Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu với đề tài “Nhu cầu quan hệ của người
già cô đơn, không nơi nương tựa tại Trung tâm bảo trợ xã hội và vai trò can
thiệp của Nhân viên công tác xã hội”, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi còn
nhận được sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình của Trung tâm, các thầy cô và bạn bè.
Để hoàn thành nghiên cứu này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn các thầy
cô giáo trong khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Hà Nội. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, Th.S. Mai Tuyết
Hạnh đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu
này. Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong đoàn thực tập
đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi xây dựng đề tài nghiên cứu này.
Bên cạnh đó, tôi xin được gửi lời chân thành cảm ơn tới Ban giám đốc, cán bộ
nhân viên và kiểm huấn viên cũng như người già đang được nuôi dưỡng tại
Trung tâm bảo trợ xã hội IV, Ba Vì- Hà Nội, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực
tập và nghiên cứu đề tài.
Vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên nghiên cứu này không tránh khỏi
những thiếu sót nhất định, rất mong sự góp ý của các thầy cô giáo, các bạn và
những người quan tâm đến nghiên cứu này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Sinh viên
1
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
MỤC LỤC
Phần I. MỞ ĐẦU………………………………………………………….…… 4
1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………….….…4
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu………………………….……6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……………………………… …….… 6
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu………………………………7
5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………8
Chương III. Lượng giá kết quả và những bài học kinh nghiệm…………….43
1.Lượng giá kết quả thực tập………………………………………………….43
2.Những bài học kinh nghiệm…………………………………………………44
Phần III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ…………………………………45
1. Kết luận………………………………………………………………………45
2. Khuyến nghị………………………………………………………………….45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………… 47
PHỤ LỤC……………………………………………………………………….48
3
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
Phần I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tình cảm là nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi con người, đó càng là một
nhu cầu cần thiết đối với người già cô đơn, không nơi nương tựa đang được nuôi
dưỡng tại các Trung tâm bảo trợ xã hội. Người già cô đơn tại Trung tâm bảo trợ
xã hội IV, Ba Vì – Hà Nội, là nhóm đối tượng được thu nhận và nuôi dưỡng
trong Trung tâm, sống cách biệt về địa lý với gia đình, người thân và thế giới bên
ngoài. Do đó, người già ở đây thường hạn chế về các mối quan hệ xã hội bên
ngoài kèm theo đó là thiếu thốn về nhu cầu quan hệ tình cảm khi sống trong môi
trường nuôi dưỡng của Trung tâm. Bên cạnh đó, mỗi con người sống trong môi
trường nhất định thì luôn có những mối quan hệ tác động qua lại với môi trường
xung quanh, có mối quan hệ với con người xung quanh, nhờ đó mà loài người đã
tạo ra xã hội của mình. Người già cô đơn, không nơi nương tựa sống trong Trung
tâm cũng không nằm ngoài quy luật đó. Họ cần có mối quan hệ tình cảm với con
người và môi trường xung quanh mình.
Được nuôi dưỡng tập trung, người già cô đơn trong Trung tâm luôn có những
mối quan hệ tình cảm gắn bó với Trung tâm, với cán bộ nhân viên cơ sở và
những người cùng môi trường chung sống. Đặc biệt, ở người già xuất hiện những
mối quan hệ tình cảm khác giới đặc biệt. Tuy nhiên, những mối quan hệ tình cảm
này không phải lúc nào cũng mang tính bền vững mà thường rất phức tạp và có
tâm bảo trợ xã hội.
5
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
* Ý nghĩa lý luận:
Nghiên cứu có ý nghĩa về mặt lý luận sâu sắc. Thông qua nghiên cứu này, có
thể nhìn nhận vấn đề nhu cầu quan hệ của người già tại các Trung tâm bảo trợ xã
hội từ góc độ khoa học, mô tả và đánh giá vấn đề bằng những lý thuyết của khoa
học công tác xã hội. Đồng thời, những kiến thức từ thực tế được bổ sung làm
phong phú thêm kho tàng kiến thức lý thuyết Công tác xã hội trong lĩnh vực này.
* Ý nghĩa thực tiễn:
Công tác xã hội là một khoa học mang tính ứng dụng cao, thông qua mô hình
trường hợp điển cứu trong nghiên cứu có thể thấy Công tác xã hội giúp ích nhiều
cho quá trình cải thiện những vấn đề xã hội trong thực tiễn, hỗ trợ việc đáp ứng
nhu cầu quan hệ nói chung và quan hệ tình cảm cho người già cô đơn, không nơi
nương tựa. Đồng thời, từ thực trạng những vấn đề về nhu cầu quan hệ của người
già tại các Trung tâm bảo trợ xã hội, nhân viên Công tác xã hội đưa ra những
khuyến nghị nhằm giúp các cơ quan chức năng chỉnh sửa bổ sung và hoàn thiện
chính sách xã hội đối với nhóm đối tượng này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào những mục đích chính sau:
Tìm hiểu về nhu cầu quan hệ, đặc biệt là quan hệ tình cảm của người già cô
đơn tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV, làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá và
định hướng công tác xã hội trong can thiệp nhằm đáp ứng nhu cầu quan hệ cho
người già cô đơn, không nơi nương tựa đang sống tại các Trung tâm bảo trợ xã
hội.
Tiến hành mô tả và phân tích, đánh giá thực trạng những mối quan hệ xã hội
nói chung và quan hệ tình cảm của người già tại Trung tâm nhằm tìm ra những
khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu về quan hệ tình cảm cũng như tìm hiểu
6
Nghiên cứu chỉ tập trung vào tìm hiểu về nhu cầu quan hệ, những mối quan hệ
tình cảm của người già cô đơn tại Trung tâm bảo trợ xã hội, những khó khăn và
trở ngại trong việc đáp ứng nhu cầu quan hệ và vai trò can thiệp nhằm đáp ứng
nhu cầu quan hệ, giải quyết hệ quả từ những mối quan hệ tình cảm cho người già
của Nhân viên công tác xã hội.
+ Phạm vi không gian và thời gian:
- Không gian: Nghiên cứu giới hạn phạm vi về không gian chỉ tập trung trong
Trung tâm bảo trợ xã hội IV, Ba Vì – Hà Nội.
- Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 10
năm 2014
5. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp luận chung:
Nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận chung là phép
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Công tác xã hội là một ngành khoa học xã
hội, có nền tảng là triết học Mác – Lênin, do đó mọi phương pháp tiếp cận vấn đề
của khoa học này đều dựa trên nền tảng là phương pháp luận khoa học cơ bản
nhất. Phép biện chứng duy vật và duy vật lịch sử được vận dụng trong nghiên cứu
thể hiện là: Vấn đề nghiên cứu được tìm hiểu và xem xét luôn đặt vào trong mối
tương quan với môi trường xung quanh, đối chứng với những vấn đề xã hội khác,
đồng thời xem xét vấn đề trong một khoảng thời gian nhất định, gắn với điều kiện
hoàn cảnh thực tiễn.
b. Phương pháp nghiên cứu Xã hội học:
Công tác xã hội là một khoa học thực hành xã hội, có quan hệ tương trợ và
ứng dụng nhiều hệ thống lý thuyết từ các ngành khoa học xã hội khác như: Tâm
8
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
lý học, Luật học, Gia đình học,… đặc biệt có quan hệ mật thiết với Xã hội học.
Do đó, nghiên cứu này đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu xã hội học
như: phương pháp quan sát có tham dự, nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu.
* Phương pháp quan sát có tham dự:
Phương pháp này được sử dụng để phân tích và đánh giá những tài liệu hồ sơ,
phiếu lưu liên quan đến đối tượng nghiên cứu nhằm tìm ra các mối liên hệ xã hội
của khách thể nghiên cứu, giúp ích cho việc xác định các nhu cầu quan hệ và mối
quan hệ tình cảm của thân chủ. Ngoài ra, những tài liệu Báo cáo của Trung tâm
bảo trợ xã hội IV, tài liệu báo chí có liên quan đến vấn đề nghiên cứu cũng được
thu thập và phân tích.
C. Phương pháp Công tác xã hội đặc thù:
Những phương pháp công tác xã hội đặc thù được sử dụng trong nghiên cứu
gồm: tham vấn, phương pháp công tác xã hội với cá nhân.
* Tham vấn cá nhân:
Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó, nhà tham vấn sử dụng
kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối quan hệ
tương tác tích cực với thân chủ nhằm giúp họ nhận thức được hoàn cảnh vấn đề
để thay đổi cảm xúc, suy nghĩ và hành vi và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của
mình.
Được sử dụng để làm việc trực tiếp với thân chủ, nhằm giúp thân chủ hiểu về
nhu cầu và thực trạng những mối quan hệ tình cảm của thân chủ. Đồng thời, giúp
thân chủ thay đổi nhận thức và cái nhìn với môi trường sống, định hướng kế
hoạch trong tương lai.
10
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
* Phương pháp công tác xã hội với cá nhân:
Là một tiến trình làm việc giữa nhân viên công tác xã hội với cá nhân hoặc
môi trường xung quanh cá nhân đó, nhằm giải quyết vấn đề của một cá nhân.
Được sử dụng trong nghiên cứu trường hợp, ứng dụng trong tiến trình can
thiệp cá nhân nhằm giúp cá nhân tìm ra vấn đề và giải quyết vấn đề nhu cầu quan
hệ thông qua các bước của tiến trình công tác xã hội cá nhân.
6. Giả thuyết nghiên cứu
o Giả thuyết nghiên cứu:
Nhu cầu quan hệ , đặc biệt là quan hệ tình cảm là nhu cầu cần thiết đối với
2. Anh (chị) cảm thấy môi trường sống của người già cô đơn ở Trung tâm
như thế nào?
3. Anh (chị) thấy nhu cầu quan hệ của người già cô đơn không nơi nương tựa
ở Trung tâm như thế nào?
4. Anh (chị) có kinh nghiệm gì trong việc phát hiện và giải quyết những hệ
quả từ các mối quan hệ tình cảm khác giới giữa người già cô đơn?
5. Anh (chị) có ý kiến gì về việc đáp ứng nhu cầu quan hệ, đặc biệt là quan hệ
tình cảm cho người già cô đơn tại Trung tâm?
12
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
Phần II. NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
1.1. Lý thuyết vận dụng
Nghiên cứu vận dụng hai hệ thống lý thuyết trong quá trình tiếp cận và mô tả
cũng như xây dựng cơ chế can thiệp công tác xã hội đối với vấn đề.
* Lý thuyết nhu cầu của Mavslow:
Nội dung chủ yếu của Lý thuyết đề cập đến nhu cầu của mỗi con người, cho
rằng mỗi cá nhân đều có 5 bậc thang nhu cầu cơ bản nhất là:
o Nhu cầu cơ bản (basic needs)
o Nhu cầu về an toàn (safety needs)
o Nhu cầu về xã hội hay nhu cầu được yêu thương (social
needs/love/belonging needs)
o Nhu cầu được quý trọng (esteem needs)
o Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)
Trong những trường hợp cụ thể khác nhau thì cá nhân cần đạt được những
nhu cầu khác nhau, và nhu cầu ưu tiên đối với các cá nhân là không giống nhau.
Trong nghiên cứu này, lý thuyết nhu cầu được sử dụng như một công cụ để tìm
hiểu và xác định nhu cầu ưu tiên của người già cô đơn, không nơi nương tựa
được nuôi dưỡng lâu dài tại Trung tâm bảo trợ xã hội.
cố định; hay được tập trung nuôi dưỡng trong các Trung tâm bảo trợ xã hội.
14
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
Khái niệm “Nhu cầu” được định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt là “Điều đòi
hỏi của đời sống, tự nhiên và xã hội (ví dụ: nhu cầu về ăn, mặc, ở; nhu cầu giải
trí, nhu cầu vật chất và văn hoá,…)”. Khái niệm Nhu cầu được sử dụng trong
nghiên cứu cũng mang hàm nghĩa này, nhưng đặc biệt quan tâm đến những đòi
hỏi của con người cần được đáp ứng trong cuộc sống.
Khái niệm “ Quan hệ” là sự gắn bó chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn nhau.
(Từ điển Tiếng Việt). Trong nghiên cứu, khái niệm này chỉ những mối liên hệ xã
hội giữa người với người.
Khái niệm “Quan hệ tình cảm khác giới” là sự gắn bó về mặt tình cảm giữa
hai người thuộc hai giới (nam và nữ) khác nhau. Mối quan hệ tình cảm này bao
hàm cả yếu tố tình dục.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nhu cầu về quan hệ là một nhu cầu tất yếu của mỗi con người. Đối với người
già, nhu cầu quan hệ lại càng trở nên cấp thiết. Họ là những người đã bước vào
giai đoạn sức khoẻ suy giảm, có những thay đổi lớn về tâm sinh lý, không còn
khả năng lao động nặng nhọc, cần được nghỉ ngơi và phụng dưỡng. Đặc biệt, giai
đoạn này người già giảm khả năng lao động, ít tham gia các hoạt động xã hội và
thu hẹp các mối quan hệ ngoài xã hội. Đối với người già cô đơn, không nơi
nương tựa đang được nuôi dưỡng tại các Trung tâm bảo trợ xã hội, ngoài những
đặc điểm chung này còn mang những nét đặc trưng riêng về đặc điểm cá nhân và
xã hội. Họ là những người không may mắn, rơi vào hoàn cảnh éo le, không còn
gia đình hoặc từ bỏ gia đình vì một lí do nào đó hay bị con cháu bỏ rơi và đẩy ra
ngoài xã hội để tự kiếm sống. Xét về mặt tâm lý, họ là nhóm người yếu thế và
luôn mặc cảm về bản thân. Nhìn từ góc độ xã hội, người già cô đơn, không nơi
nương tựa là một trong những nhóm xã hội đặc thù, cần được xã hội quan tâm
15
tâm cũng mang những nét đặc trưng riêng ảnh hưởng nhất định tới vấn đề nghiên
cứu.
o Lịch sử thành lập của Trung tâm bảo trợ xã hội IV, Ba Vì- Hà Nội:
Trung tâm bảo trợ xã hội IV - thuộc Sở Lao động Thương Binh và Xã hội
được thành lập tháng 10 năm 1984, đáp ứng yêu cầu công tác xã hội của Thành
phố nhằm từng bước giải quyết tình trạng người lang thang xin ăn, kiếm sống, trẻ
lang thang đường phố và các đối tượng xã hội khác để đảm bảo trật tự mỹ quan
văn minh đô thị. Trung tâm là một cơ sở bảo trợ xã hội của Thành phố Hà Nội,
đặt trụ sở chính trên địa phận huyện Ba Vì, vùng đồi gò, bán sơn địa, với diện
tích 2,4 ha, cách Trung tâm thị trấn Tây Đằng 2km và cách thủ đô 60km về phía
tây, có đường giao thông thuận lợi cho việc đi lại, gần các cơ quan đảng, chính
quyền, công an, quân đội và bệnh viện Ba Vì, bệnh viện Sơn Tây,…Có hệ thống
cây xanh, môi trường sinh thái trong sạch. Ngoài ra, cơ sở 2 của Trung tâm đặt
tại xã Xuân Sơn - thị xã Sơn Tây với diện tích 5 ha, cách thị xã Sơn Tây 12km,
có đường giao thông thuận tiện đi lại, có nhiều cây xanh thoáng mát.
Đơn vị có đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức trẻ, khoẻ, trách nhiệm, nhiệt
tình, có năng lực trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, có truyền thống tốt đẹp trong
suốt 25 năm qua và được sự quan tâm chỉ đạo của Sở Lao động Thương Binh và
Xã hội Hà Nội, các cơ quan của Thành phố, các doanh nghiệp, các tổ chức, cá
nhân, các nhà hảo tâm thường xuyên quan tâm giúp đỡ.
Về cơ sở vật chất: Trung tâm có cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống nhà nuôi dưỡng
các đối tượng được xây dựng kết cấu tốt, đảm bảo mát mẻ về mùa hè, ấm áp
trong mùa đông, có hệ thống cung cấp nước sạch, nhà ăn, nhà bếp sạch sẽ, khu vệ
sinh khép kín, có các tủ chuyên dùng bảo quản thức ăn đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm. Các phòng ở được trang bị giường, tủ, quạt điện, các dãy nhà có
17
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
phòng đọc sách báo, xem tivi. Ngoài ra, Trung tâm còn có vườn cây ăn quả sinh
thái, khu chăn nuôi, ao cá,… Có khu học nghề và các trang thiết bị giảng dạy cho
trẻ em.
+ Phụ nữ và trẻ em bị buôn bán qua biên giới
+ Người nằm vạ vật đường phố, làm mất mỹ quan đô thị; người tàn tật lê lết ăn
xin đường phố
+ Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi
Trung tâm tiếp nhận các đối tượng chủ yếu từ Trung tâm xã hội II, đặt tại Hà
Nội, có hồ sơ và tài liệu lưu kèm theo giấy giới thiệu và chuyển đối tượng đến
nuôi dưỡng tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV. Ngoài ra, còn tiếp nhận trực tiếp một
số đối tượng được gia đình gửi đến (chủ yếu là người già).
o Nguồn tài nguyên và tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ
Trung tâm sử dụng nguồn tài trợ từ trợ cấp xã hội của Nhà nước dành cho các
đối tượng xã hội theo qui định. Mỗi đối tượng được hưởng trợ cấp với mức
300.000 đồng/tháng.
Ngoài ra, Trung tâm còn nhận được sự tài trợ của các doanh nghiệp, cá nhân,
tổ chức từ thiện trong và ngoài nước như: Niềm hy vọng trẻ em của toàn cầu, các
dự án hỗ trợ kinh phí dạy nghề của Thuỵ Điển, Italia và các sinh viên tình
nguyện,…
o Hoạt động và thành tích của cơ sở
Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm bảo trợ xã hội IV đã không ngừng hoạt
động, tiếp nhận và nuôi dưỡng rất nhiều đối tượng xã hội qua nhiều năm. Trung
tâm như một mái nhà chung, chăm sóc và nuôi dưỡng, giáo dục các đối tượng.
19
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
Đã có nhiều đối tượng trưởng thành từ Trung tâm, nhiều người già được trở lại
gia đình hoặc được Trung tâm nuôi dưỡng cho đến lúc chết. Trung tâm còn
không ngừng tận dụng những điều kiện trong cơ sở để phát huy tiềm năng của cơ
sở, trồng cây ăn quả và khuyến khích các phòng, tổ làm việc tham gia lao động
để tăng gia sản xuất phục vụ nhu cầu thực phẩm cho Trung tâm. Qua hơn 20 năm
hình thành và phát triển, Trung tâm đã đạt nhiều thành tích trong công tác quản
lý, nuôi dưỡng các đối tượng xã hội; được Thủ tướng Chính phủ và Sở Lao động
Thương Binh và Xã hội Hà Nội tặng bằng khen. Các hình thức khen thưởng đã
Đối với người già cô đơn, không nơi nương tựa được nuôi dưỡng lâu dài
Trung tâm có những chính sách quản lý và chăm sóc như sau:
+ Trợ cấp xã hội: Từ nguồn trợ cấp xã hội của Nhà nước với mức 300.000
đồng/tháng cho nuôi dưỡng vật chất đối với mỗi đối tượng xã hội, 50.000
đồng/tháng chi tiêu đồ dùng sinh hoạt cá nhân.
+ Quản lý: quản lý tập trung với những đối tượng xã hội khác, sắp xếp chỗ ở
hỗn hợp với những đối tượng người già lang thang xin ăn, người khuyết tật,…
+ Nuôi dưỡng: Chế độ ăn 3 bữa/ngày, mức 10.000 đồng/ngày với mỗi đối
tượng xã hội. Thức ăn chính chủ yếu là cơm, canh, rau, đậu và thịt, cá,…
+ Chăm sóc sức khoẻ: Trung tâm có phòng y tế phục vụ công tác chăm sóc
sức khoẻ cho tất cả các đối tượng xã hội trong Trung tâm, tuy nhiên phòng y tế
chỉ cung cấp thuốc và cứu chữa những bệnh thông thường như: sốt, cảm cúm, sơ
cứu các vết thương do tai nạn lao động,… Phòng y tế chưa có dịch vụ khám chữa
bệnh thường kỳ cho người già cô đơn được nuôi dưỡng lâu dài, chưa có dịch vụ
khám chữa và xét nghiệm HIV, cũng như các bệnh hiểm nghèo khác. Phòng y tế
21
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
cũng chưa làm nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho các đối tượng xã hội tại
Trung tâm.
+ Hoạt động khác: Về lao động, Trung tâm khuyến khích những đối tượng
người già còn khả năng lao động tham gia lao động, tăng gia sản xuất như: trồng
rau, chăn nuôi lợn và cá, quét dọn vệ sinh, tu sửa trang trại,… Về mặt giải trí,
mỗi dãy phòng được bố trí một phòng xem tivi và đọc báo tập trung, mở theo giờ
để phục vụ người già.
Đối với vấn đề quan hệ của người già cô đơn, mặc dù nhân viên cơ sở chưa có
những hoạt động cụ thể tác động đến lĩnh vực này, nhưng nhìn chung đội ngũ cán
bộ cơ sở luôn quan tâm theo dõi, hỏi thăm các đối tượng người già và kịp thời
giải quyết những mâu thuẫn, bất hoà nảy sinh trong các mối quan hệ của nhóm
đối tượng này.
Chương II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
sắp xếp chỗ ở hỗn hợp với các đối tượng xã hội khác theo giới tính. Do đó, người
già cô đơn được sống trong môi trường có nhiều thành phần, được tiếp xúc với
nhiều đối tượng khác nhau nhờ đó có thể hình thành các mối quan hệ xã hội khác
nhau.
Hàng ngày được tiếp xúc và đón nhận sự chăm sóc từ người nuôi dưỡng,
chịu sự quản lý và điều phối của nhân viên cơ sở; là yếu tố thuận lợi để người già
cô đơn hình thành những mối quan hệ xã hội đối với người nuôi dưỡng và nhân
viên trong Trung tâm.
Người già cô đơn, không nơi nương tựa được quản lý và nuôi dưỡng trong
Trung tâm bảo trợ xã hội hầu như chỉ được quan tâm về mặt vật chất. Các đối
tượng khi vào Trung tâm, đều được phát đồ dùng tư trang như chăn màn, thau
23
Báo cáo thực tập Chuyên ngành Công tác xã hội
chậu, đồ dùng vệ sinh cá nhân hàng tháng và được nuôi ăn từ khoảng trợ cấp xã
hội dành cho các đối tượng xã hội của Nhà nước. Được khám và chữa bệnh khi
ốm đau ngay tại Trung tâm. Ngoài ra, các đối tượng còn khả năng lao động được
huy động và phân công lao động vệ sinh trong phạm vi Trung tâm. Trong sinh
hoạt tập thể và hoạt động giải trí, các đối tượng xã hội cũng được xem tivi, đọc
báo, nghe đài,…và sinh hoạt tập thể (1lần/tuần). Theo Lý thuyết nhu cầu của
Mavslow, ngoài những nhu cầu đã được đáp ứng như trên (nhu cầu cơ bản, nhu
cầu được an toàn) thì các nhu cầu còn lại như: nhu cầu được yêu thương, nhu cầu
được tôn trọng và nhu cầu thể hiện mình của người già cô đơn chưa được Trung
tâm và xã hội quan tâm đáp ứng. Đặc biệt, nhu cầu xã hội của người già cô đơn là
nhu cầu quan hệ và nhu cầu tình cảm ít được chú ý tới. Theo Tâm lý học phát
triển, tuổi già là giai đoạn cần được quan tâm chăm sóc nhiều về mặt tình cảm,
được xã hội yêu thương và tôn trọng. Người già cô đơn, không nơi nương tựa là
nhóm đối tượng đã chịu nhiều thiệt thòi về đời sống, là nhóm yếu thế, do đó họ
càng cần được xã hội quan tâm chăm sóc về mặt tình cảm hay ít ra là được đáp
ứng những nhu cầu ưu tiên. Họ được nuôi dưỡng trong Trung tâm bảo trợ xã hội,
bị giới hạn về không gian sống và thu hẹp rất nhiều mối quan hệ; do đó, họ rất
người bạn đời. Được quản lý và nuôi dưỡng trong các Trung tâm bảo trợ xã hội,
tiếp xúc với nhiều đối tượng xã hội khác nhau, họ có thể tìm đến người bạn đời
để chia sẻ tâm sự và chăm sóc nhau lúc về già.
Đối với những đối tượng người già cô đơn là nam giới, họ vẫn có nhu cầu
quan hệ, đặc biệt là nhu cầu quan hệ tình dục. Đó là bản năng của con người, là
nhu cầu sinh học. Do đó, bên cạnh việc chia sẻ tâm sự người già cô đơn nam giới
cần được quan hệ và đáp ứng nhu cầu bản năng đó. Xã hội phải thừa nhận và
25