B
I HC CÔNG NGHIP
THC PHM TP. H CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGH HÓA HC
ÁN:
GVHD: GVC Th.S N
SVTH: NGUYN TH KIM THUY
MSSV: 2004110183
LP: 02DHHH1 TP.HCM – THÁNG 12 NĂM 2014
Trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.HCM Khoa Công nghệ Hóa học
GVHD: GVC Th.s Trương Bách Chiến Trang i
LI M U
Sau thời gian làm đồ án chuyên ngành công nghệ hóa học đã giúp chúng em
tiếp thu nhiều kiến thức bổ ích, học thêm những kinh nghiệm. Qua đó, chúng em có
thể vận dụng tốt những kiến thức đã học trong trường vào thực tế một cách hiệu quả.
Bằng sự cố gắng nỗ lực của bản thân và đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình, chu đáo
của thấy giáo Th.S GVC Trương Bách Chiến, em đã hoàn thành đồ án đúng thời hạn.
Do thời gian làm đồ án có hạn và trình độ còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để bài đồ
án này hoàn thiện hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường cùng quý Thầy cô đã
Tp.HCM, ngày…tháng…năm…
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.HCM Khoa Công nghệ Hóa học
GVHD: GVC Th.s Trương Bách Chiến Trang iii
MC LC
LI M U i
NH ii
NG QUAN 1
1.1. Giới thiệu về hóa chất bảo vệ thực vật 1
1.1.1. Định nghĩa 1
1.1.2. Phân loại 1
1.1.3. Tác hại của hóa chất bảo vệ thực vật 2
1.2. Hóa chất bảo vệ thực vật nhóm carbamat 2
1.2.1. Giới thiệu chung 2
1.2.2. Một số thuốc trừ sâu Carbamate hay dùng tại Việt Nam 3
1.2.2.1. Carbofuran 3
1.2.2.2. Carbaryl 3
1.2.2.3. Fenobucarb 4
1.2.2.4. Propoxur 4
1.2.2.5.Carbosulfan 9
1.2.2.6. Oxamyl 10
1.2.2.5. Giới hạn cho phép 10
C LÝ THUYT V 12
2.1. Giới thiệu về phương pháp sắc ký 12
2.1.1. Khái niệm 12
2.1.2. Các đại lượng cơ bản trong sắc kí 13
2.1.2.1. Hệ số phân bố 13
3.1.2.Hóa chất 28
3.1.3. Thiết bị, dụng cụ 29
3.1.4. Chuẩn bị mẫu 29
3.1.5. Điều kiện phân tích 30
3.1.6. Xác định 30
3.1.7. Tính kết quả 31
3.2. Xác định dư lượng Methomyl trong thuốc trừ sâu 31
3.2.1. Nguyên tắc 31
3.2.2. Hóa chất 31
Trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.HCM Khoa Công nghệ Hóa học
GVHD: GVC Th.s Trương Bách Chiến Trang v
3.2.3. Dụng cụ, thiết bị 31
3.2.4. Cách tiến hành 32
3.2.5. Điều kiện phân tích 32
3.2.6. Xác định 32
3.2.7. Tính kết quả 33
3.3. Xác định dư lượng Fenobucarb trong thuốc trừ sâu 33
3.3.1. Phương pháp sắc ký khí. 33
3.3.1.1 Nguyên tắc 33
3.3.1.2. Hóa chất 33
3.3.1.3. Dụng cụ, thiết bị 33
3.3.1.4. Cách tiến hành 34
3.3.1.5. Điều kiện phân tích 34
3.3.1.6. Xác định 35
3.3.1.7. Tính kết quả 35
3.3.2. Phương pháp sắc ký lỏng hiện năng cao 35
3.3.2.1. Nguyên tắc 35
3.3.2.2. Hóa chất 35
3.3.2.3. Dụng cụ, thiết bị 35
3.3.2.4. Cách tiến hành 36
3.7.2. Hóa chất 42
3.7.3. Thiết bị và dụng cụ 43
3.7.4. Chuẩn bị mẫu 44
3.7.4.1. Chuẩn bị mẫu 44
3.7.4.2. Xác định 44
3.7.4.3. Tính kết quả 45
3.8. Kết quả phân tích một số mẫu thực tế 46
T LUN 48
TÀI LIU THAM KHO 49 Trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.HCM Khoa Công nghệ Hóa học
GVHD: GVC Th.s Trương Bách Chiến Trang vii
Bảng 1: Mức dư lượng tối đa cho phép sử dụng thuốc trừ sâu carbamate ở một số
quốc gia. 11
Bảng 2: Tính chất của một số pha động trong sắc ký lỏng 19
Bảng 3: Chương trình dung môi 30
Bảng 4: Kết quả phân tích mâu rau 46
Bảng 5: Kết quả phân tích mâu gừng 46
Bảng 6: Kết quả phân tích mâu nước 46
Bảng 7: Kết quả phân tích mâu đất 47
Hình 1. Bề mặt silica đã thủy phân 16
Hình 2: Tạo nhánh trên bề mặt silica 16
Hình 3: Cấu trúc của cột ODS 16
Hình 4. Cấu trúc cột LC-DB 17
Hình 5: Cấu trúc cột có gốc isopropyl 17
Cholinestraza của hệ thần kinh và có cơ chế gây độc giống như nhóm lân hữu
cơ. Đại diện cho nhóm này như: carbofuran, carbaryl, carbosulfan, isoprocarb,
methomyl…
- Nhóm Pyrethroid là những thuốc trừ sâu có nguồn gốc tự nhiên, là hỗn hợp của
các este khác nhau với cấu trúc phức tạp được tách ra từ hoa của những giống
cúc nào đó. Đại diện của nhóm này gồm: cypermethrin, permethrin, fenvalarate,
deltamethrin,…
Ngoài ra, còn có một số nhóm khác như: các chất trừ sâu vô cơ (nhóm asen),
nhóm thuốc trừ sâu sinh học có nguồn gốc từ vi khuẩn, nấm, virus (thuốc trừ nấm, trừ
vi khuẩn…), nhóm các hợp chất vô cơ (hợp chất của đồng, thủy ngân,…)
Trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.HCM Khoa Công nghệ Hóa học
GVHD: GVC Th.s Trương Bách Chiến Trang 2
1.1.3. Tác hi ca hóa cht bo v thc vt
Hầu hết hóa chất bảo vệ thực vật đều độc với con người và động vật máu nóng
ở các mức độ khác nhau. Theo đặc tính hóa chất bảo vệ thực vật được chia thành 2 loại:
chất độc cấp tính và chất độc mãn tính.
Chất độc cấp tính: Mức độ gây độc phụ thuộc vào lượng thuốc xâm nhập vào cơ thể. Ở
dưới liều gây chết, chúng không đủ khả năng gây tử vong, dần dần bị phân giải và bài
tiết ra ngoài. Loại này bao gồm các hợp chất Pyrethroid, những hợp chất Photpho hữu
cơ, Carbamate, thuốc có nguồn gốc sinh vật.
Chất độc mãn tính: Có khả năng tích lũy lâu dài trong cơ thể vì chúng rất bền, khó bị
phân giải và bài tiết ra ngoài. Thuốc loại này gồm nhiều hợp chất chứa Clo hữu cơ,
chứa Thạch tín (Asen), Chì, Thủy ngân; đây là những loại rất nguy hiểm cho sức khỏe.
Hóa chất bảo vệ thực vật có thể thâm nhập vào cơ thể con người và động vật
qua nhiều con đường khác nhau; thông thường qua 3 đường chính: hô hấp, tiêu hóa và
tiếp xúc trực tiếp. Khi tiếp xúc với hóa chất bảo vệ thực vật, con người có thể bị nhiễm
độc cấp tính hoặc mãn tính, tùy thuộc và phạm vi ảnh hưởng của thuốc.
Nhiễm độc cấp tính: Là nhiễm độc tức thời khi một lượng đủ lớn hóa chất bảo
vệ thực vật thâm nhập vào cơ thể. Những triệu chứng nhiễm độc tăng tỉ lệ với việc tiếp
xúc và trong một số trường hợp nặng có thể dẫn tới tử vong. Biểu hiện bệnh lý của
Các thuốc carbamate an toàn với cây, ít độc đối với cá hơn các thuốc lân hữu cơ;
không tồn lưu quá lâu trên nông sản và môi trường sống. Độ độc của thuốc đối với
động vật máu nóng rất khác nhau, tùy thuộc vào loại thuốc.
Các chất chủ yếu thuộc nhóm bao gồm: carbaryl, methiocarb, pirimicarb,
oxamyl, carbendazim, propoxur, aminocarb, aldicarb…
1.2.2. Mt s thuc tr sâu Carbamate hay dùng ti Vit Nam [2]
1.2.2.1. Carbofuran
Carbofuran là một trong những thuốc trừ sâu nhóm carbamat độc nhất, có tên là
2,3-dihydro-2,2-dimethyl-7-benzofuranyl methyl carbamate, tên thương mại là
Furadan, Curater.
Công thức phân tử: C
12
H
15
NO
3
M = 221,25 g/mol.
t
nc
= 151
o
C.
d = 1,18 g/cm
3
.
Carbofuran là một trong những thuốc trừ sâu có độc tính cao đối với con người.
Nó có thể xâm nhập vào cơ thể qua hô hấp, qua miệng và qua da. Triệu chứng khi bị
ngộ độc carbofuran: buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, giảm tầm nhìn … Ở liều cao có
thể gây tử vong. Chỉ cần uống 1ml carbofuran cũng có thể dẫn tới tử vong.
cấp và mãn tính với các triệu chứng như: buồn nôn, chuột rút dạ dày, tiêu chảy. Các
triệu chứng khác ở liều lượng cao bao gồm đổ mồ hôi, làm mờ tầm nhìn, co giật, ảnh
hưởng đến phổi, thận và gan,
Mức hấp thụ hàng ngày tối đa cho phép ADI của carbaryl là 0,1mg/kg trọng
lượng cơ thể. Đối với chuột, liều gây chết trung bình qua miệng LD
50
=250-850mg/kg,
liều gây chết trung bình qua hô hấp LC
50
=0,005-0,023mg/kg.
1.2.2.3. Fenobucarb
Fenobucarb có tên là 2-(1-Methylpropyl)phenol methylcarbamate, là một loại
thuốc trừ sâu nhóm carbamat.
Công thức phân tử: C
12
H
17
NO
2
.
M = 207,3g/mol.
t
s
= 32
o
C.
d = 1,035g/cm
3
.
1.2.2.5.Carbosulfan
Tên hóa học: 2.3-dihydro-2.2-dimethyl-7-benzofuran-7yl(dibutylaminothio) methyl
carbamate.
Công thức phân tử: C
20
H
32
N
2
O
3
S.
M =380,5.
t
s
= 106
o
C ở 0,7mmHg.
Tan tốt trong hầu hết các dung
môi hữu cơ.
Dạng bên ngoài là chất lỏng màu
nâu.
Carbosulfan là một hợp chất hữu cơ thuộc họ Carbamate . Ở điều kiện bình
thường , nó là chất lỏng màu nâu. Tự phân hủy từ từ ở nhiệt độ phòng . Độ hòa tan
trong nước thấp nhưng là có thể tan trong xylene , hexane , chloroform ,
dichloromethane , methanol và acetone .
Liều gây chết trung bình đối với chuột qua miệng LD
50
=90-250mg / kg, liều
Mức dư lượng tối đa cho phép (MRL) là giới hạn dư lượng của một loại thuốc,
được phép tồn tại về mặt pháp lý hoặc xem như có thể chấp nhận được ở trong hay
trên nông sản, thức ăn gia súc mà không gây hại cho người sử dụng và vật nuôi khi ăn
các nông sản đó.
Trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.HCM Khoa Công nghệ Hóa học
GVHD: GVC Th.s Trương Bách Chiến Trang 11
Bảng 1. Mức dư lượng tối đa cho phép sử dụng thuốc trừ sâu carbamate
ở một số quốc gia.
Quc gia
ng
Carbofuran
(mg/kg)
Carbaryl
(mg/kg)
Propoxur
(mg/kg)
Fenobucarb
(mg/kg)
Nhật Bản
Xoài
0,3
3,0
1,0
0,3
Việt Nam
(Quyết định
46/2007/QĐ
-BYT)
Táo, nho, lê
trong hỗn hợp chất cần phân tích với pha động và pha tĩnh. Pha động có thể là chất
lỏng hoặc khí có tác dụng lôi kéo các chất cần tách di chuyển trong cột sắc ký có chứa
pha tĩnh. Pha tĩnh là chất lỏng nhớt được phủ trên bề mặt bên trong của cột mao quản
hoặc là những hạt chất rắn nhỏ được nhồi vào cột có tác dụng giữ chất ở lại. Để tách
được các chất từ một hỗn hợp cần có sự tác động của cả pha tĩnh và pha động. Sự tác
động này đối với từng cấu tử khác nhau là khác nhau. Vì vậy khi cho hỗn hợp chất cần
phân tích đi qua bề mặt pha tĩnh thì các cấu tử sẽ bị tách khỏi nhau và từ đó có thể
định tính cũng như định lượng chúng.
Tùy theo bản chất pha động mà ta chia thành hai loại sắc ký sau:
Sắc ký lỏng: pha động là chất lỏng, có thể sử dụng một loại dung môi hay hỗn
hợp nhiều loại dung môi. Bao gồm:
+ Sắc ký hấp phụ hay sắc ký lỏng rắn (adsorption/liquid chromatography).
+Sắc ký phân bố (partition chromatography).
+Sắc ký ion (ion chromatography).
+ Sắc ký rây phân tử (size exclusion/gel permeation chromatography).
Sắc ký khí: pha động là khí trơ không có lực tương tác hóa học hay vật lý với
chất cần phân tích.
Trong phương pháp sắc ký khí dựa vào đầu dò (detector) có thể phân loại thành
các kỹ thuật sau:
- Sắc ký khí đầu dò dẫn nhiệt (GC-TCD).
- Sắc ký khí đầu dò ion hoá ngọn lửa (GC-FID).
- Sắc ký khí đầu dò bắt điện tử (GC- ECD)
- Sắc ký khí đầu dò quang hoá ngọn lửa (GC- FPD)
Trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.HCM Khoa Công nghệ Hóa học
GVHD: GVC Th.s Trương Bách Chiến Trang 13
- Sắc ký khí đầu dò ion hoá phát xạ (GC- TID hoặc GC- NPD)
n trong sc kí [3] [4]
2.1.2.1. H s phân b
Cân bằng của một cấu tử X trong hệ sắc ký có thể được mô tả bằng phương
R’
= t
R
- t
0
2.1.2.3. H s
k’ được định nghĩa theo công thức sau:
SS
MM
CV
k'
CV
Với V
S
: thể tích pha tĩnh
V
M
: thể tích pha động
Nếu k’~ 0, t
R
~ t
0
: chất ra rất nhanh, cột không có khả năng giữ chất lại.
Nếu k’ càng lớn (t
R
càng lớn): chất ở trong cột càng lâu, thời gian phân tích
càng lâu, mũi có khả năng bị tù.
Với : W
1/2
là chiều rộng mũi sắc ký ở vị trí ½ chiều cao mũi (phút).
W là chiều rộng mũi sắc ký ở vị trí đáy mũi (phút).
2.1.2.5 chn lc
Đặc trưng cho khả năng tách hai chất của cột. Hai chất càng dễ tách khi hệ số
phân bố của chúng khác nhau nhiều.
2
1
k'
k'
Để tách riêng hai cấu tử 1 và 2 thì cần >1. Nếu quá lớn thì thời gian phân
tích càng dài.
2.1.2.6 phân gii:
a. Khái niệm
Đây là đại lượng đặc trưng cho khả năng tách hai câu tử ra khỏi nhau trong
cùng điều kiện sắc kí.
21
RR
21
tt
R2
WW
thay cột khác).
- Tăng hệ số dung lượng k
’
.
- Tăng hệ số dung lượng của chất ra chậm hơn. Tuy nhiên khi tăng k
’
sẽ tăng thời
gian phân tích. Thông thường chỉ số k
’
dao động từ 1-1,5.
- Tăng hệ số chọn lọc:
+ Thay đổi thành phần pha động ( pH, tăng hoặc giàm thành phần dung môi
hữu cơ, hoặc thay đổi dung môi pha động có độ phân cực cao hơn hoặc thấp
hơn).
+ Thay đổi thành phần pha tĩnh
+ Thay đổi nhiệt độ cột: nhiệt độ tăng, vận tốc trao đổi chất tăng lên nên số đãi
lý thuyết tăng lên.
c kí lng hiHPLC [4]
2.2.1. So
2.2.1.1 Khái nim
Sắc kí pha đảo có pha tĩnh không phân cực và pha động phân cực. Áp dụng cho
các chất ít phân cực.
o
Trong sắc ký phân bố nói chung, pha tĩnh là những hợp chất hữu cơ được gắn
lên chất mang rắn silica hoặc cấu thành từ silica theo hai kiểu:
Pha tĩnh được giữ lại trên chất mang rắn bằng cơ chế hấp phụ vật lý → sắc ký
lỏng-lỏng (liquid-liquid chromatography).
Pha tĩnh liên kết hóa học với chất nền → sắc ký pha liên kết (bonded phase
chromatography)
Trong quá trình sử dụng, người ta nhận thấy sắc ký pha liên kết có nhiều ưu
Hợp chất cần phân tích khi đi qua pha tĩnh sẽ bị
giữ lại bởi những lực lượng tương tác khác nhau tùy thuộc tính chất, đặc điểm của chất
tan và pha tĩnh.
Trong sắc kí pha đảo, nhóm thế R trong hợp chất siloxan hầu như không phân
cực hoặc ít phân cực. Đó là các ankyl dây dài như C8 (n-octyl), C18 (n-octadecyl) còn
gọi là ODS (octadecylsilan) hoặc các nhóm alkyl ngắn hơn như C2; ngoài ra còn có
cyclohexyl, phenyl trong đó nhóm phenyl có độ phân cực cao hơn nhóm alkyl. Người
ta nhận thấy các alkyl dây dài cho kết quả tách ổn định hơn các loại khác nên đây là
loại được sử dụng nhiều nhất.
Hình 3: Cấu trúc của cột ODS
Trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.HCM Khoa Công nghệ Hóa học
GVHD: GVC Th.s Trương Bách Chiến Trang 17
Tuy nhiên do hiệu ứng lập thể nên trong cấu trúc của pha tĩnh còn nhóm OH
-
chưa phản ứng, gây ảnh hưởng xấu đến quá trình tách sắc ký tùy môi trường pH phân
tích.
Trong môi trường quá acid (pH < 2) thì có sự phân ly các nhóm ether (-O-Si-
C18) ra khỏi nền. Lúc này cột sẽ mất hoạt tính dẫn đến chất cần phân tích không còn
tương tác tốt với pha tĩnh nữa.
Trong môi trường bazơ (pH > 7), chính nền silic mang pha tĩnh có thể bị hòa
tan (SiO
2
thành silicat), hệ quả là N giảm và số nhánh ghép cũng giảm, mũi rộng ra và
thời gian lưu cũng có thể giảm. Kết quả phân tích như vậy sẽ mất đi độ chính xác.
Một trong những cách khắc phục hiện tượng này là dùng các chất như
trimethylchlorosilan ClSi(CH
3
Ngoài sườn silica, thời gian gần đây người ta có sử dụng đến nền nhựa
polystyren (Polystyren Reversed Phase – PRP) cho phép phân tích trong môi trường
pH từ 1 – 13. Cột này dễ sử dụng trong môi trường acid và bazơ mạnh.
ng trong so
Pha động trong sắc ký lỏng nói chung phải đạt những yêu cầu sau:
- Hòa tan mẫu phân tích.
- Phù hợp với đầu dò.
- Không hòa tan hay làm mòn pha tĩnh.
- Có độ nhớt thấp để tránh áp suất dội lại cao.
- Tinh khiết dùng cho sắc ký (HPLC grade).
Trong sắc ký pha đảo, dung môi pha động có độ phân cực cao. Trên lý thuyết
chúng ta có thể sử dụng khá nhiều dung môi nhưng kinh nghiệm thực tế cho thấy
methanol (MeOH),acetonitrile (ACN) và tetrahydrofuran (THF) là đạt yêu cầu nhất.
Nước là một dung môi được cho vào các dung môi hữu cơ để giảm khả năng
rửa giải.Mỗi dung môi đều đặc trưng bởi các hằng số vật lý như chỉ số khúc xạ
(refractive index), độ nhớt (viscocity), nhiệt độ sôi (boiling point), độ phân cực
(polarity index), độ rửa giải (eluent strength)…
Trong đó độ phân cực và độ rửa giải có tác động lớn lên khả năng phân tách của
các mũi sắc ký.
Trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.HCM Khoa Công nghệ Hóa học
GVHD: GVC Th.s Trương Bách Chiến Trang 19
Bảng 2: Tính chất của một số pha động trong sắc ký lỏng
Dung môi
phân
cc
ra
giài
1,431
182
Nước
10,2
Lớn
0,89
1,333
100
Có ba thông số gây ảnh hưởng lớn đến tách các mũi sắc ký: số đĩa lý thuyết N,
hệ số dung lượng K’, độ chọn lọc α . Khi sự thay đổi thành phần pha động không đem
lại kết quả tách mũi theo yêu cầu thì chúng ta phải thay đổi bản chất pha động (sử
dụng dung môi khác), tức thay đổi α. Đôi khi có thể phải thay đổi cả pha tĩnh.
Trong quá trình tách của sắc ký pha đảo, sự tương tác giữa hợp chất cần phân
tích và pha động phụ thuộc rất nhiều vào moment lưỡng cực, tính acid (cho proton)
hoặc tính baz (nhận proton) của dung môi.
Thông thường pha động trong sắc ký pha đảo bao gồm một hỗn hợp nước hoặc
dung dịch đệm với một hoặc nhiều dung môi hữu cơ phân cực tan được trong nước.
Nước là một dung môi rất phân cực nên nó không tương tác với những nhóm alkyl
không phân cực trong pha tĩnh, do đó nó được coi như pha động yếu nhất và có tốc độ
rửa giải chậm nhất trong tất cả các dung môi động của sắc ký pha đảo.
Hỗn hợp nước và dung môi hữu cơ thường làm gia tăng độ nhớt dẫn đến việc
tăng áp suất cột.
Trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.HCM Khoa Công nghệ Hóa học
GVHD: GVC Th.s Trương Bách Chiến Trang 20
Hình 6: Độ nhớt của hỗn hợp nước và dung môi hữu cơ ở 25
o
C
Việc lựa chọn dung môi và thành phần dung môi trong pha động được tối ưu
Các dung môi chủ yếu:
- Hydrocarbons( Pentan, Hexane, Heptane, Octane)
- Aromatic hydrocacbon ( Benzen, Toluene, Xylene)
- Methylene chloride
- Chloroform
- Carbon tetrachloride
Các dung môi phụ:Methyl-t-butyl ether, Diethyl ether, Tetrahydrofuran,
Dioxane, Pyridine, Ethyl acetate, Acetonitrile, Acetone, 2-propaol, ethanol, methanol.
2.3. Sc kí khí [5] [6]
2.3.1. Khái nim
Sắc ký khí là một phương pháp phân tích có nguyên lý dựa trên hai quá trình
hấp thụ (hoặc hấp phụ) và giải hấp liên tục giữa pha tĩnh là chất rắn hoặc lỏng và pha
động là chất khí.
Do pha động hoàn toàn không có tương tác với chất cần phân tích nên thời gian
lưu giữ của các chất trong cột phân tích chỉ phụ thuộc vào bản chất của tương tác giữa
chất phân tích với pha tĩnh. Dựa vào sự khác nhau về ái lực giữa các chất cần phân tích
với pha tĩnh và nhiệt độ sôi mà các chất cần phân tích trong mẫu được tách ra khỏi
nhau nhờ sự chuyển dịch liên tục của pha động dọc lớp pha tĩnh. Khi pha tĩnh là một
chất hấp phụ rắn thì kỹ thuật phân tích được gọi là sắc ký khí- rắn (GSC). Khi pha tĩnh
là chất lỏng được gắn lên bề mặt của chất mang trơ hoặc được phủ dưới dạng một lớp
phim mỏng lên thành cột mao quản thì kỹ thuật này được gọi là sắc ký khí-lỏng
(GLC).
Trong sắc ký khí, các đại lượng thời gian lưu, độ chọn lọc , số đĩa lý thuyết,
cũng được sử dụng để đánh giá khả năng tách các chất trong mẫu phân tích. Tuy nhiên
điều kiện tiến hành thí nghiệm như nhiệt độ, áp suất, tốc độ dòng, là những yếu tố
ảnh hưởng đến độ phân giải của các chất thể hiện qua phương trình Van- Deemter:
'2
2
2'