Chuyên đề 3 bộ máy hành chính nhà nước - Pdf 25

I. BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm
Bộ máy hành chính nhà nước được thiết lập để thực thi quyền hành pháp (quyền tổ
chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối
ngoại của Nhà nước). Hệ thống các cơ quan nhà nước đứng đầu là Chính phủ và thực hiện
quyền hành pháp được gọi là bộ máy hành chính nhà nước (hay hệ thống các cơ quan hành
chính nhà nước).
Như vậy, bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước
được thành lập, tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật để thực hiện quyền lực
nhà nước, có chức năng quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
2. Đặc điểm của BMHCNN
Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước. Do vậy,
bộ máy hành chính nhà nước cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của bộ máy nhà nước,
đó là:
Một là, bộ máy hành chính nhà nước hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được tổ
chức và hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Tính quyền lực nhà nước thể hiện ở
chỗ: bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước; bộ máy hành chính
nhà nước nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các
quyền và nghĩa vụ pháp lý.
Hai là, mỗi cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước đều hoạt động dựa trên những
quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền nhất định và có những mối
quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao. Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước
có cơ cấu, tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước do pháp luật
quy định. Đó là tổng thể những quyền và nghĩa vụ cụ thể mang tính quyền lực, được nhà
nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình, cụ thể: các cơ quan hành chính
nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật, trong
quá trình hoạt động có quyền ban hành các quyết định hành chính thể hiện dưới hình thức là
các văn bản pháp quy và các văn bản cá biệt; được thành lập theo quy định của Hiến pháp,
luật, pháp lệnh hoặc theo quyết định của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; được đặt

nhà nước hoàn thành nhiệm vụ.
Ba là, bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống cơ quan có mối liên hệ chặt chẽ, thống
nhất. Bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống cơ quan được thành lập từ trung ương
đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo hệ
thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực
thi quyền quản lý hành chính nhà nước. Hầu hết các cơ quan hành chính nhà nước đều có hệ
thống các đơn vị cơ sở trực thuộc. Các đơn vị, cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi
trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.
Bốn là, hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước mang tính thường xuyên, liên tục
và tương đối ổn định, là cầu nối đưa đường lối, chính sách, pháp luật vào cuộc sống. Tất cả
các cơ quan hành chính nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ trực
thuộc trên - dưới, trực thuộc ngang - dọc, quan hệ chéo tạo thành một hệ thống thống nhất
mà trung tâm chỉ đạo là Chính phủ.
Năm là, bộ máy hành chính nhà nước có chức năng quản lý nhà nước dưới hai hình
thức là ban hành các văn bản quy phạm và văn bản cá biệt trên cơ sở Hiến pháp, luật, pháp
lệnh và các văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên nhằm chấp hành, thực
hiện các văn bản đó. Mặt khác trực tiếp chỉ đạo, điều hành, kiểm tra hoạt động của các cơ
quan hành chính nhà nước dưới quyền và các đơn vị cơ sở trực thuộc của mình.
Tóm lại, bộ máy hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực
thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi thẩm
quyền của mình thưc hiện hoạt động chấp hành - điều hành và tham gia chủ yếu vào hoạt
động quản lý nhà nước, có cơ cấu tổ chức và phạm vi theo luật định.
Trong quá trình thực thi quyền lực này, các cơ quan hành chính nhà nước được sử dụng
quyền lập quy và quyền hành chính theo quy định của pháp luật.
- Quyền lập quy là quyền ban hành các văn bản pháp quy (còn gọi là văn bản dưới luật)
như ban hành Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của
Bộ trưởng, v.v. để cụ thể hoá luật, thực hiện luật nhằm điều chỉnh những quan hệ kinh tế - xã
hội thuộc phạm vi quyền hành pháp. Dưới góc độ pháp luật, có thể xem đây là sự uỷ quyền
của lập pháp cho hành pháp để điều hành các hoạt động cụ thể của quyền lực nhà nước.
- Quyền hành chính là quyền tổ chức ra bộ máy cai quản, sắp xếp nhân sự, điều hành

4. Sự phân định rõ ràng phạm vi quản lý
- Là nguyên tắc định lượng thích hợp cho sự phân quyền quản lý, cho việc sắp xếp bộ máy, bố
trí số lượng và chất lượng nhân viên của cơ quan QL HCNN
5. Sự thống nhất giữa chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm với thẩm quyền, quyền
hạn, phương tiện
- Nền hành chính là một hệ thống các chức trách, quyền hạn, thẩm quyền.
- Bất cứ một tổ chức hành chính nào cũng phải quán triệt nguyên tắc về sự nhất trí giữa chức
năng, nhiệm vụ với quyền hạn và thẩm quyền, và giữa quyền hạn và trách nhiệm, giữa trách
nhiệm và phương tiện.
- Trong hoạt động hành chính, đó là những yếu tố tạo điều kiện cho nhau nên tất cả chúng
phải tương xứng với nhau.
- Đã có chức năng, nhiệm vụ thì phải có quyền hạn và thẩm quyền nhất định; có thẩm quyền
thì phải có trách nhiệm.
- Nhiệm vụ > quyền hạn: Không hòan thành nhiệm vụ
- Trách nhiệm < quyền hạn: Dễ lạm quyền
6. Tiết kiệm và hiệu quả
- Hiệu lực và hiệu quả QLHCNN
+ Hiệu lực là mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao so với mục tiêu của tổ chức
+ Hiệu quả là tỷ lệ so sánh giữa đầu vào và đầu ra của tổ chức
- Nền hành chính nhà nước có hiệu quả là hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong các chiến lược,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã vạch ra.
- Hiệu quả được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau của kinh tế, xã hội.
- Thước đo hiệu quả của nề hành chính là các quyết định quản lý hành chính nhà nước đã
được ban hành được xã hội, công dân thừa nhận và thực hiện có hiệu quả, kết quả nhiều mà
chi phí thấp, được đánh giá theo các tiêu chí như kịp thời, đúng lúc, đầy đủ và tiết kiệm.
+ Tính kinh tế: Chi phí thấp nhất để có các yếu tố đầu vào với số lượng và chất lượng
nhất định.
+ Tính hiệu quả: Kết quả lớn nhất từ một lượng đầu vào nhất định
+ Tính hiệu lực: Đạt được kết quả cuối cùng như mong muốn.
7. Sự tham gia của công dân vào công việc quản lý một cách dân chủ

- Cơ quan hành chính nhà nước hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được tổ
chức và hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Tính quyền lực nhà nước thể hiện ở
chổ:
+ Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước;
+ Cơ quan hành chính nhà nước nhân danh nhà nước để hoạt động.
- Mỗi cơ quan hành chính nhà nước đều có một thẩm quyền nhất định, thẩm quyền này
do pháp luật quy định, đó là tổng thể những quyền và nghĩa vụ cụ thể mang tính quyền lực,
được nhà nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình, cụ thể:
+ Các cơ quan nhà nước tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật và để thực hiện
pháp luật;
+ Trong quá trình hoạt động có quyền ban hành các quyết định hành chính thể hiện
dưới hình thức là các văn bản pháp quy và các văn bản cá biệt;
+ Ðược thành lập theo quy định của Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh hoặc theo quyết định
của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên;
+ Ðược đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp và
báo cáo hoạt động trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp;
+ Có tính độc lập và sáng tạo trong tác nghiệp điều hành nhưng theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, nguyên tắc quyền lực phục tùng.
- Về mặt thẩm quyền thì cơ quan hành chính nhà nước được quyền đơn phương ban
hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn bản đó có hiệu lực bắt buộc đối với
các đối tượng có liên quan; cơ quan hành chính nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp
cưỡng chế đối với các đối tượng chịu sự tác động, quản lý của cơ quan hành chính nhà
nước.
b. Ðặc điểm đặc thù
- Cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước, thực hiện
hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong khi đó các cơ
quan nhà nước khác chỉ tham gia vào hoạt động quản lý trong phạm vi, lĩnh vực nhất định.
- Cơ quan hành chính nhà nước nói chung là cơ quan chấp hành, điều hành của cơ
quan quyền lực nhà nước:
+ Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt

Việc phân loại các cơ quan hành chính nhà nước được tiến hành dựa trên những căn cứ,
những tiêu chuẩn khác nhau. Có thể căn cứ vào những quy định của pháp luật, trình tự thành
lập, địa giới hoạt động, nguyên tắc tổ chức và quản lý công việc Tùy thuộc vào từng loại
căn cứ mà ta có các loại cơ quan hành chính nhà nước sau:
a. Theo căn cứ pháp ly thành lập, cơ quan hành chính nhà nước ồm 2 loại
Loại 1: Các cơ quan hiến định: là loại cơ quan hành chính nhà nước
+ Do Hiến pháp quy định việc thành lập.
+ Ðược thành lập trên cơ sở các đạo luật và văn bản dưới luật.
Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước mà việc tổ chức, hoạt động của cơ quan này
do hiến pháp quy định bao gồm các cơ quan: Chính phủ, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ,
UBND các cấp. Ðây là những cơ quan hành chính nhà nước quan trọng nhất, có vị trí ổn
định, tồn tại lâu dài.
Loại 2: Các cơ quan luật định: là cơ quan hành chính nhà nước do luật, các văn bản
dưới luật quy định việc thành lập.
- Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn kể cả ở trung
ương và địa phương. Bao gồm các tổng cục, các cục, sở, phòng, ban các cơ quan này là cơ
quan chuyên môn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung.
- Ðược thành lập trên cơ sở Hiến pháp, nhưng có tính năng động hơn, phù hợp với
những thay đổi của hoạt động quản lý nhà nước.
2. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
Cơ quan hành chính nhà nước được phân làm cơ quan hành chính nhà nước ở trung
ương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
- Cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương: bao gồm Chính phủ, các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.
Các cơ quan này hoạt động trên phạm vi toàn quốc, văn bản pháp luật do các cơ quan
này ban hành có hiệu lực trên phạm vi cả nước và có tính bắt buộc thi hành đối với mọi cơ
quan hành chính nhà nước cấp dưới, với các tổ chức xã hội và mọi công dân.
- Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: bao gồm UBND các cấp (tỉnh, huyện,
xã), các sở, phòng, ban. Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt
động trên một phạm vi lãnh thổ nhất định, các văn bản pháp luật do các cơ quan này ban

Các cấp
chính quyền
Cơ quan hành chính
nhà nước có thẩm quyền
chung
Cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền chuyên
môn
Cấp Trung
ương
Chính phủ Bộ
Cấp Tỉnh UBND Tỉnh Sở
Cấp Huyện UBND Huyện Phòng
Cấp Xã UBND Xã Ban
4. Căn cứ vào cách thức tổ chức và giải quyết công việc
Nếu căn cứ vào nguyên tắc tổ chức và giải quyết công việc thì cơ quan hành chính nhà
nước chia thành hai loại sau: (Ðiều 112, 114, 115 và 124 Hiến pháp 1992):
- Các cơ quan tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo: Các cơ quan này
thường giải quyết những công việc và quy định những vấn đề quan trọng có liên quan đến
nhiều lĩnh vực nên cần có sự bàn bạc, đóng góp của nhiều thành viên. Ðây là các cơ quan
hành chính nhà nước có thẩm quyền chung bao gồm Chính phủ và UBND các cấp.
Trên cơ sở Hiến định (Ðiều 115 và 124 Hiến pháp 1992), những vấn đề quan trọng
thuộc thẩm quyền của Chính phủ, hoặc UBND phải được thảo luận tập thể và quyết định
theo đa số. Như vậy, người đứng đầu các cơ quan này (TTCP, Chủ tịch UBND) có thẩm
quyền giải quyết một số vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ hoặc UBND tương ứng.
- Các cơ quan tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc lãnh đạo một người: là các cơ
quan tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc chế độ thủ trưởng một người, đứng đầu mỗi cơ
quan đó là thủ trưởng cơ quan như bộ trưởng, giám đốc các sở, phòng, ban. Họ là những
người thay mặt cơ quan ra những quyết định nhằm thực hiện những nhiệm vụ, công việc và
chịu trách nhiệm trước pháp luật.

pháp, Chính phủ có chức năng cụ thể là:
+ Có quyền lập qui để thực hiện các luật do cơ quan lập pháp định ra;
+ Quản lý công việc hàng ngày của nhà nước;
+ Quyền tổ chức bộ máy hành chính và quản lý bộ máy đó;
+ Trong phạm vi luật định, có quyền tham gia vào các dự luật, hỗ trợ Quốc hội trong
hoạt động lập pháp.
Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam, Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa
xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước, đảm bảo hiệu lực của bộ máy nhà
nước từ trung ương đến cơ sở. Là cơ quan điều hành cao nhất, Chính phủ chỉ đạo tập trung,
thống nhất các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cấp chính quyền địa
phương. Chính phủ có toàn quyền quyết định các vấn đề có liên quan đến hoạt động quản lý
nhà nước trên phạm vi toàn quốc, trừ các công việc của Quốc hội và UBTV Quốc hội. (Ðiều
112 Hiến pháp 1992 và Chương II, Luật tổ chức Chính phủ công bố ngày 10/02/1992)
b. Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ và các thành viên của Chính phủ
chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo với Quốc hội.
Chính phủ phải trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội khi Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội
có yêu cầu.
c. Trách nhiệm của Chính phủ và các cơ quan thành viên: Chính phủ do Quốc hội lập
ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội. Quốc hội bầu TTCP theo đề nghị của Chủ
tịch nước, giao cho TTCP đề nghị danh sách các Bộ trưởng và thành viên khác của Chính
phủ để Quốc hội phê chuẩn. Ðiều này xác định ba yếu tố:
+ Vai trò và trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội;
+ Vai trò cá nhân của TTCP trong việc lãnh đạo toàn bộ công việc của Chính phủ và
chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Lãnh đạo toàn bộ hoạt động của Chính phủ là Thủ tướng
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, có quyền ra quyết định,
chỉ thị, xác định vai trò, trách nhiệm của các thành viên khác trong Chính phủ; xác định
trách nhiệm cá nhân của những thành viên này.
+ Trách nhiệm cá nhân Bộ trưởng về lĩnh vực mình phụ trách.
2.1.1.2. Thẩm quyền của Chính phủ

- Chính phủ hoạt động bằng 3 hình thức căn bản. Hiệu lực của hoạt động Chính phủ là
kết quả tổng hợp của cả 3 hình thức, hoạt động sau đây:
+ Hoạt động của tập thể Chính phủ: phiên họp Chính phủ
+ Sự chỉ đạo điều hành của TTCP và các phó Thủ tướng (theo sự phân công của
TTCP).
+ Sự hoạt động của các Bộ trưởng với tư cách là thành viên tham gia vào hoạt động
Chính phủ, đồng thời cũng là người đứng đầu một Bộ hay cơ quan ngang Bộ.
- Chính phủ chỉ hoạt động dưới hai danh nghĩa: tập thể Chính phủ, hoặc cá nhân TTCP.
Không có danh nghĩa thường vụ hay thường trực Chính phủ bởi vì theo Luật tổ chức Chính
phủ hiện hành, không có cơ quan thường trực Chính phủ.
- Chính phủ là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể, những vấn đề quan trọng của
Chính phủ phải được thảo luận và quyết định theo đa số (Ðiều 19 Luật tổ chức Chính phủ)
- Các vấn đề đưa ra Chính phủ thảo luận phải là vấn đề trọng yếu nhất có ý nghĩa quốc
gia, có tầm chiến lược, kinh tế, khoa học kỹ thuật chung cho cả nước, cho các ngành và các
địa phương trọng yếu cụ thể.
2.1.1.4. Nhiệm vụ và quyền hạn của TTCP
Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, lãnh đạo công tác của Chính phủ,
các thành viên Chính phủ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp.
Thẩm quyền của TTCP được qui định trong điều 114, Hiến pháp 1992 và Ðiều 20, Luật tổ
chức Chính phủ.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên khác của Chính
phủ. Trong phạm vi thẩm quyền của mình, TTCP ban hành văn bản quyết định và chỉ thị.
Ðể đảm bảo vai trò chỉ đạo của TTCP, đồng thời phát huy khả năng sáng tạo chủ động
của các phó TTCP và các Bộ trưởng, cần phải:
+ Phó Thủ tướng được phân công phụ trách khối hay lĩnh vực hoặc giúp Thủ tướng chỉ
đạo việc phối hợp các công việc giữa các Bộ trưởng phải bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất
của TTCP.
+ Trong phạm vi quyền hạn được qui định và được giao, các phó TTCP và các Bộ
trưởng phải chủ động trong hoạt động của mình. Tuy vậy, vẫn phải đảm bảo việc phối hợp
và điều hoà chung trong Chính phủ, bởi vì quyết định của tập thể Chính phủ là quyết định

hiện quyền hành pháp, tức là người đứng đầu hệ thống hành chính Nhà nước đối với ngành
hay lĩnh vực, để quản lý ngành hay lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước.
- Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu sự lãnh đạo của Thủ tướng
Chính phủ, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành mình phụ trách trên phạm
vi cả nước, bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong ngành, lĩnh vực; chịu trách nhiệm trước Thủ
tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách.
- Các cơ quan thuộc Chính phủ là những cơ quan có chức năng gần ngang Bộ như
Tổng cục du lịch, Tổng cục hải quan, Tổng cục thống kê Thủ trưởng các cơ quan này
không phải là thành viên của Chính phủ, họ có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ
nhưng không có quyền biểu quyết.
- Mối quan hệ giữa ngành và Bộ:
+ Bộ là một phạm trù tổ chức nhà nước, là cơ quan Trung ương quản lý nhà nước, hoạt
động theo nguyên tắc tổ chức hành chính nhà nước.
+ Ngành (ví dụ như ngành kinh tế-kỹ thuật) là một phạm trù kinh tế, và các tổ chức
liên hiệp ngành, hoạt động theo nguyên tắc và phương thức kinh doanh.
+ Không nhất thiết khi có một ngành hình thành do chuyên môn hoá ngày càng sâu thì
phải có một Bộ chủ quản. Bởi vì trên thực tế, do xu hướng ngày càng mở rộng quyền tự chủ
kinh doanh cho xí nghiệp, cho nên ngày càng xuất hiện nhiều ngành phân chia rất hẹp. Ðiều
đó, cần sự quản lý bao quát hơn của Bộ, chứ không phải lúc nào cũng thành lập một Bộ
riêng.
- Mối quan hệ giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ nếu có mối
liên hệ với nhau, phải có trách nhiệm tôn trọng quyền quản lý của nhau, phối hợp thực hiện
những nhiệm vụ của nhà nước.
2.2 Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
2.2.1. Khái quát về cơ quan hành chính nhà nước ở địa phuong
a. Khái niệm
Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là những cơ quan hành chính nhà nước
thay mặt chính quyền ở địa phương.
- Phân cấp: Các cơ quan HCNN ở địa phương được chia thành ba cấp
- Cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Cần Thơ vừa phụ thuộc vào HÐND huyện Ô Môn.
+ Các sở, phòng, ban (cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn) vừa
phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên vừa phụ
thuộc vào UBND cùng cấp (cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp).
Ví dụ: Phòng văn hóa-thông tin huyện Thốt Nốt, trong hoạt động của mình vừa phụ
thuộc vào Sở văn hóa-thông tin tỉnh Cần Thơ vừa phụ thuộc vào UBND huyện Thốt Nốt.
2.2.2. Ủy ban nhân dân
2.2.2.1. Vai trò
- UBND do HÐND bầu ra, là cơ quan chấp hành của HÐND, nó là cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương có chức năng và nhiệm vụ chấp hành hiến pháp, luật, các văn bản
của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HÐND cùng cấp.
- Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND được quy định cụ thể trong Hiến pháp 1992 và
Luật tổ chức HÐND và UBND (Ðiều 42, Luật sửa đổi);
2.2.2.2. Tính chất và hoạt động
- UBND là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung. Nhiệm kỳ của UBND
theo nhiệm kỳ của hội đồng nhân dân cùng cấp.
- UBND gồm có một Chủ tịch, một hay nhiều phó Chủ tịch và các ủy viên. Chủ tịch
UBND phải là đại biểu HÐND, do HÐND cùng cấp bầu ra và được Chủ tịch UBND cấp trên
trực tiếp phê chuẩn ( nếu là cấp tỉnh thì phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn ).
- UBND là một thiết chế tập thể trong đó Chủ tịch UBND là người trực tiếp lãnh đạo
hoạt động của UBND. Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, UBND phải
thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.Chủ tịch UBND
- Chủ tịch UBND có nhiệm vụ và quyền hạn riêng được quy định trong pháp luật, phải
chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình. Chủ tịch UBND
là: "Người lãnh đạo và điều hành công việc của UBND, chịu trách nhiệm cá nhân về việc
thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình; cùng với UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của
UBND trước HÐND cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên".
- Tuy UBND làm việc theo chế độ tập thể, nhưng mỗi thành viên của UBND chịu trách
nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước HÐND cùng cấp tương ứng. Trong đó, Chủ
tịch UBND là người đứng đầu, chỉ đạo và phân công công tác cho các Phó Chủ tịch và các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status