Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
LỜI CẢM ƠN
Trải qua thời gian 3 tháng thực tập tại Uỷ Ban Nhân Dân xã Đồng Lạc –
thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương với đề tài nghiên cứu “ Vai trò của công
tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô đơn không nơi nương
tựa tại xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương” em đã nhận được
nhiều sự giúp đỡ từ giảng viên hướng dẫn và cán bộ ủy ban nhân dân xã.
Trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Lê Thị Thúy Ngà. Cô đã
tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập và viết bài khóa luận. Những lời
khuyên của cô đã giúp em có hướng đi đúng trong triển khai kế hoạch thực
tập cũng như hoàn thành bài viết của mình.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô trong khoa công tác xã hội đã
trang bị cho em những kiến thức cần thiết để có thể vận dụng trong quá trình
thực tập. Những lời dạy của các thầy cô qua những giờ thực hành là bài học
quý giá giúp em có kinh nghiệm hơn trong lần thực tập này.
Cuối cùng em xin chân thành cám ơn cán bộ ủy ban nhân dân xã Đồng Lạc
đặc biệt là bác phó chủ tịch Nguyễn Văn Thuận đã tạo điều kiện thuận lợi cho
em thực tập và cung cấp cho em những thông tin, tài liệu cần thiết để em hoàn
thành quá trình thực tập.
Em nhận thấy bản thân còn chưa đủ năng lực và kinh nghiệm, bài viết còn
nhiều thiếu sót em mong thầy cô thông cảm và em cũng rất mong nhận được
sự đánh giá, nhận xét của các thầy cô để bài viết khóa luận của em được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng
đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc năm 2014.
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
MỤC LỤC
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới với xu thế hội nhập mới,
nhưng bên cạnh những thành tựu của sự nghiệp đổi mới thì nguy cơ một số
giá trị đạo lý, truyền thống có xu hướng bị lãng quên hoặc thiếu sự quan tâm.
Người già cô đơn không nơi nương tựa ít được tôn trọng, quan tâm về mọi
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
tự lo liệu được cuộc sống bởi sức khỏe yếu hay ốm đau. NCT có sức đề kháng
yếu nên họ dễ nhiễm bệnh vì vậy đối với NCT cô đơn không nơi nương tựa
khi ốm đau sẽ rất khó khăn trong các hoạt động sinh hoạt thường ngày. NCT
cô đơn không nơi nương tựa thường cảm thấy lạc lõng trong cuộc sống với
những sự thay đổi không ngờ của công nghệ thông tin,...họ không thích ứng
kịp với nhịp sống ngày nay vì vậy ở mỗi địa phương nên có một cán bộ công
tác xã hội để giúp họ tự giải quyết khó khăn hòa nhập với những sự thay đổi
trong xã hội nhưng hiện nay ít địa phương có cán bộ công tác xã hội điển hình
là xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương.
Mặt khác ta thấy rằng trong những năm qua Đảng và Nhà nước cũng đã
đưa ra những chính sách dành cho NCT và NCT cô đơn không nơi nương tựa
như Pháp lệnh về NCT ban hành ngày 28/04/2000, luật NCT ban hành
23/11/2009,…tuy nhiên những chính sách này đưa ra chưa hiệu quả bởi NCT
cô đơn không nơi nương tựa ít quan tâm đến các chính sách nhà nước đưa ra
mà chính quyền các địa phương ít tuyên truyền các chính sách này. Điều này
cho thấy sự cần thiết của nhân viên công tác xã hội tại các địa phương, với vai
trò là nhà giáo dục nhân viên công tác xã hội có thể cung cấp cho NCT cô đơn
không nơi nương tựa những thông tin cần thiết.
NCT cô đơn không nơi nương tựa là một trong những nhóm đối tượng yếu
thế cần được sự trợ giúp của xã hội. Họ ít được tiếp cận các dịch vụ cần thiết
và cũng ít được thể hiện vai trò của mình. Điều đó ảnh hưởng ít nhiều đến đời
sống tinh thần của họ vì vậy chúng ta cần có những biện pháp tích cực nhằm
ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT cô đơn không nơi nương
tựa. Đây cũng là một trong những chiến lược của quốc gia nhằm chăm sóc tốt
hơn cho đối tượng NCT cô đơn không nơi nương tựa nói riêng và các đối
tượng yếu thế (người nghèo, người khuyết tật,…) nói chung.
sống sau khi nhân viên xã hội không hỗ trợ cho họ nữa.
2. ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2.1. ý nghĩa lý luận
Đề tài áp dụng những kiến thức chuyên nghành công tác xã hội để làm rõ
quan điểm và cách tiếp cận về công tác xã hội với NCT. Thông qua đề tài:
“Vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi cô
đơn không nơi nương tựa tại xã Đồng Lạc – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải
Dương” cho thấy cái nhìn mới về công tác xã hội trong cộng đồng xã Đồng
Lạc, vai trò của công tác xã hội với NCT cô đơn không nơi nương tựa nói
chung và NCT cô đơn không nơi nương tựa tại xã Đồng Lạc nói riêng.
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
3
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
2.2. ý nghĩa thực tiễn
Đảng nhà nước ta luôn quan tâm và mong muốn giúp đỡ được cho NCT và
việc tìm hiểu giải pháp, mô hình giúp đỡ NCT là điều mang ý nghĩa thực tiễn
nhất. Qua việc nghiên cứu đề tài này giúp mọi người có cái nhìn đúng hơn về
nghề công tác xã hội, thực trạng về cuộc sống NCT cô đơn không nơi nương
tựa. Đồng thời từ thực trạng về cuộc sống NCT cô đơn không nơi nương tựa
trên địa bàn xã Đồng Lạc đưa ra những khuyến nghị giúp cơ quan chức năng
4
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
4.2.
Khoa công tác xã hội
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiến hành mô tả, phân tích, đánh giá thực trạng chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa tại xã Đồng Lạc và tìm ra những khó
khăn mà người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa ở đây hay gặp phải; tìm
hiểu nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó; tiến hành làm việc với nhóm
người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa cụ thể và đưa ra được hướng can
thiệp cho nhóm đối tượng này và làm rõ được vai trò của công tác xã hội
trong trợ giúp cho nhóm đối tượng trên.
5. Câu hỏi nghiên cứu
-
Thực trạng cuộc sống của người cao tuổi cô đơn không nơi nương
tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc như thế nào?.
-
Công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cô đơn không nơi
- Nhân viên công tác xã hội có thể giới thiệu và kết nối các dịch vụ cho
người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã Đồng Lạc nhằm
đáp ứng một số nhu cầu cho họ.
7. phương pháp nghiên cứu
7.1.
Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập, phân tích tài liệu:
Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu là tổng hợp, tập trung các
nguồn tài liệu có liên quan tới nội dung đang tìm hiểu, trong nghiên cứu tài
liệu, người nghiên cứu thường phải vừa phân tích vừa tổng hợp tài liệu vì
nguồn tài liệu cho nghiên cứu rất đa dạng: Tạp chí, báo mạng, thông tin đại
chúng. Sau khi phân tích phát hiện ra những thiếu sót sai lệch nên lựa chọn
những tài liệu cần đủ để xây dựng luận cứ cho đề tài và sắp xếp tài liệu cho
phù hợp.
Trên cơ sở thu thập các nguồn tài liệu, thông tin từ sách báo, các trang
mạng, các bài viết, bài nghiên cứu em tiến hành phân tích tổng hợp từ tài liệu
theo phương pháp chọn lọc làm cơ sở để đánh giá cho bài nghiên cứu của
mình.
Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn là phương pháp quan trọng trong việc thu thập thông tin thực
nghiệm. Là một phương pháp thu thập thông tin thông qua việc tác động tâm
lý xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi và người trả lời trên cơ sở đề tài và mục
tiêu của nghiên cứu. Sử dụng phương pháp này giúp ta tìm hiểu sâu hơn về
vấn đề nghiên cứu, nội dung thông tin thu được phong phú và đa dạng về
nhiều góc cạnh. Là phương pháp thu thập thông tin khách quan từ phía người
trả lời nhằm đáp ứng mục tiêu của nghiên cứu.
Phương pháp này sử dụng các thông tin định tính nhằm tìm hiểu sâu hơn
Áp dụng phương pháp này vào trong đề tài nghiên cứu giúp em có những ghi
chép đầy đủ về nhóm thân chủ.
7.2.
Phương pháp can thiệp
Đối với đề tài này tôi sẽ kết hợp cả phương pháp công tác xã hội nhóm
và công tác xã hội cá nhân.
Phương pháp công tác xã hội nhóm: là phương pháp nhằm giúp tăng
cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm
và khả năng ứng phó với các vấn đề cá nhân phát sinh, có nghĩa là: ứng dụng
những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc năng động nhóm),
nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề,
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
7
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ trợ
thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm
giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các
kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và
Khoa công tác xã hội
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
Các khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm Người cao tuổi
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi. Trước đây, người
ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay
“người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy
không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, “người cao tuổi” là thuật
ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng.
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn
liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể (nguồn: giáo trình “công tác
xã hội với người cao tuổi” PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2012, tr.3).
Theo luật người cao tuổi việt nam ban hành vào 23/11/2009 tại kì họp
thứ VI của quốc hội thống nhất rằng người cao tuổi là những người công dân
Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên.
Hiện nay ở Việt Nam, theo quy định chung người cao tuổi là những
người từ 60 tuổi trở lên. Pháp lệnh về người cao tuổi của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội ngày 28/04/2000 quy định: Người cao tuổi theo quy định của Pháp
lệnh này là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở
lên.
Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên (nguồn: giáo trình
“công tác xã hội với người cao tuổi” PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa, Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2012, tr.3).
Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi
nguồn thu nhập từ đủ 55 tuổi trở lên hiện nay được hưởng trợ cấp cứu trợ xã
hội vẫn tiếp tục được hưởng.
NCT cô đơn không nơi nương tựa được xác định là những người không
có gia đình, hoặc đã mất liên lạc với gia đình, người thân không còn chỗ để
nương nhờ chăm sóc, hỗ trợ mà phải tự kiếm sống để nuôi bản thân. Những
người này có thể sống bên ngoài xã hội, có hoặc không có chỗ ăn ở cố định
hay được tập trung nuôi dưỡng ở trong các trung tâm bảo trợ xã hội.
Như vậy có thể khái quát chung đặc trưng của NCT cô đơn không nơi
nương tựa được nghiên cứu trong đề tài như sau: người cao tuổi cô đơn không
nơi nương tựa là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân, không có gia đình
hoặc đã mất liên lạc với gia đình, không có nguồn thu nhập hoặc thu nhập
thấp, có chỗ ở cố định hoặc sống ngoài xã hội hoặc trong trung tâm bảo trợ xã
hội.
1.1.3. Khái niệm vai trò
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
10
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
Vai trò được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt thường là tính từ chỉ
tính chất của sự vật, sự việc hiện tượng dùng để nói về vị trí chức năng,
nhiệm vụ mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối
cảnh và mối quan hệ nào đó. Ví dụ : Vai trò của Đảng đối với sự phát triển
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội,
3/2008, tr.28).
Theo liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế- IFSW (đưa ra tại Đại hội
Montreal-tháng 7/2000): CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội
việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền
lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải
mái dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội,
CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề (nguồn:
giáo trình “nhập môn công tác xã hội”, Lê Văn Phú, trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 3/2008, tr.28).
Theo Nguyễn Thị Oanh (Đại học mở bán công TP HCM): CTXH là hoạt
động thực tiễn mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyên tắc và
phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải
quyết các vấn đề đời sống của họ, qua đó CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc
lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. CTXH là hoạt động thực tiễn bởi
họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng với nhóm người cụ thể và mang tính
tổng hợp cao, bởi người làm CTXH phải làm việc với nhiều vấn đề khác nhau
như: tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình. CTXH không giải
quyết mọi vấn đề của con người và xã hội mà chỉ nhằm vào những vấn đề
thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con người. Đó là an sinh xã hội hay
phúc lợi xã hội đồng thời hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thể
chủ của mình vượt qua khó khăn, tự mình vươn lên trong cuộc sống (nguồn:
giáo trình “nhập môn công tác xã hội”, Lê Văn Phú, trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội,3/2008, tr.66).
Đối với đề tài này NV CTXH cũng được hiểu theo nghĩa trên và đặc biệt là
nhân viên công tác xã hội ở đây phải biết kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và
thực tiễn, biết áp dụng các phương pháp, kĩ năng chuyên môn vào thực hành
nghiên cứu.
1.1.6. Khái niệm hỗ trợ
Hỗ trợ có thể được hiểu như là những biện pháp chuyên dụng nhằm duy
trì những điều kiện đủ để tồn tại cho các đối tượng yếu thế trong hoạt động
đời sống của mình. Trong hệ thống công tác xã hội, hỗ trợ không chỉ là hoạt
động nhất thời mà là hoạt động thường xuyên mang tính kế hoạch với ý nghĩa
đáp ứng một phần các yêu cầu của đối tượng CTXH (nguồn: giáo trình “nhập
môn công tác xã hội”, Lê Văn Phú, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 3/2008, tr.63).
Trong đề tài này khái niệm hỗ trợ cũng có thể được hiểu như trên.
1.1.7. Khái niệm chăm sóc người cao tuổi
Chăm sóc là hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào lúc cần thiết để phục
hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoái mái
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
13
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 3/2008, tr.63).
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
14
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận
được, nhu cầu của cá nhân là đa dạng và vô tận, nó là yếu tố thúc đẩy con
người hoạt động, nó chi phối con người. Nhu cầu của con người là không ổn
định luôn luôn biến đổi theo quy luật, nhu cầu của con người không bao giờ
được thoả mãn cùng một lúc bởi ham muốn của con người là không giới hạn.
Lý thuyết nhu cầu đáp ứng cho con người tồn tại và phát triển như: nhu
cầu muốn được tôn trọng và nhu cầu muốn thể hiện bản thân.
Maslow chia nhu cầu thành 5 loại theo thứ tự bậc thang:
- nhu cầu vật chất: thức ăn, không khí, nước uống,…
- nhu cầu được an toàn: là nhu cầu tự duy trì và chuẩn bị cho tương lai vững
chắc, ổn định về thu nhập, việc làm,…
- nhu cầu xã hội: được hội nhập, thuộc vào nhóm nào đó,…
- nhu cầu tự khẳng định chính mình: nhu cầu hoàn thiện, được thể hiện khả
năng của mình.
- được coi trọng: được chấp nhận có một vị trí trong xã hội, được đánh giá
cao.
được. Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà có khi chính người
đóng vai trò đó cũng không biết. Vì một người có thể có nhiều vai trò khác
nhau, những khuôn mẫu ứng xử do xã hội áp đặt có thể mâu thuẫn với nhau
(Trích từ Tập tài liêu: Công tác xã hội-Lý thuyết và thực hành, Trần Đình
Tuấn).
Trong thực hành CTXH người ta xem xét vai trò ở những khía cạnh đó là:
Mong đợi vai trò: đây là cách xã hội quy định về vai trò, về mong đợi mà
vai trò đó thực hiện.
Thể hiện vai trò: Cách con người thể hiện vai trò của mình như thế nào.
Ý thức vai trò: đó là những suy nghĩ của bản thân về những gì mà người
khác mong đợi ở họ.
Áp lực vai trò: khi cá nhân phải thực hiện vai trò của mình và vai trò của
người khác cùng một lúc thì cá nhân đó có thể thích nghi hoặc không thể
thích nghi để có thể thực hiện được cả hai vai trò đó.
Vai trò thể hiện những mong đợi xã hội gắn với những vị thế cụ thể và
phân tích thực hiện những mong đợi. Mỗi cá nhân có một loại vai trò được
đem lại từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà chủ thể đó tạo giữ. Trong
tiến trình cuộc đời của mỗi cá nhân thực hiện một số vai trò khác nhau lần
lượt hoặc đồng thời và tổng hợp tất cả các vai trò trong xã hội của chủ thể đó
được thực hiện từ khi chủ thể đó được sinh ra cho tới lúc chết đi, tại thành
nhân cách xã hội của chủ thể đó (theo Ralph Linton).
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
16
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
phải hiểu cả hệ thống môi trường xung quanh cá nhân đó. Vận dụng lý thuyết
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
17
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
này để nghiên cứu tìm hiểu thân chủ không phải là yếu tố riêng biệt mà nằm
trong hệ thống có sự tương tác qua lại với nhau từ đó mới có giải pháp phù
hợp cho thân chủ, tất cả các vấn đề của thân chủ được nhìn nhận một cách
tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác. Vì vậy vận dụng lý thuyết
này trong đề tài nghiên cứu để phân tích, xem xét những khó khăn mà thân
chủ, nhóm thân chủ gặp phải trong cuộc sống hàng ngày một cách tổng thể
trong mối quan hệ với các yếu tố kinh tế xã hội của địa phương đồng thời tìm
hiểu hệ thống trợ giúp đối với nhóm đối tượng trên địa bàn xã Đồng Lạc từ đó
đánh giá hiệu quả của công tác xã hội trong trợ giúp nhóm đối tượng trên địa
bàn xã Đồng Lạc.
1.3.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đề tài về người cao tuổi là đề tài mà nhiều người quan tâm tính đến
nay cũng đã có khá nhiều bài viết về người cao tuổi. Dưới đây là một số bài
tiêu biểu:
hơn các nhóm khác, nhờ Nhà nước bỏ tiền để mua bảo hiểm y tế cho họ. Gần
đây nhóm người già cô đơn không nơi nương tựa, người cao tuổi nghèo ở một
số địa phương được cấp phát thẻ khám và chữa bệnh miễn phí hoặc thẻ bảo
hiểm y tế. Nhìn chung số người cao tuổi được hưởng chế độ này còn rất ít và
hiệu quả của việc khám, chữa bệnh cho người cao tuổi rất hạn chế. Tuy sức
khỏe của người cao tuổi những năm gần đây có khá hơn trước nhưng hiện tại
sức khỏe người cao tuổi vẫn còn rất kém. Số người sức khỏe khá tốt mới có
5,7% và kém còn tới 22,9%.”
( nguồn: lib.ussh.vnu.edu.vn, [tr.2] ).
Từ những nội dung mà tác giả đưa ra ở trên ta có thể áp dụng vào đề tài
nghiên cứu của mình để đi sâu nghiên cứu về nhu cầu của thân chủ dựa trên
những nhu cầu mà tác giả đã nêu như nhu cầu về thu nhập, nhu cầu về chăm
sóc sức khỏe, nhu cầu được quan tâm và tôn trọng và từ đó có thể tìm thấy
giải pháp phù hợp đáp ứng nhu cầu của thân chủ. Đối với đề tài của mình
không những nghiên cứu về nhu cầu mà tôi sẽ nghiên cứu về yếu tố tác động
đến nhu cầu của nhóm thân chủ.
Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Oanh, Dương Huy Lương, Khương Anh
Tuấn và cộng sự Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, “Nghiên cứu đánh giá
tình hình Chăm Sóc Sức Khỏe người cao tuổi ở Việt Nam”, www.hspi.org.vn,
Ngày 28/06/2007.
Bài viết này đi sâu đánh giá tình hình sức khỏe của người cao tuổi và
tình hình sử dụng dịch vụ y tế và chăm sóc cho người cao tuổi như: “Tỷ lệ ốm
của nhóm người cao tuổi cao hơn các nhóm tuổi khác. Phụ nữ cao tuổi có tỷ
lệ mắc bệnh cao hơn nam giới. Theo kết quả nghiên cứu điều tra tại 3 tỉnh và
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
19
Lớp: CT8A
hình thức phổ biến ở cả 3 tỉnh điều tra. Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi tự chẩn
đoán bệnh cũng tương đối cao, chiếm khoảng 27%. Sử dụng dịch vụ y tế tư
nhân trong điều trị bệnh mạn tính là hình thức phổ biến ở cả 3 tỉnh. Phụ nữ
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
20
Lớp: CT8A
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: NCS Lê Thị Thúy Ngà
Khoa công tác xã hội
cao tuổi có xu hướng sử dụng dịch vụ y tế tư nhân với tỷ lệ cao hơn nam giới,
trong khi nam giới cao tuổi lại sử dụng dịch vụ bệnh viện với tỷ lệ cao hơn ”
( nguồn: www.hspi.org.vn, [tr.7] ).
Từ bài viết trên tác giả đã cho thấy tình hình sức khỏe hiện nay của NCT
như thế nào và qua đó ta có thể hiểu được nhiều hơn về các bệnh mà NCT
thường gặp và nguyên nhân mắc bệnh cũng như là tại sao họ không tiếp cận
được với dịch vụ y tế tốt. Đối với đề tài của mình tôi đi sâu vào nghiên cứu
thực trạng chăm sóc sức khỏe NCT cô đơn không nơi nương tựa trên địa bàn
xã Đồng Lạc.
Những bài viết trên đã cho ta thấy hiểu hơn về NCT và càng hiểu sâu sắc
về tâm lý của NCT, quan hệ gia đình sẽ tác động nhiều đến tâm lý và sức
khỏe của họ. Cuộc sống của NCT sẽ khó khăn hơn bởi vấn đề sức khỏe thể
chất.
Mới đây tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình đã xây dựng và triển khai
văn nhằm giúp đỡ những NCT không còn sức lao động và họ có quyền được
giúp đỡ.
Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ người già, người đau yếu và
tàn tật. Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã hội…”.
Điều này tức là người già hay còn gọi là NCT là một trong những đối
tượng cần được giúp đỡ và cần mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khỏe
và cứu trợ xã hội cho đối tượng này.
Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy
con cái. Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ… ”.
Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi
nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”.
Điều này cũng giống với điều luật trên cho rằng người cao tuổi có quyền
được trợ giúp.
Sau khi Hội NCT Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban Bí thư TW
đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định:
“Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của NCT là trách nhiệm của
Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng,
các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối
hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát
huy NCT phục vụ công cuộc đổi mới. Nhà nước cần dành ngân sách để giải
quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc NCT. Trước hết cần
quan tâm chăm sóc những NCT có công, cô đơn không nơi nương tựa,…”.
Thông báo số 12-TB/TW ngày 13 tháng 6 năm 2001 đã khẳng định Hội
NCT Việt Nam là tổ chức xã hội của NCT, có các nhiệm vụ đã được quy định
cụ thể tại Pháp lệnh NCT; Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân ngày
quốc tế NCT (01/10/2002) do TW Hội NCT Việt Nam tổ chức tại Hà Nội,
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “…NCT thực sự là một bộ phận hợp
Sinh Viên: Nguyễn Thị Hồng
22