Bộ y tế
TRNG I HC Y H NI
ON TH KIM LIấN
nghiên cứu viêm nhiễm ĐƯờNG sinh dục dới
và một số yếu tố ảnh hƯởNG ở nữ công nhân
khu công nghiệp bắc thăng long
Chuyên ngành: Sản phụ khoa
Mã số: 62.72.13.03
LUN VN BC S CHUYấN KHOA CP II
Ngời hớng dẫn khoa học:
Pgs.ts. nguyễn ngọc minh
H NI - 2012
1
4,12,35,37-40
1-3,5-
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới là một trong những bệnh phụ khoa
thường gặp nhất ở phụ nữ, đặc biệt ở phụ nữ đã sinh hoạt tình dục và trong
độ tuổi sinh đẻ. Ở các nước đang phát triển, khoảng 20% tổng số phụ nữ đến
khám tại các cơ sở y tế là do viêm nhiễm đường sinh dục dưới [87].Tỷ lệ
viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở nữ chiếm khoảng 50%, trong đó viêm âm
đạo, viêm cổ tử cung, lộ tuyến cổ tử cung chiếm hàng đầu, khoảng 34 - 89%
[35]. Theo nghiên cứu của Trần Thị Trung Chiến và Trần Thị Phương Mai
(2004) khi “Khảo sát thực trạng nhiễm khuẩn đường sinh sản, u vú, ung thư
cổ tử cung ở phụ nữ Việt Nam”, trong số 8741 phụ nữ độ tuổi sinh đẻ tại 8
vùng sinh thái khác nhau của cả nước cho thấy tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh
dục dưới là 66,6%, trong đó chủ yếu là viêm âm đạo và viêm cổ tử cung [13].
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới, tuy bệnh không gây nguy hiểm đến
tính mạng người bệnh, nhưng là nguyên nhân chủ yếu gây ra nhiều rối loạn
làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, khả năng lao động và hạnh phúc gia đình [4].
Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, có thể để lại hậu quả nặng nề như:
ngoài, môi bé ở trong, âm vật và các tuyến phụ cận [1].
Môi lớn: Là hai nếp da lớn bao quanh lỗ ngoài âm đạo, cấu trúc môi lớn
là tổ chức mỡ, có lông bao phủ. Phía trước liền với phía trên của xương mu
gọi là gò vệ nữ, phía sau liền với nhau tạo thành mép sau của âm hộ và liên
quan đến tầng sinh môn [1].
Môi bé: Là hai nếp da mỏng tạo thành nếp, phía trong của môi lớn. Mặt
trong của môi bé liên tục với thành âm đạo [1].
Tuyến Bartholin và tuyến Skène: Là hai tuyến sinh dục phụ. Tuyến
Bartholin nằm ở hai bên, giữa môi lớn và môi bé. Tuyến Skène nằm hai bên
lỗ niệu đạo. Các tuyến này có chức năng bài tiết các chất nhầy khi kích thích
tình dục [52].
Âm đạo (AĐ): Là một ống cơ, đi từ cổ tử cung chạy chếch xuống dưới
và ra trước tới tiền đình âm đạo, thành sau dài khoảng 9 cm, thành trước dài
khoảng 7,5 cm [1]. Âm đạo rộng dần từ dưới lên trên, đầu trên âm đạo bám
vào phần âm đạo của cổ tử cung theo một đường vòng giới hạn nên vòm âm
đạo và tạo ra các cùng đồ trước, sau và hai bên, trong đó cùng đồ sau sâu hơn
cùng đồ trước. Thành âm đạo được cấu tạo bởi 3 lớp, kể từ ngoài vào trong
gồm: Lớp liên kết, lớp cơ trơn và lớp niêm mạc. Niêm mạc có nhiều nếp nhăn
ngang, chịu ảnh hưởng của các nội tiết tố nữ , đặc biệt là estrogen [57].
Cổ tử cung: hình nón cụt, lồi vào trong âm đạo, kích thước 3 cm x 2 cm
(người chưa đẻ) và 3 cm x 3 cm ở người đã đẻ, phần cổ tử cung trong âm đạo
4
có hình trụ. Ống cổ tử cung mở ra phía ngoài âm đạo gọi là lỗ ngoài cổ tử
cung, phía trong thông với buồng tử cung qua lỗ trong cổ tử cung. Ở phụ nữ
chưa đẻ thì lỗ ngoài cổ tử cung tròn, phụ nữ đã đẻ lỗ ngoài cổ tử cung rộng ra
theo chiều ngang, mật độ mềm hơn. Bề mặt cổ tử cung được phủ bởi biểu mô
lát tầng không sừng hoá, thay đổi phụ thuộc vào nồng độ estrogen buồng
trứng theo từng lứa tuổi của người phụ nữ. Còn ống cổ tử cung có cấu trúc
biểu mô trụ tuyến chế nhầy, chịu ảnh hưởng của tình trạng nội tiết nên bệnh lý
giống như của nội mạc tử cung. Phía trong cổ tử cung là nơi ẩn náu của vi
trường âm đạo có tính acid. pH âm đạo được duy trì nhờ trực khuẩn
Lactobacilli kỵ khí có sẵn trong âm đạo. Các trực khuẩn này sử dụng
glucogen tích lũy trong tế bào biểu mô của âm đạo tạo thành acid lactic làm
cho môi trường âm đạo có tính acid, không thuận lợi cho các vi khuẩn gây
6
bệnh phát triển. Nồng độ glucogen dự trữ ở biểu mô âm đạo chịu ảnh hưởng
của estrogen [14], [18].
Ngay từ khi sinh ra, tế bào âm đạo của em bé gái đã có nhiều glucogen
do có estrogen từ mẹ truyền sang nên pH môi trường âm đạo thấp, nhưng chỉ
sau một thời gian ngắn, pH âm đạo tăng lên tới 6 – 8 do estrogen mất đi. Khi
dậy thì, do buồng trứng tăng chế tiết estrogen nên lượng acid lactic của âm
đạo lại tăng cao. Cho đến thời kỳ mãn kinh, lượng estrogen giảm dần, các tế
bào biểu mô âm đạo mất dần glucogen, lượng acid lactic sẽ giảm dần, pH của
môi trường âm đạo lại tăng lên. Khi pH âm đạo thay đổi hoặc trong điều kiện
thuận lợi, các vi khuẩn thường có trong âm đạo sẽ là tác nhân gây bệnh [41].
Hệ vi sinh vật bình thường của âm đạo
Hệ sinh vật âm đạo bình thường rất phong phú, chứa 10
8
đến 10
12
vi
khuẩn/ml, trong đó trực khuẩn Lactobacilli (là trực khuẩn Gram (+), dài và
mảnh) là chính, chiếm khoảng 50 - 88% cùng tồn tại tạo nên trạng thái cân
bằng động không gây bệnh. Nếu vì một lý do nào đó làm mất sự cân bằng này
sẽ dẫn tới tình trạng viêm nhiễm âm đạo, cổ tử cung, dịch âm đạo có nhiều
bạch cầu, các vi khuẩn, ký sinh trùng gây bệnh. Có thể do các vi sinh vật sống
cộng sinh bình thường trong âm đạo phát triển mạnh đủ để trở thành gây bệnh
và các vi sinh vật không thuộc hệ vi sinh vật bình thường lây từ bên ngoài do
quan hệ tình dục [18], [67], [83].
Dịch âm đạo ở người phụ nữ bình thường có thể có những vi sinh vật sau
Trong trạng thái bình thường, ở đường sinh dục dưới chỉ có các vi khuẩn
có nguồn gốc từ da và ruột, do có liên quan chặt chẽ với da và hậu môn. Phần
trên của cơ quan sinh dục bình thường không có vi khuẩn. Hai phần của cơ
quan sinh dục được ngăn cách bằng ống cổ tử cung. Cổ tử cung thường xuyên
có chất nhầy, đó chính là yếu tố tự vệ cơ bản chống lại vi khuẩn từ âm đạo
8
lên. Như vậy về mặt giải phẫu, cơ quan sinh dục là một ống liên tục từ ngoài
đến phúc mạc nhưng về mặt vi khuẩn học thì phần dưới nhiễm khuẩn và phần
trên vô khuẩn [41].
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới có thể do vi khuẩn, ký sinh trùng,
nấm, vi rút gây nên. Trong nghiên cứu này, tôi chỉ nghiên cứu vấn đề viêm
nhiễm đường sinh dục dưới với một số tác nhân gây bệnh thường gặp: nấm
men Candida, Trichomonas vaginalis, Gardnerella vaginalis, Chlamydia
trachomatis là những mầm bệnh đặc trưng cho viêm nhiễm đường sinh dục
dưới và lây truyền qua đường tình dục.
1.2.1. Nấm Candida
Nấm Candida thuộc lớp Adelomycetes ký sinh và gây bệnh ở người. Các
loài nấm Candida ký sinh thường gặp ở các hốc tự nhiên của cơ thể người
(mồm, khoang mũi họng, lỗ tai, âm đạo ), có thể không gây tác hại cho vật
chủ và ở trạng thái cộng sinh. Khi có điều kiện thuận lợi đặc biệt sự suy giảm
miễn dịch của cơ thể, các nấm men chuyển sang trạng thái gây bệnh. Nấm
men Candida có ái tính với niêm mạc và có thể gây ra một số bệnh như tiêu
chảy, tưa miệng, viêm âm đạo. Candida có thể trở thành một tác nhân nhiễm
trùng cơ hội với những hình thái bệnh nặng như nhiễm Candida vào các phủ
tạng hoặc máu dễ gây tử vong [54].
Nấm Candida là loại tác nhân gây bệnh thường gặp nhất trong viêm
nhiễm đường sinh dục dưới. Nấm Candida gây viêm âm đạo gồm nhiều
chủng: Candida albicans, Candida tropicalis, Candida turolopsis,Candida
glabrata và Candida Kreusei, trong đó nấm Candida albicans chiếm tỷ lệ cao
nhất tới 80 - 90% gây viêm âm đạo, các loại khác ít gặp nhưng có xu hướng
có khả năng tạo ra Hydro để kết hợp với Oxy tạo ra môi trường yếm khí.
10
Người là vật chủ duy nhất của Trichomonas vaginalis. Trichomonas vaginalis
sống trong môi trường pH ≥ 5. T.vaginalis sinh sản bằng cách phân đôi theo
chiều dọc [47], [41].
Vị trí ký sinh của T.vaginalis: Ở nữ giới, T.vaginalis ký sinh chủ yếu
trong âm đạo, đôi khi ở tử cung, buồng trứng, vòi tử cung. Ngoài ra
T.vaginalis có thể ký sinh ở đường tiết niệu như niệu quản, bàng quang, bể
thận. Còn ở nam giới, T.vaginalis cũng thường ký sinh ở niệu đạo, ống mào
tinh và tuyến tiền liệt. T.vaginalis có chu kỳ đặc biệt với một vật chủ duy nhất
là người [47].
Khi ký sinh ở âm đạo, T.vaginalis gây tổn thương, thoái hóa các tế bào
biểu mô âm đạo và làm cho pH âm đạo chuyển từ toan sang kiềm, tạo điều
kiện cho vi khuẩn phát triển gây viêm âm đạo. Ngoài ra, T.vaginalis có thể
gây viêm loét cổ tử cung, viêm phần phụ [47]. Phụ nữ có thai bị viêm âm đạo
do T.vaginalis có nguy cơ cao bị vỡ ối sớm và sinh non [46], [74], [78].
Các phương pháp chẩn đoán Trichomonas vaginalis
Soi tươi: Cho vào ống nghiệm có tăm bông chứa bệnh phẩm vài giọt
nước muối sinh lý, khuấy đều, ép và xoay tăm bông trên thành ống để ép dịch
ra. Sau đó lấy một giot dịch này nhỏ lên lam kính, đậy lamelle rồi soi dưới
kính hiển vi sẽ thấy trùng roi di động xoay tròn, giật lùi điển hình. Kỹ thuật
này thường được sử dụng vì cho kết quả nhanh và rẻ tiền với độ đặc hiệu cao
là 100% nhưng độ nhạy thấp từ 32 – 82% [4], [14], [41], [47].
Nuôi cấy: Bệnh phẩm được ủ trong ống nghiệm có dung dịch Diamond ở
nhiệt độ 35
0
C trong 4 ngày, hàng ngày kiểm tra môi trường nuôi cấy tìm
Trichomonas di động. Phương pháp có giá trị chẩn đoán cao, độ nhạy 98%,
độ đặc hiệu tới 100%, nhưng hiện nay ít làm [41].
Khuyếch đại và phát hiện ADN của T.vaginalis: có thể để bệnh phẩm ở
12
Các phương pháp chẩn đoán
Viêm âm đạo do vi trùng yếm khí gây bệnh, trong đó Gardnerella
vaginalis chiếm trên 80% cho nên lấy tiêu chuẩn chẩn đoán Gardnerella
vaginalis (G.vaginalis) làm tiêu chuẩn chẩn đoán.
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Amsel: chẩn đoán viêm âm đạo do
G.vaginalis cần có ít nhất 3 trong 4 tiêu chuẩn sau [5], [9], [58], [73], [80]:
+ Khi hư hôi, màu trắng xám, đồng nhất, dính vào thành âm đạo.
+ pH âm đạo > 4,5.
+ Test Sniff (test amin) dương tính: thấy mùi cá ươn khi nhỏ vài giọt
KOH 10% vào khí hư. Đánh giá trong 5 giây đầu tiên.
+ Clue cells chiếm ≥ 20% tế bào biểu mô âm đạo (là tiêu chuẩn bắt buộc
phải có).
Clue cells là các tế bào biểu mô của âm đạo bong ra được phủ đều bởi
các vi khuẩn hình que nhỏ giống như những hạt nhỏ và đều [9], [55].
Hình 1.2. Hình ảnh tế bào Clue cells
13
Nhuộm Gram tìm Gardnerella vaginalis: là phương pháp đơn giản, có
độ nhạy 89% và độ đặc hiệu 93% [41].
1.2.4. Chlamydia trachomatis
Chlamydia là một nhóm vi khuẩn bắt màu gram âm, ký sinh nội bào bắt
buộc. Trước đây, Chlamydia được xem là virus do chúng có những đặc điểm
giống virus như không phát triển được trên môi trường nuôi cấy vi khuẩn mà phải
ký sinh bắt buộc trên tế bào sống và tế bào cảm thụ. Hiện nay, Chlamydia được
xem là vi khuẩn vì có nhiều đặc điểm giống vi khuẩn, do chúng có vách ngăn
tế bào, nhân, nguyên sinh chất; cấu tạo nhân có AND và ARN, sinh sản bằng
chia đôi tế bào – song phân đôi và chịu tác dụng của một số kháng sinh kháng
khuẩn [56].
Chlamydia gồm nhiều loại, Chủng Chlamydia gây bệnh cho người thường nhắc
đến gồm: Chlamydia Trachomatis, Chlamydophila pneuamoniae, Chlamydophila
đòi hỏi kỹ thuật cao, tốn tiền và mất nhiều thời gian. Cách phân lập
Chlamydia trachomatis thường được thực hiện trên tế bào nuôi cấy McCoy
hoặc Hela [41].
Phương pháp khuếch đại ADN (PCR): Là một phương pháp được sử
dụng rộng rãi để khuếch đại AND trong ống nghiệm lên hàng tỷ lần, phát hiện
tiểu thể cơ bản của C. trachomatis. Nguyên tắc của phương pháp này dựa trên
hoạt tính của enzyme AND polymerase có khả năng tổng hợp một chuỗi AND
mới từ mạch khuôn với cặp mồi được thiết kế bắt cặp nucleotic bổ sung đặc
hiệu. Độ đặc hiệu của phương pháp là 99 – 100%.
15
1.3. MỘT SỐ HÌNH THÁI LÂM SÀNG CỦA NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG
SINH DỤC DƯỚI THƯỜNG GẶP
Bình thường trong âm đạo có một ít dịch trắng trong, đó là chất nhầy do
các tuyến cổ tử cung tiết ra và các tế bào biểu mô âm đạo bong ra, chất nhầy
này không đủ chảy ra ngoài âm hộ tới mức làm người phụ nữ khó chịu. Khi
chất nhầy chảy ra ngoài nhiều hoặc có màu, có mùi đặc biệt gây khó chịu gọi
là khí hư [6]. Khí hư là dịch không màu chảy ra từ cơ quan sinh dục: trong cổ
tử cung, mặt ngoài cổ tử cung, âm đạo, tiền đình. Khí hư là triêu chứng phổ
biến nhất của viêm nhiễm đường sinh dục dưới. Tuỳ theo từng loại tác nhân
gây bệnh mà khí hư sẽ có những tính chất và màu sắc khác nhau, có thể kèm
theo các triệu chứng khác [14].
1.3.1. Viêm âm đạo do nấm
Căn nguyên viêm âm đạo do nấm Candida và chủ yếu là Candida
albican [6], [9], còn lại là các chủng nấm khác như: Candida tropicalis,
Candida turolopsis, Candida glabrata, Candida krusei [59], [62], [66], [84].
- Biểu hiện triệu chứng: thường ngứa nhiều ở âm hộ do vậy người bênh
thường phải gãi làm xây xước âm hộ và có thể làm nấm lan rộng ra cả tầng
sinh môn, bẹn. Khí hư có màu trắng đục như váng sữa, không hôi, số lượng
nhiều. Có thể kèm theo đi tiểu khó, đau khi giao hợp, có cảm giác bỏng rát
sau giao hợp.
- Biểu hiện triệu chứng: Ra khí hư nhiều, hôi rất khó chịu, đặc biệt sau
khi giao hợp hoặc dùng xà phòng kiềm tính. Người bệnh có thể thấy ngứa và
khó chịu ở âm hộ, âm đạo. Tuy vậy, có khoảng 50% phụ nữ nhiễm
G.vaginalis không có các triệu chứng.
17
- Khám âm đạo: thấy có nhiều khí hư đồng nhất, màu trắng xám, dính
vào niêm mạc âm đạo, khí hư có mùi hôi tanh. Niêm mạc âm đạo thường
không viêm đỏ.
- Đo pH > 4,5 [9], [10], [41].
1.3.4. Viêm cổ tử cung do Chlamydia trachomatis
Mặt ngoài cổ tử cung được bao phủ bởi biểu mô lát tầng không sừng
hoá, giống như biểu mô của âm đạo nên các tác nhân gây viêm âm đạo có thể
gây viêm cổ tử cung cho nên ít khi viêm âm đạo đơn thuần mà thường là viêm
cổ tử cung kèm với viêm âm đạo [24].
Ống cổ tử cung được phủ bởi lớp biểu mô tuyến, chịu ảnh hưởng của nội
tiết nên có bệnh lý giống viêm nội mạc tử cung. Ống cổ tử cung là nơi ẩn náu
của vi khuẩn Lậu và là điểm xuất phát của phần lớn các trường hợp viêm sinh
dục trên. Cổ tử cung có thể bị viêm cấp tính do Lậu cầu hay các vi khuẩn
khác từ âm đạo lên nhưng thường gặp nhất là viêm cổ tử cung mãn tính phối
hợp với lộ tuyến cổ tử cung [41].
Lộ tuyến cổ tử cung là khi biểu mô lát phủ mặt ngoài cổ tử cung bị phá
huỷ (do các nguyên nhân viêm nhiễm, chấn thương, sau sẩy thai, sau đẻ) làm
biểu mô trụ ở trong ống cổ tử cung mọc xâm lấn ra ngoài [15]. Lộ tuyến cổ tử
cung là loại tổn thương rất hay gặp, chiếm khoảng hơn 60% trong các tổn
thương tại cổ tử cung [24].
Triệu chứng của viêm cổ tử cung do Chlamydia trachomatis
Biểu hiện lâm sàng: hay gặp thể không triệu chứng lâm sàng. Người phụ
nữ đi khám vì ra khí hư mủ (30 - 60% số trường hợp), có khi ra máu (30% số
trường hợp), có thể ngứa âm đạo kèm theo đi tiểu khó (20 - 60% số trường
hợp), đau tiểu khung có thể gặp ở 1/3 số trường hợp [14].
nhiều ở cả Mỹ và Châu Âu cũng như trên toàn thế giới. Đạt được điều này là
do chẩn đoán sớm và điều trị bằng Metronidazole [41].
Tại Zimbabwe, theo Mbizvo EM (2001) khi nghiên cứu 393 phụ nữ từ
15 - 49 tuổi đến khám tại phòng khám phụ khoa/KHHGĐ tại Harare có hơn
một nửa số phụ nữ có ít nhất một nguy cơ nhiễm trùng đường sinh dục dưới,
tỷ lệ nhiễm T.vaginalis là 15,4% [77].
Tại Mỹ, theo Lander DV và cộng sự (2004) khi nghiên cứu ở 598 phụ
nữ có than phiền về bộ phận sinh dục đến khám tại phòng khám sản phụ khoa,
trường Đại học Y Pittsburgh của Mỹ đã cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng đường
sinh dục dưới do T.vaginalis là 12% [75].
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới do Gardnerella vaginalis
Tại Argentina, theo Buscemi (2004) khi nghiên cứu 749 phụ nữ bị viêm
âm đạo cấp tính tại Bệnh viện Truyền nhiễm ở Francisco Muniz cho thấy tỷ lệ
nhiễm G.vaginalis 25,6% [62].
Tại Mỹ, theo Lander DV và cộng sự (2004) khi nghiên cứu ở 598 phụ nữ
có than phiền về bộ phận sinh dục đến khám tại phòng khám sản phụ khoa
của trường Đại học Y Pittsburgh của Mỹ cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do
Gardnerella vaginalis 46% [75].
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới do Chlamydia trachomatis
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới do C.trachomatis là một trong những
nhiễm trùng phổ biến nhất lây truyền qua đường tình dục đã được công nhận
trên toàn thế giới. Tầm quan trọng của Chlamydia như một tác nhân lây
truyền theo đường tình dục dưới đã được nghiên cứu từ những năm 1970 với
sự thông báo về viêm tiểu khung do Chlamydia dẫn đến vô sinh. Các dữ liệu
gân đây từ nhiều nước phát triển đã cho thấy giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh
nhiễm trùng do Lậu cầu, trong khi đó tỷ lệ nhiễm trùng đường sinh dục dưới
do C.trachomatis vẫn ở mức cao trong hầu hết các quốc gia [34], [82].
20
Người ta tìm thấy C.trachomatis từ 5 - 35% ở cổ tử cung của phụ nữ
trong độ tuổi hoạt động tình dục. Theo Nessa K và cộng sự (2005), khi nghiên
độ tuổi từ 19 – 44 đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Nhà hộ
sinh Hai Bà Trưng và khoa sản Bệnh viện Thanh Nhàn - Hà Nội cho biết tỷ lệ
viêm âm hộ là 13,7%; viêm âm đạo 44,9%; viêm cổ tử cung 51,2%; lộ tuyến
cổ tử cung 31,7%. Kết quả xét nghiệm vi sinh vật đã xác định tỷ lệ nhiễm
Candida 11,1%; T. vaginalis 1,3%; G. vaginalis 3,8%; C.trachomatis 4,4%.
Không có trường hợp nào nhiễm Lậu cầu [36].
1.5. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH
DỤC DƯỚI
Ở các nước đang phát triển, người ta thấy có một số yếu tố đặc trưng làm
tăng tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ trẻ trong dân số; bùng nổ
đô thị hoá; vị trí thấp kém của phụ nữ là những yếu tố quan trọng làm tăng tỷ
lệ VNĐSDD ở phụ nữ. Thêm vào đó là tình trạng học vấn thấp, thiếu thông
tin về sức khoẻ dẫn đến thiếu hiểu biết, niềm tin trong thực hành phòng bệnh.
Một số phong tục, tập quán như đa thê, tự do tình dục ngoài và trước hôn
nhân cũng góp phần làm tăng tỷ lệ VNĐSDD. Mặt khác, hạn chế tiếp cận với
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, các bệnh VNĐSDD/BLTQĐTD càng làm tăng tỷ
lệ lưu hành các bệnh VNĐSDD trong cộng đồng.
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu về VNĐSDD ở phụ nữ, nhiều tác giả đều
quan tâm tìm hiểu những yếu tố liên quan đến tỷ lệ lưu hành và cơ cấu mắc
bệnh, đã đưa ra nhiều kết luận về các yếu tố như cá nhân, hành vi và các yếu
tố về sinh đẻ, nạo hút thai…
22
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Những phụ nữ là công nhân viên khu công nghiệp Bắc Thăng Long
trong độ tuổi sinh đẻ, đã có quan hệ tình dục đến khám phụ khoa tại Bệnh
viện Bắc Thăng Long trong thời gian nghiên cứu, tình nguyện tham gia
nghiên cứu và thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn, từ tháng 3 đến tháng 8 năm
2012.
vào nghiên cứu.
2.2.3. Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:
n = Z
2
(1 -
α
/2)
2
)1(
∆
−
pp
Trong đó:
n là cỡ mẫu cần nghiên cứu
Z là độ tin cậy lấy ở ngưỡng α = 0,05 với Z
2
(1-α/2) = 1,96
P = 0,75: Chúng tôi dự kiến tỷ lệ mắc khoảng 75% (Theo Nguyễn Duy
Ánh tỷ lệ VNĐSDD là 78,4%; theo Trần Thị Trung Chiến tỷ lệ VNĐSDD là
64,24%, theo Bùi Thu Hà tỷ lệ VNĐSDD từ 41– 78%).
∆ là khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ thật
của quần thể, ∆ = 0,05.
α là xác suất của sai lầm loại 1, mức ý nghĩa thống kê α = 0,05.
Qua tính toán cỡ mẫu cần chọn là 288 người, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu trên 290 người.
24
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU, CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU
2.3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu và một số yếu tố liên quan
Tuổi: Chia theo các nhóm tuổỏi: 18 - 24, 25 - 29, 30 - 34, 35 - 39, 40-