y, lịch pháp từ Trung Quốc
cũng được truyền vào bán đảo Triều Tiên. Chữ Hán được người Triều Tiên
dùng để sáng tác văn học. Trong khi dó nhạc múa của Triều Tiên truyền sang
Trung Quốc, được nhân dân Trung Quốc rất ưa thích. Năm 372, Trung Quốc
cho người mang tượng Phật, sách kinh tới Koguryo, đánh dấu việc truyền bá
đạo Phật sang nước này. Từ đó, Phật giáo nhanh chóng thịnh hành ở Triều
Tiên. Nhiều nhà sư lừ Trung Quốc được mời sang giảng dạy về đạo Phật. Trên

13 phái đoàn sang nhà Đường trực tiếp quan sát, học tập, để trở về tổ chức
xã hội Nhật Bản theo mô hình nhà trường. Một trong những chính sách
mới dược áp dụng là chế độ định Đô. Vì vậy mà Nara đã trở thành kinh đô
đầu liên của nước Nhật từ 710 đến 794. Tiếp đó, kinh đô được chuyển đến
Heian vì những lý do dặc biệt chứ không phải tập quán di đô như Nhật
Bản vẫn áp dụng trước năm 710.
Kỹ thuật sản xuất tiên tiến của triều Đường lần lượt được truyền vào
Nliậl Bản. Chẳng hạn, phép xem thiên văn, y học, toán học, kiến trúc, in khắc
gỗ Các loại cày, bừa, guồng nước phổ biến ngày càng rộng rãi. Nhiều
dụng cụ sản xuất được dặt tên theo nguồn gốc như cái xẻng Đường, càn câu
Đường cái sàng gạo Đường, cái sọt Đường Nhiều môn thể thao, cây chè và
i 1
cách uống chè, may mặc, trang phục lễ tiết như: Tết Đoan Ngọ, Rằm tháng
Bảy được người Nhạt bắt chước.
Việc tiếp thu, áp dụng văn minh Trung Hoa vào Nhật Bản một cách
mạnh mẽ dưới thời Nara, đã giúp cho nước Nhật sàng lọc để hình thành một
nền văn hóa mang bản sắc riêng dưới thời Heian (794 - 1185). Nhật Bản
chuyển dần sang chế độ phong kiến.
Trong khi đó, ở Triều Tiên, hầu hết bán đảo thuộc về vương quốc Shilla.
Vương quốc này tồn tại từ phía Nam Bình Nhưỡng trong hai thế kỷ rưỡi (668 -
935). Còn phần phía Bắc là vương quốc Parhae. Đây cũng là thời kỳ thịnh
vượng và phát triển của cả hai quốc gia Bắc Nam bán đảo.
Vương quốc Parhae mở rộng tới phần lớn lãnh thổ Mãn Châu thuộc
Trung Quốc ngày nay. Hệ thống chính trị của Parhae cũng giống như nhà
Đường và Thủ đô Síinggyong cũng rập theo mẫu thủ đô Trường An của Trung
Quốc . Nền văn hoá đặc sắc của Parhae là sự kết tinh của nền văn hóa Đường
và văn hóa bản địa Koguryo.
Vương quốc Shilla thịnh vượng giữa thế kỷ 8, cũng là thời kỳ thịnh
hành nhất của Phật giáo. Trên cơ sở tiếp thu chữ viết và kỹ thuật in ấn Trung
Hoa, máy in cổ nhất của Shilla được biết đến ra đời khoảng năm 706 - 751 sau

trên Ihị trường nước này. Đao kiếm Nhạt Bản được tiêu thụ với số lượng lớn
ở Trung Quốc. Công ngliệ chế tạo sơn vốn là phát minh của Trung Quốc,
sau khi truyền vào Nhật Bản đã có sự phát triển độc đáo. Tranh khảm Nhậl
Bản xuất khẩu ngược trở lại Trung Quốc vào thời Tống Đến khi văn hóa
phương Tây ảnh hưởng dần sang phía Đông thì việc giao lưu văn hóa Trung
- Nhật bước sang giai đoạn mới.
Vào thời kỳ Tống, Nguyên, Minh, 'rhanh, quan hệ của Triều Tiên với
Trung Quốc có phần chặt chẽ hơn. Trong triều Tống, rất nhiều học sinh đã
sang học ở Trung Quốc nhằm tiếp thu những kiến thức văn hóa và kỹ thuật
tiên tiến. Mỏi lổn sứ thần Trung Quốc sang dã được chính quyền Triều Tiên
đón tiếp rất trọng thị. Khoảng giữa thế kỷ 13, người Triều Tiên dã cải tiến
in chữ rời do Trung Quốc phát minh bằng dất sét từ giữa thế kỷ 19, sang
việc dùng chữ tời đúc bằng đồng, sau đó hằng chì mang lại chất lượng in
rất cao. Cũng trong thời gian này, kỹ thuật đóng thuyền của Triều Tiên đạt
tới trình độ rất cao và nhà Nguyên đã sử dụng loại thuyền này (1ể tấn công
Nhật Bản vào các năm 1274, 1281. Đến đời Thanh. Triều Tiên không chỉ
13
học tập những thành tựu của Trung Hoa inà còn chủ trương tiếp thu cả văn
hóa phương Tây đang truyền vào Trung Quốc nhằm mang lại sự phồn vinh
cho bán đảo Triều Tiên.
2.3. Thời kỳ cận đại:
Những phát kiến địa lý ở phương Tây vào cuối thế kỷ 14 - đầu 15 đã
ảnh hưởng lớn tới sự phát triển sản xuất ở khu vực này. Chế độ phong kiến
ngày càng trở nên lạc hậu, phản động. Hàng loạt cuộc cách mạng tư sản bùng
nổ ử Hà Lan, Anh, Pháp, Mỹ thành công làm tiền đề cho việc bùng nổ cuộc
cách mạng công nghiệp ở Âu Mỹ. Một nền văn minh mới, văn minh công
nghiệp xuất hiện. Các nước phương Tây bắt đầu công cuộc chinh phục toàn
diện sang phương Đông, nhất là từ thế kỷ 18, 19.
Trước tình hình đó, chính quyền Mãn Thanh ở Trung Quốc đã lliực hiện
chính sách bế quan tỏa cảng, ra lệnh phong tỏa toàn bộ miền duyên hải, cấm

Năm 1910, Nliật Bản tuyên bố sáp nhập Triều Tiên vào lãnh thổ nước
mình, bất chấp sự phản đối của nhân dân nước này. Hơn nữa, Nhật Bản còn
đứng về phía các nước phát xít, gây ra cuộc chiến tranh xâm lược ở Châu Á -
Thái Bình Dương, sau khi đạt được một ít quyền lợi trong cuộc chiến tranh thê
giới thứ nhất (1914 - 1918). Tuy nhiên, không giống như những điều nước
Nhật chứng kiến, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã đẩy nước Nliậl đến thất
bại hoàn toàn.
Trên bán đảo Triều Tiên, trước khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản
phương Tây, tính đến khi thành thuộc địa của Nhật năm 1910, vẫn là một
quốc gia phong kiến lạc hậu. Sự thống trị hà khắc của Nhật càng làm cho mâu
thuẫn trong xã hội nước này thêm căng thẳng. Những cuộc đấu tranh chống
Nhật, giành độc lập ngày một mạnh mẽ, nhất là ở khu vực miền Bắc. Năm
1925, Đảng Cộng sản Triều Tiên được thành lập và trở thành lực lượng quan
trọng nhất của cuộc kháng chiến. Bên cạnh đó là những người Triều Tiên đang
sống và hoạt dộng ở Trung Quốc, Nhật Bản. Những lực lượng này đều giữ vai
trò chủ chốt sau chiến tranh ở hai miền Nam Bắc bán đảo Triều Tiên.
2.4. Thòi kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai:
Chiến tranh thố giới thứ hai kết thúc, thế giới chia thành hai hệ thống xã
hội dối lập: Xã hội chủ nghĩa và lư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa hai hệ
(hông biểu hiện qua cuộc chiến tranh lạnh dược Anh - Mỹ phát động ngay sau
15
khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc chưa bao lâu. Khu vực Đông Bắc Á là
nơi thể hiện rõ nhất cuộc chiến tranh này.
Thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bị quân đội
Đồng minh mà thực tế là quân đội Mỹ chiếm đóng. Trong thời gian chiếm
đóng, Mỹ buộc chính quyền nước này thi hành một loạt cải cách theo yêu cầu
của họ.
Trong khi đó, ở bán đảo Triều Tiên, Hổng quân Liên Xô sau khi giải
phóng bán đảo khỏi ách thống trị của Nhật Bản, đã tạm thời đóng quân ở miền
Bắc kể từ vĩ tuyến 38. Còn quân đội Mỹ chiếm đóng phần phía Nam theo thỏa

Quốc đã liên minh chạt chẽ với Mỹ. Cùng với sự giúp đỡ về kinh tế và chia sẻ
về quãn sự của Mỹ, nền kinh tế Hàn Quốc đã nhanh chóng phát triển trở thành
nước công nghiệp hóa mới (NIC).
Cũng giống như Hàn Quốc, nước Mỹ từ chỗ coi Nhật Bản là kẻ thù số
một, đã thay đổi chính sách. Nước Mỹ tìm cách giúp đỡ để biến Nhật thành
con đê ngăn chặn làn sóng Cộng sản đang lan nhanh trong khu vực. Nhật Bản
nhanh chóng khôi phục hậu quả chiến tranh. Trong 2 thập kỷ 50 và 60, nhịp
độ phát triển kinh tế của nước này tăng trưởng thần kỳ, đạt trung bình ở mức 2
con số. Nhật Bản trở thành siêu cường kinh tế vào giữa những năm 80, chỉ sau
Hoa Kỳ.
Trong khi Đài Loan dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch, cùng với
sự giúp đỡ mọi mặt lừ Chính phủ Mỹ, đã nhanh chóng phát triển kinh tế để
đứng vào hàng ngíí các nước công nghiệp hóa mới như Hàn Quốc, thì, ở Cộng
hòa Nhàn dân Trung Hoa, những sai lầm trong đường lối đã kìm hãm sự phát
triển. Từ nửa sau những năm 70, đo thi hành đường lối cải cách, mở cửa, nước
CHND Trung Hoa đã thu được những thành tựu to lớn.
Đông Bắc Á bước sang thời kỳ sau chiến tranh lạnh dường như dang ở
thế thượng phong. Ngoại trừ cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ năm 1997,
Đông Bắc Ả được khẳng định như một khu vực kinh tế mạnh và năng động. Sư
ổn định chính trị, tình hữu nghị đang trở lại với khu vực mà biểu hiện của nó
là những cuộc gặp gỡ Bắc - Nam hướng tới sự thống nhất bán đảo Triều Tiên
sau hơn một nửa thế kỷ chia cắt. Quan hệ giữa các nước cho dù còn những bất
đồng, nhưng tương lai của khu vực này là sán lạn.
17
p v o o m
PHẨN THỨ HAI
TÓM LƯỢC LỊCH sử, VÃN HOÁ CÁC QUỐC GIA
THUỘC KHU V ự c ĐÔNG BẮC Ấ:
TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN , TRlỂU TIÊN
18

mông, đa dạng và phức tạp. Tuy vậy, ta có thể phân biệt thành các miền lớn:
miền Tây là khu vực có nhiều núi cao, trong đó có ngọn Himalaya cao nhất
thế giới, khí hậu khô. Miền Bắc có nhiều khắc nghiệt về thời tiết, khí hậu
nhưng được con sông Hoàng Hà bồi đắp bằng phù sa sau khi chảy qua các
vùng đất cát khô cằn. Miền Nam phì nhiêu nhờ con sông Trường Giang chảy
qua tạo nên những đồng bằng lớn, khí hậu ấm áp, cây cỏ xanh tươi, phong
cảnh tốt đẹp, sản vật phong phú. Miền Đông gồm khu vực giáp biển và hải đảo
với diện tích không nhỏ, diện tích trồng trọt ít (có nơi chỉ là 10 %) nhưng có
nhiều ưu thế về công thương nghiệp.
Khí hậu: rất đa dạng, nhiệt đới ở phía Nam đến cận Bắc cực ở phía
Bắc. Nhiệt độ trung bình tháng 1: -28°c (ở phía Bắc), 18°c (ở phía Nam);
tháng 7:-20 - 28°c. Lượng mưa trung bình hàng năm: 2000mm (ở phía Đông),
250mm (ở phía Tây).
Về tài nguyên thiên nhiên, có than đá, quặng sắt, dầu mỏ, khí tự nhiên,
thuỷ ngân, thiếc, vôn - fram, ăngtiinoan, mangan, môlypđen, vanadi, magiê,
nhôm, chì, kẽm, uranium, tiềm năng thuỷ điện (lớn nhất thế giới)
Về thiên tai: thường xuyên có bão (dọc bờ biển phía Nam và phía
Đông), lũ lụt lớn, dặc biệt là lũ lụt do hai con sông Hoàng Hà và Trường
Giang gây ra. Trung Quốc cũng hay bị động đất, một số vùng bị hạn hán (nhất
là ở miền Bắc). Hiện tại, Trung Quốc đang đứng trước các vấn đề môi trường
rất bức xúc nlnr: ô nhiễm không khí do việc dùng nhiều than đá, gày ra mưa a
xít, tình trạng thiếu nước, dặc biệt là ở miền Bắc; ô nhiễm nước do các chất
thải chưa xử lý; nạn phá rừng; xói mòn đất; nguy cơ sa mạc lioá đang tăng lên;
tình trạng buôn bán các loài thú hiếm đang gia tăng
1.2. Dảỉỉ cu:
Trung Quốc là một trong những nơi từ rất sớm đã có con người cư trú.
Những pliál quật khảo cổ học tiến hành trong thập kỷ 20, 30 của thế kỷ XX ở
Chu Khẩu Điếm (Bắc Kinh) dã tìm thấy những bộ xương người vào hạng cổ
nhất, có niên đại cách ngày nay khoảng 50 vạn năm. Khoa học dặt tên giống
20

những đồ trang sức bằng đá, xương thú, vỏ hến. Địa bàn cư trú của người Sơn
Đỉnh Động đã được mở rộng hơn nhiều, ở Hoa Nam, năm 1935, người ta thấy
ở một tiệm thuốc Bắc ở Hương cảng bán những cái răng rất lớn mà người
Trung Quốc goị là “xương rồng” (long cốt ?) dùng để trị bệnh. Các nhà khoa
học cho rằng không phải xương rồng mà là răng người. Hai chục năm sau họ
khai quật được ở Quảng Tây hhững lăng và mảnh hàm như vậy của một giống
ngươi to lớn lạ thường, gấp ba gấp bốn người ngày nay, mà họ gọi là giống
Gigangpithèque, rất gần gũi với giống người Méganthrope ở Java. Một số nhà
khoa học cho rằng, lổ tiên của người Hoa Bắc là người vượn Bắc Kinh (thuộc
đại chủng Mongoloit) còn tổ ticii của người Hoa Nam là người Giganpitlièque,
cùng gốc với người Mã Lai.
Trải qua một thời kỳ phát triển rất lâu dài, đến khoảng thiên niên kỷ
III trước công nguyên (tức là cách ngày nay khoảng 6 , 5 ngàn năm), cư dân
Trung Quốc, trước hết là cư dân ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà, Trường
Giang đã lẩn lượi tiến vào thời kỳ công xã thị tộc phụ hệ. Những phát hiện về
khảo cổ học ở nhiều di CỈ1Ỉ mà liêu biểu nhất là ở Long Sơn (Sơn Đông) cho
biết rằng trong thời kỳ này sức sản xuất đã có những tiến bộ rất lớn.
Vào năm 2000, dân số Trung Quốc là 1.265 triệu người thuộc các dân
tộc Hán, Mông cổ, Tây Tạng , Mãn Châu Trong đó người Hán chiếm 93%.
Cư dân sống ở miền Tây và TAy Nam Trung Quốc là các bộ tộc thuộc
ngữ hệ Hán - Tạng và Môn - Khơme. Cư dàn sống ở miền Tãy Bắc và vùng
giáp Mông Cổ là các bộ lạc thuộc ngữ hệ Tung - gút. Những tộc người này là
liền thân của các dân tộc ít người ở Trung Quốc như Mãn Châu, Mông cổ,
Tạng, Di, Choang, Mèo
Trong thành phán cư dan, người Mán chiếm da số, có vai trò chù thể và
có tính chất quyết định đến tiến trình hình thành và phát triển cùa dân lộc
Trung ỉ loa.
Tuy chỉ chiếm 8,04% dân số, nhưng các dân tộc thiểu số ờ Trung
Quốc cư trú trên một địa bàn rộng IỚI1 chiếm khoảng 60% diện lích cả nước.
22

nôi của tổ tiên loài người và cũng là một trong những cái nôi của nền văn
minh cổ nhân loại.
Cách ngày nay 2 - 5 vạn năm ở thời vãn hoá đồ đá giữa, con người đã
có mặt ở nhiều nơi trên đất Trung Quốc, nhất là ở miền Bắc: Nội Mông, Hắc
Long Giang, Cáp Nhĩ Tân. Đồ đá đã biết mài nhẵn. Đồ xưưng có những cái
dẹp chứng tỏ bàn tay con người đã khéo léo. Đây cũng là thời kỳ trung Quốc
chuẩn bị bước vào xã hội thị tộc mẫu hệ, người đàn bà chuẩn hị thành chủ
nhân trong xã hội và hắt đầu có phân công nam nữ.
Khoảng từ I vạn đến 5000 năm cách ngày nay, xã hội Trung Quốc
bước vào thời đồ đá mới. Trên đất Trung Quốc, các nhà khoa học đã tìm ra
nhiều (lịa điểm của nền văn lioá này ở Hà Nam (miền Bắc), Giang Tô, Chiếl
Giang, Phúc Kiến, Hương Cảng, Tứ Xuyên, Quảng Tây. Người ta gọi thời
kỳ này là thời kỳ van hoá Ngưỡng Thiều (tên địa điểm đầu tiên đã pliát quật
ra nhiều dồ đá mài trơn ở vùng Hà Nam). Văn hoá Ngưỡng Thiều còn dược
gọi là văn hoá dồ gốm vẽ (vì ở trong các di chỉ, người ta tìm thấy đồ gốm
đã do con người làm hằng khuôn, có mầu trắng hoặc nâu, trên có các hình
vẽ lừ đơn gián đến phức tạp: lá cây, động vật, con người ), Trung Quốc gọi
là Thái Đào hoạ.
Cách đây khoảng 5000 năm, cư dân Trung Quốc mở rộng địa bàn sinh
sống, chủ yếu ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà, Trường Giang, sông Vị. Đây là
thời kỳ tồn tại của văn hoá Long Sơn (Sơn Đông), con người đã sống định cư,
canh tác nông nghiệp, chăn nuôi, chế tạo nhiều sản phẩm thủ công nghiệp, sự
trao dổi giữa các bộ lạc, thị tộc, giữa những người sản xuất với nhau ngày
càng tăng. Xã hội (lang chuyển từ thời kỳ thị tộc mẫu hệ sang phu hệ, những
cuộc chiến tranh xAm lược với mục đích chiếm đất đại, cướp của và bắt người
về làm nô lệ giữa các bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc không ngừng xảy ra. Điều
'"C ác nhà khoa học xếp thời kỳ các loại hình con người này sống là thời văn hoá dồ đá cũ.
24

Trích đoạn Khâi quât lịch sử.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status