i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THANH HƯƠNG
NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHỀ
CÔNG TÁC XÃ HỘI HIỆN NAY QUA ĐÁNH GIÁ
CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2012
ii ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THANH HƯƠNG
NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHỀ
CÔNG TÁC XÃ HỘI HIỆN NAY QUA ĐÁNH GIÁ
CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI HÀ NỘI
6.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu 11
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu 12
6.2.3. Phương pháp thảo luận nhóm 13
6.2.4. Phương pháp quan sát 13
7. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 14
7.1. Giả thuyết nghiên cứu 14
7.2. Khung lý thuyết 11
NỘI DUNG CHÍNH 12
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1.Một số lý thuyết xã hội học vận dụng trong nghiên cứu 12
1.2. Hệ thống khái niệm công cụ 16
vi
1.2.1. Khái niệm nghề: 16
1.2.2. Công tác xã hội và nghề CTXH 16
1.2.3. Nhân viên CTXH 19
1.2.4. Khái niệm mạng lưới CTXH 20
1.2.5. Khái niệm nhu cầu xã hội 21
1.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 21
Chƣơng 2: ĐÁNH GIÁ CỦA NHÂN VIÊN CTXH VỀ NHU CẦU HOẠT
ĐỘNG NGHỀ CTXH HIỆN NAY 24
2.1. Nhận thức của nhân viên CTXH về nghề CTXH 24
2.2. Vai trò của hoạt động CTXH qua ý kiến đánh giá của NV CTXH 33
2.3. Đánh giá nhu cầu xã hội về hoạt động CTXH trong một số lĩnh vực 40
Chƣơng 3: ĐÁNH GIÁ CỦA NHÂN VIÊN CTXH VỀ THỰC TRẠNG HOẠT
ĐỘNG NGHỀ CTXH HIỆN NAY 50
3.1. Đánh giá của nhân viên CTXH về chính sách CTXH hiện nay 51
3.2. Thực trạng nguồn nhân lực CTXH 54
3.2.1. Số lượng nhân lực CTXH hiện nay 54
3.2.2. Chất lượng nhân lực CTXH 55
viii DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục các bảng Trang
Bảng 2.1. Nhận thức của cán bộ CTXH về hoạt động nghề CTXH 26
Bảng 2.2. Đánh giá của nhân viên CTXH về nhu cầu của xã hội với CTXH hiện nay
42
Bảng 2.3. Đánh giá của nhân viên CTXH về lĩnh vực đòi hỏi nhu cầu CTXH… 44
Bảng 2.4. Thảo luận nhóm nhân viên CTXH đánh giá lĩnh vực hoạt động đòi hỏi
nhu cầu cao về hoạt động nghề CTXH ở Hà Nội hiện nay 49
Bảng 3.1. Đánh giá của nhân viên CTXH tại Hà Nội về hệ thống chính sách CTXH
hiện nay ……………52
Bảng 3.2. Nhận xét của nhân viên CTXH về cán bộ làm CTXH tại Hà Nội………60
của những nhân viên công tác xã hội [10]. Bên cạnh đó là các vấn đề xã hội nảy
sinh như tệ nạn xã hội, cuộc sống nghèo khổ, vấn đề phát sinh trong nhóm gia đình
tại các đô thị, làng quê chịu ảnh hưởng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa, khoảng cách giầu nghèo giữa khu vực ngày càng tăng.
Để đạt được mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá giải quyết vấn đề xã
hội chúng ta cần phải chuyên môn hoá các hoạt động nghề nghiệp. Công tác xã hội
đã ra đời đáp ứng nhu cầu xã hội phát triển và có vai trò quan trọng trong đời sống,
bảo vệ quyền con người, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của cá nhân và
gia đình. Công tác xã hội ra đời góp phần hình thành những giải pháp cho các hậu
2
quả xã hội tiêu cực tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là sự thay đổi
trong cấu trúc và khủng hoảng gia đình, khoảng cách giàu nghèo, trẻ em lang thang,
người già cô đơn, các tệ nạn xã hội mại dâm, ma túy Công tác xã hội phát triển
góp phần thực hiện hiệu quả công bằng xã hội, giải quyết vấn đề nghèo đói và các
vấn đề xã hội phức tạp khác mà nước ta cũng như các nước đang phát triển trên thế
giới phải đối mặt. Công tác xã hội ở nước ta hiện nay đã được coi là một nghề. Với
mục tiêu nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội, xây
dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số
lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ
công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội đảm bảo
công bằng ổn định xã hội.
Những tác động của quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường đã xuất
hiện nhiều đối tượng mới cần sự tư vấn và trợ giúp xã hội. Sự xuất hiện đa dạng của
các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương cùng các nhu cầu hỗ trợ rất khác nhau cho
thấy công tác xã hội đóng vai trò không thể thay thế trong việc cung cấp các dịch
vụ xã hội. Phát triển công tác xã hội là một đòi hỏi khách quan trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, công tác xã hội ở Việt Nam mới ở giai đoạn khởi
đầu, là một nghề mới. Đội ngũ cán bộ nhân viên công tác xã hội còn thiếu và chưa
chuyên nghiệp. Số cán bộ được đào tạo đúng chuyên môn chiếm tỷ lệ thấp, chủ yếu
Nội”.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Những vấn đề trong lĩnh vực hoạt động CTXH đã thu hút được sự chú ý của
các nhà nghiên cứu đặc biệt là trong những năm gần đây. Bởi tính cấp thiết của
CTXH ra đời đáp ứng nhu cầu xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội. Một số
khía cạnh trong nghiên cứu CTXH như: nghiên cứu về nguồn nhân lực, nhu cầu đào
tạo CTXH, mạng lưới dịch vụ CTXH, những lĩnh vực đòi hỏi đáp ứng nhu cầu
CTXH, hệ thống cơ sở thực hành CTXH.
Nghiên cứu về nhu cầu đào tạo và nhu cầu xã hội đối với CTXH
Theo kết quả nghiên cứu “Nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạo công tác xã
hội ở Việt Nam” – do Trường Đại học Lao động - Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo
4
tiến hành trên địa bàn 4 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Lạng Sơn, Tp Hồ Chí Minh, và
Đồng Tháp) với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Unicef, năm 2005. Nghiên cứu
đưa ra những số liệu định lượng về thực trạng phát triển công tác xã hội. Đồng thời
tác giả phân tích bối cảnh phát triển công tác xã hội ở nước ta gắn liền với mục tiêu
xoá đói giảm nghèo, công bằng trong tiếp nhận những lợi ích từ sự phát triển kinh
tế. Việc phát triển công tác xã hội như một nghề được xem như việc giải quyết sự
gia tăng của các vấn đề xã hội đi kèm theo phát triển kinh tế và đáp ứng đòi hỏi phải
có cách tiếp cận mang tính khoa học và hệ thống. Tác giả đặt ra những câu hỏi để
phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam như: Nhiệm vụ của công tác xã hội, việc
đào tạo nên được mở rộng ở cấp nào và phát triển như thế nào, làm thế nào để có
thể phát triển công tác xã hội một cách tập thể… Để có thể nắm bắt được bức tranh
toàn cảnh về thực trạng công tác xã hội tại Việt Nam, Phòng bảo vệ trẻ em của
UNICEF Việt Nam kết hợp cùng với Bộ Lao động thương binh Xã hội, Ủy ban dân
số Gia đình và Trẻ em, Bộ giáo dục Đào tạo và 3 trường đại học để tiến hành một
cuộc khảo sát và phân tích hiện trạng về lĩnh vực an sinh xã hội, phạm vi kiến thức
về công tác xã hội và các quan điểm của nhiều tổ chức, ban ngành liên quan về phát
triển công tác xã hội như một nghề ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy những
Việt Nam. Tác giả phân tích nhu cầu xã hội đối với hoạt động CTXH trên một số
lĩnh vực cũng như một số nhóm đối tượng như:
Nhu cầu CTXH trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo vai trò của cán bộ nhân
viên CTXH là rất quan trọng bởi cán bộ nhân viên CTXH là người giúp những
người nghèo nhận ra và phát huy tối đa năng lực của mình cũng như gia đình để
vươn lên thoát nghèo bền vững.
Nhu cầu xã hội trong lĩnh vực chăm sóc trẻ em không chỉ giới hạn ở những
nhóm trẻ khó khăn thiệt thòi về điều kiện vật chất hay thể chất mà còn với cả những
trẻ em gặp khó khăn về tinh thần. Trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt cần chú trọng
đến công tác phòng ngừa, loại bỏ sớm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát
triển toàn diện cuả trẻ…
Nhu cầu xã hội trong lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi bởi có hàng triệu
người cao tuổi đang cần đến sự hỗ trợ, trợ giúp xã hội trong khi đó về mặt lĩnh vực
6
nhu cầu trợ giúp là đa dạng và rất quan trọng. Cần phải có một đội ngũ cán bộ
CTXH chuyên nghiệp, đông đảo được đào tạo để đáp ứng nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ
người cao tuổi…Tác giả bàn đến nhu cầu xã hội trong một số lĩnh vực khác như
thanh niên, nhu cầu hoạt động CTXH trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe. Để
phát triển CTXH chuyên nghiệp, CTXH ở Việt Nam cần phải giải quyết được
những nhu cầu xã hội đặt ra mà trước hết là đào tạo về số lượng cũng như đảm bảo
chất lượng nguồn nhân lực CTXH.
“Nhu cầu về hoạt động CTXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội hiện
nay” – tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa trong kỷ yếu hội thảo khoa học: Đổi mới
CTXH trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế những vấn đề lý luận
và thực tiễn - 2010. Tác giả đã đưa ra những nhu cầu hoạt động CTXH đối với sự
phát triển kinh tế xã hội. Nhu cầu can thiệp CTXH trong một số lĩnh vực của đời
sống như nhóm yếu thế trong xã hội, bất kỳ nhóm nào cần chăm sóc sức khỏe tâm
thần, các lĩnh vực y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng. CTXH đáp ứng nhu cầu nhóm
đối tượng có hoàn cảnh bên cạnh những nhóm đối tượng bất ổn của xã hội. Những
CTXH một cách chuyên nghiệp. Tác giả đưa ra một số khuyến nghị để xây dựng
phát triển nghề CTXH như: Xây dựng tiêu chuẩn, chức danh nghề CTXH, đối
tượng nghề, xây dựng quy điều đạo đức nghề nghiệp cho CTXH, thành lập hiệp hội
nghề nghiệp CTXH. CTXH phát triển chuyên nghiệp phải chú ý đến trình độ đào
tạo CTXH một cách chuyên nghiệp.
Theo Viện Khoa học lao động và Xã hội đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH và đề xuất kế hoạch mô hình hệ
thống cung cấp dịch vụ CTXH từ trung ưng đến địa phương” – Dự án hỗ trợ phát
triển nghề CTXH tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014. Đề tài đã đánh giá tìm hiểu
nhu cầu CTXH đồng thời đánh giá thực trạng phát triển nghề CTXH hiện nay. Đánh
giá năng lực của hệ thống trung tâm dịch vụ CTXH, hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội.
Từ đó đề xuất mô hình trung tâm và hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH từ Trung
ương đến cộng đồng. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu về CTXH của các
đối tượng rất lớn. Trong tương lai một số nhóm đối tượng của CTXH sẽ tăng quy
mô và nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH. Các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội của Nhà
8
nước hiện nay hoạt động dựa vào nguồn ngân sách đang gặp nhiều khó khăn do
kinh phí thấp và phân bố chưa kịp thời. Trong khi đó có nhiều cơ sở ngoài công lập
được mở ra nhằm đáp ứng dịch vụ CTXH cho các đối tượng yếu thế trong cộng
đồng. Nghiên cứu cho thấy thực trạng nguồn nhân lực CTXH, cán bộ tại địa phương
chủ yếu là cộng tác viên hoặc bán chuyên trách. Hiện nay công tac đào tạo chưa sâu
rộng, các cán bộ có chuyên môn chưa nhiều.
Như vậy, đã có những nghiên cứu đến nhu cầu và thực trạng hoạt động
CTXH đặc biệt là nghiên cứu về nhu cầu xã hội đối với hoạt động CTXH. Tuy
nhiên, đánh giá về nhu cầu và thực trạng hoạt động CTXH qua ý kiến của nhân viên
CTXH trên địa bàn Hà Nội thì chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến. Nhân viên
CTXH là những người làm việc trực tiếp với nhóm đối tượng, là những người đang
hoạt động trong lĩnh vực CTXH. Vì vậy những ý kiến đánh giá của họ về nhu cầu
và hoạt động CTXH có ý nghĩa lớn đặc biệt tại khu vực Hà Nội – trung tâm kinh tế
nào?
4. Cần làm gì để phát triển nghề công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp
đáp ứng mục tiêu đề án 32 của chính phủ.
4.2.Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm tìm hiểu nhu cầu và thực trạng hoạt động CTXH hiện nay qua
đánh giá của nhân viên CTXH tại Hà Nội. Từ đó đưa ra những khuyến nghị về giải
pháp cần thiết phát triển CTXH theo hướng chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
4.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá nhận thức về nghề CTXH của nhân viên CTXH. Đánh giá vai trò
CTXH trong đời sống kinh tế xã hội.
Tìm hiểu nhu cầu hoạt động CTXH trong một số lĩnh vực hoạt động cụ thể
Nghiên cứu làm rõ thực trạng phát triển nghề CTXH hiện nay ở một số khía
cạnh: đội ngũ cán bộ, hệ thống chính sách, mạng lưới CTXH và hiệu quả hoạt động
bước đầu của nghề CTXH trong một số lĩnh vực.
Chỉ rõ một số yếu tố quan trọng trong phát triển CTXH qua đó đưa ra một số
khuyến nghị về giải pháp để phát triển CTXH chuyên nghiệp hiện nay.
10
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu và thực trạng phát triển nghề CTXH hiện nay qua đánh giá của
nhân viên công tác xã hội tại Hà Nội.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Những nhân viên công tác xã hội tại Hà Nội
5.3. Phạm vi nghiên cứu
o Phạm vi về thời gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trong thời gian từ
năm 2010 đến năm 2012
o Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Hà Nội
o Phạm vi vấn đề nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhu cầu và thực trạng hoạt động CTXH qua ý kiến đánh
hoạt động CTXH cùng với hàng loạt các vấn đề xã hội đòi hỏi đáp ứng. Từ đó tìm
hiểu một số yếu tố quan trọng trong sự phát triển của CTXH để nhằm thúc đẩy hoạt
động CTXH đạt hiệu quả cao. Vận dụng nguyên tắc này chúng tôi có thể khảo sát
đối tượng một cách toàn diện, khách quan, biện chứng và nhờ đó chỉ ra đặc thù của
đối tượng nghiên cứu
6.2. Phƣơng pháp thu thập thông tin
6.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích nguồn tài liệu thứ cấp: số liệu khảo
sát, số liệu thống kê, những số liệu liên quan đến hoạt động CTXH ở Hà Nội. Trọng
tâm phân tích số liệu định lượng của đề tài dựa trên một phần số liệu khảo sát về
thực trạng hoạt động CTXH trong khuôn khổ đề tài cấp Nhà nước (nghị định thư số
45/2011/HD – NĐT): “Đổi mới CTXH trong điều kiện kinh tế thị trường và hội
nhập Quốc tế. (Nghiên cứu kinh nghiệm CHXH CN Việt Nam và Liên bang Nga)
do TS. Nguyễn Thị Thu Hà phó chủ nhiệm khoa Xã Hội học – Trường ĐH Khoa
học Xã hội và Nhân văn chủ nhiệm đề tài. Đề tài được nghiên cứu ở 03 tỉnh thành
phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Trị.
Tác giả của luận văn cũng là người trực tiếp tham gia cùng với nhóm nghiên
cứu viên và được sự cho phép của chủ trì đề tài sử dụng một phần số liệu thống kê
12
phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận văn. Chúng tôi chọn và phân tích số liệu
nghiên cứu tại khu vực Hà Nội số lượng 175 bảng hỏi với cơ cấu mẫu:
Cơ cấu mẫu giới tính của nhân viên CTXH tham gia trả lời
Giới tính
Số lƣợng
%
Nam
34
19.4
Nữ
4 – 5 năm
20
11.4
6 – 10 năm
6
3.4
Trên 10 năm
1
0.6
Tổng
175
100
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Nhằm mục đích bổ sung những thông tin mà người nghiên cứu quan tâm
nhưng còn thiếu trong phân tích số liệu định lượng. Chúng tôi tiến hành 15 phỏng
vấn sâu với những chuyên gia, nhân viên CTXH trên địa bàn Hà Nội và phỏng vấn
13
ở các cấp, các lĩnh vực khác nhau và đối tượng phỏng vấn được lựa chọn trên cơ sở
họ đang làm việc, hoạt động về CTXH: cấp Bộ - cấp thành phố (02 cán bộ), nhân
viên CTXH trong các trung tâm dịch vụ bảo trợ xã hội (08 nhân viên), nhân viên
CTXH trong bệnh viên (02 nhân viên), ở cấp xã phường, thị trấn (02 cán bộ) và 01
nhân viên CTXH trong chùa.
Qua đó thấy được cách nhìn nhận khác nhau về nhu cầu thực trạng hoạt động
CTXH của cán bộ quản lý làm chính sách và những nhân viên CTXH làm việc trực
tiếp với đối tượng ở các cấp, các ngành khác nhau.
6.2.3. Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm được tiến hành với nhân viên CTXH ở hai trung tâm: Trung
tâm sống Độc lập Hà Nội và làng trẻ Hòa Bình SOS Thanh Xuân. Là hai trung tâm
7.2. Khung lý thuyết
Nhu cầu hoạt động CTXH
Thực trạng hoạt động CTXH
Vai trò của
CTXH
Nhu cầu về hoạt
động CTXH trong
một số lĩnh vực.
Hệ thống chính
sách
Nguồn nhân lực
Một số khuyến nghị về giải pháp phát
triển CTXH
Hiệu quả
hoạt động
bước đầu
Nhận thức của
nhân viên
CTXH
biến đổi đó. Trong chừng mực nào đó con người có thể giải thích và tiên lượng được biến
đổi xã hội. Chúng ta có thể kiểm soát xã hội theo những chiều hướng mà mình mong
muốn
13 Đặc điểm của biến đổi xã hội
Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến, nhưng nó diễn ra không giống nhau
giữa các xã hội.
Biến đổi xã hội khác biệt về thời gian và hậu quả.
Biến đổi xã hội vừa có tính kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch.
Biến đổi xã hội cũng có những quy luật của nó và nó có 5 quy luật:
Tính thống nhất giữa sự biến đổi và phát triển kinh tế với sự biến đổi và phát triển
của các mặt khác của đời sống xã hội.
Nhu cầu xã hội và hoạt động của con người trong quá trình biến đổi xã hội. Nhu
cầu và hoạt động là hai mặt không thể thiếu của con người và cũng là hai mặt không thể
tách rời nhau trong đời sống xã hội. Sự tăng lên của hoạt động tỉ lệ thuận với sự tăng lên
của nhu cầu. Nhu cầu của con người không ngừng biến đổi và phát triển. Nhu cầu này
được đáp ứng thì nhu cầu khác lại được nảy sinh và cao hơn nhu cầu trước đó, và như
vậy cùng với sự phát triển của nhu cầu thì hoạt động của con người cũng luôn biến đổi và
phát triển theo. Do đó các mặt của đời sống xã hội cũng biến đổi và phát triển.
Trong xã hội dù ở giai đoạn nào cũng có những chuẩn mực chung, đây là một điều
tất yếu của cộng đồng. Và việc các chuẩn mực này có phù hợp hay không phù hợp cũng
ảnh hưởng tới sự phát triển xã hội. Vì vậy, ta cần có những thay đổi linh hoạt phù hợp với
sự phát triển của xã hội.
Sự xuất hiện các xu hướng khác nhau trong quá trình biến đổi và phát triển là một
tất yếu. Sự kế thừa trong biến đổi và phát triển xã hội: sự thay thế xã hội cũ bằng xã hội
mới diễn ra theo một quy luật nhất định. Cái mới luôn nảy sinh trong lòng cái cũ và dần
thay thế cái cũ. Đây là một quy luật tất yếu của sự biến đổi xã hội.
định mọi hoạt động của con người.
Hệ thống nhu cầu của Maslow được thể hiện dưới hình kim tự tháp. Theo đó ông
sắp xếp nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc: nhu cầu cơ bản (ăn uống, hít thở), nhu cầu
về sự an toàn (tình yêu thương, nhà ở, việc làm), nhu cầu xã hội (nhu cầu được hòa nhập
15
xã hội), nhu cầu được quí trọng (chấp nhận vị trí trong xã hội) và nhu cầu được thể hiện
mình. Theo Maslow viên mãn (đạo đức, sáng tạo chấp nhận thực tế, hoàn toàn tự chủ
không bị ràng buộc bởi những khuôn sáo) là tầng cao nhất trong 5 tầng nhu cầu của con
người [46, tr127].
Sự thỏa mãn nhu cầu ở tầng thấp là tiền đề cho sự thỏa mãn ở tầng cao hơn. Con
người chỉ đạt được thỏa mãn khi các nhu cầu ở tầng thấp hơn được thỏa mãn và ở trạng
thái này người ta có khả năng chấp nhận thực tế, không chối bỏ sự thật, chấp nhận bản
thân, yêu đời. Trong bậc thang nhu cầu để tồn tại, con người cần phải đáp ứng được
những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống: ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc, dịch vụ xã hội Để
phát triển con người cần phải được đáp ứng những nhu cầu cao hơn như nhu cầu an toàn,
nhu cầu được thuộc về một nhóm, nhu cầu được hoàn thiện. CTXH thường hướng tới giải
quyết đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của đối tượng trước. Khi xác định được nhu cầu
nào là những nhu cầu quan trọng và cần được đáp ứng đầu tiên, nhân viên CTXH sẽ có
cơ sở thiết lập kế hoạch can thiệp, huy động các nguồn lực liên quan.
Theo thuyết nhu cầu của Maslow con người cần được đáp ứng các nhu cầu thấp
hơn trước khi nảy sinh ra những nhu cầu bậc cao hơn. Mỗi người đều có nhu cầu cơ bản
phục vụ cho cuộc sống của mình. Thỏa mãn nhu cầu của con người cũng là mục đích
chính của CTXH. CTXH đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của đời sống con người. Nhân
viên CTXH cần phải nắm vững được những nhu cầu đó và trong từng hoàn cảnh khác
nhau lại nảy sinh ra những nhu cầu khác biệt. Cách tiếp cận này nhấn mạnh thân chủ là
trọng tâm để giải quyết vấn đề và nhân viên CTXH có vai trò quan trọng. Tiếp cận nhu
cầu đòi hỏi nhân viên CTXH cần phải thực hiện tốt kỹ năng lắng nghe để thỏa mãn
những mong muốn và nhu cầu của đối tượng. Để hoàn thành nhiệm vụ của mình nhân
viên CTXH cần có những kỹ năng riêng biệt.