“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
1
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU…………………………………………………… 03
I.1. Lý do chọn đề tài 03
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài…………………………………………. 04
I.3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………. . 05
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 05
I.5. Phương pháp nghiên cứu 05
PHẦN II: NỘI DUNG 06
II.1. Cơ sở lý luận … 06
II.1.1. Vì sao phải tổ chức dạy học phân hóa, đổi mới chương trình
sách giáo khoa theo hướng phân ban ở Trường THPT hiện nay? … 06
II.1.2. Khái quát về dạy học phân ban, dạy học tự chọn………………… 08
II.2. Thực trạng: … . 12
II.2.1- Những bất cập về thời điểm đăng ký ban học … 12
II.2.2- Bất cập qua số liệu đăng ký chọn ban trong các năm tuyển sinh
vào Trường … 13
II.2.3- Thống kê học sinh trúng tuyển theo tỉ lệ của từng ban………. … 15
II.2.4- Tương quan tỉ lệ học sinh theo học của từng ban và đăng ký học
các chủ đề tự chọn khi thi đỗ vào Trường THPT Buôn Ma Thuột……. ….15
II.2.5- Đánh giá kết quả học tập của học sinh không còn nhân hệ số 2
các môn Nâng cao của Ban………………………………………………. 17
II.3. Biện pháp, giải pháp và cách thức thực hiện:………………………. . 17
II.3.1. Giải pháp 1: Thay đổi thời điểm đăng ký ban học …. .17
II.3.2. Giải pháp 2: Thay đổi cách thức tư vấn việc chọn ban và môn học
“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
3
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài:
Bắt đầu từ năm học 2006-2007, tất cả các trường Trung học phổ thông trên
cả nước bắt đầu thực hiện dạy học theo chương trình, sách giáo khoa mới. Đây là
sự tiếp nối quá trình đổi mới Chương trình giáo dục đã đựợc thực hiện liên tiếp
một số năm qua ở cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ sở theo những định hướng cơ
bản được nêu trong Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc Hội.
Trong bối cảnh hiện nay, đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp
hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông
nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp và hội nhập quốc tế. Để đáp ứng yêu
cầu của giai đoạn mới, sản phẩn đào tạo – tức người lao động cần phải có trình độ,
năng lực quản lí, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, có khả
sẽ thực hiện việc phân ban một cách hợp lí trên cơ sở giáo dục toàn diện". Nghị
quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII lần thứ 4 (1993); Nghị
định 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ; Nghị quyết 02-NQ/HNTW Khoá VIII
về giáo dục đào tạo của Bộ Chính trị (1998); Nghị quyết 37/2004/QH11 của Quốc
hội về giáo dục; Luật Giáo dục cũng đã chỉ ra những chủ trương về dạy học phân
ban, dạy học phân hóa ở cấp THPT.
Từ các chủ trương trên và cũng nằm trong lộ trình chung đó, các Trường
THPT trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk nói chung và Trường THPT Buôn Ma Thuột nói
riêng cũng thực hiện chương trình, sách giáo khoa phân ban từ năm học 2006-
2007.
Tuy nhiên khi bắt tay vào thực hiện dạy học phân ban, dạy học phân hóa, từ
những hứng thú, háo hức, đợi chờ, bỡ ngỡ ban đầu do sách mới, chương trình mới;
Việc tổ chức dạy học phân ban, dạy học phân hóa bộc lộ nhiều bất cập, tỉ lệ học
sinh giữa các ban không như định hướng ban đầu thậm chí có ban như Khoa học
xã hội và Nhân văn gần như “teo tốp” dần theo năm tháng
Xuất phát từ thực tế tổ chức dạy và học phân ban, phân hóa, với những kinh
nghiệm thực tế tại Trường THPT Buôn Ma Thuột, chúng tôi đã giúp học sinh định
hướng đúng ban học, phát huy năng lực, sở thích, nguyện vọng khi chọn chủ đề tự
chọn, môn học tự chọn, quan trọng nhất là đạt kết quả cao sau 3 năm “đèn sách” ở
bậc trung học, đỗ vào trường Đại học đạt điểm cao theo đúng khối thi, đúng ngành,
chuyên ngành mình yêu thích. Vì những lý do đó, chúng tôi xin được phép mạnh
dạn trao đổi với đồng nghiệp về “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý
thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma
Thuột”. Rất mong sự góp ý, chia sẻ của đồng nghiệp trong và ngoài trường, xin
trân trọng cảm ơn!
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Từ những khó khăn, thực trạng việc tổ chức dạy học phân ban hiện nay,
chúng tôi nêu ra được một số kinh nghiệm, các biện pháp, giải pháp tổ chức dạy
học phân ban, dạy học phân hóa bằng các chủ đề tự chọn, môn học tự chọn, phân
luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THPT…
“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
6
PHẦN II: NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận
II.1.1. Vì sao phải tổ chức dạy học phân hóa, đổi mới chương trình sách giáo
khoa theo hướng phân ban ở Trường THPT hiện nay?
II.1.1.1. Vì sao phải tổ chức dạy học phân hóa ở cấp THPT?
- THPT là bậc học cuối cùng trong chương trình phổ thông, sau năm học lớp
12, các em có nhiều “ngả rẽ”: hoặc là có thể tiếp tục học lên bậc Đại học với nhiều
ngành, chuyên ngành đòi hỏi năng lực, năng khiếu khác nhau, hoặc học Trung cấp
chuyên nghiệp hoặc đi vào lao động sản xuất, kinh doanh…Quá trình dạy học
trong nhà trường hướng tới các đối tượng học sinh rất đa dạng, với những khác biệt
về năng lực, sở thích, nguyện vọng và các điều kiện học tập. Dạy học theo một
chương trình giống nhau với cách thức tổ chức dạy học giống nhau cho tất cả mọi
đối tượng học sinh là không phù hợp với yêu cầu phát triển từng người học, nhất là
bậc THPT.
Dạy học phân hoá là một quan điểm dạy học, đòi hỏi phải tiến hành các hoạt
động dạy học dựa vào những khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng, các
điều kiện học tập nhằm phát triển tốt nhất cho từng người học, đảm bảo công
bằng trong giáo dục. Dạy học phân hoá ở cấp vĩ mô được thể hiện thông qua cách
tiếp, năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của sản xuất và thị trường
lao động, tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu; có khả năng
thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống…
- Sự phát triển mau chóng của khoa học công nghệ đòi hỏi chương trình,
sách giáo khoa phải luôn được xem xét, điều chỉnh. Học vấn mà nhà trường phổ
thông trang bị cho học sinh không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn. Vì
vậy trong dạy học phải coi trọng dạy phương pháp học, dạy cách tự xây dựng kiến
thức cho người học.
- Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, trong bối
cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, học sinh được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa
dạng, phong phú về nhiều mặt của cuộc sống. Trong học tập, học sinh không thoả
mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhận các giải pháp đã
có sẵn được đưa ra. Học sinh ở lứa tuổi này nảy sinh một yêu cầu, đó là: sự lĩnh
hội độc lập các tri thức. Chương trình và sách giáo khoa cần được đổi mới để góp
phần đáp ứng yêu cầu đó của người học [2].
Chương trình và cách thực hiện chương trình như trên đã làm thay đổi
quan niệm về cách sử dụng sách giáo khoa. Sách giáo khoa trở thành tài liệu định
hướng và hỗ trợ cho quá trình tự học, tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức mới và
thực hành theo năng lực của người học. Các thông tin trong sách giáo khoa qua
kênh hình và kênh chữ thường đa dạng, phong phú, đòi hỏi người học phải có tư
duy linh hoạt, có đầu óc phê phán mới phát hiện và giải quyết được vấn đề. Bởi
vậy cần phải đổi mới chương trình, sách giáo khoa ở tất cả các cấp bậc học phổ
“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
8
thông ở nước ta, trong đó có THPT, để có thể phù hợp với xu thế chung của thế
giới.
II.1.2. Khái quát về dạy học phân ban, dạy học tự chọn
“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
9
chọn học một số môn học khác theo năng lực, nguyện vọng, nhu cầu của cá nhân,
định hướng nghề nghiệp trong tương lai [8].
Ưu điểm nổi bật của dạy học tự chọn là đáp ứng được yêu cầu phân hoá cao
của học sinh. Tuy nhiên nó đòi hỏi cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và năng lực
quản lí cao. Hình thức dạy học tự chọn là xu hướng mà hiện nay nhiều nước trên
thế giới hướng tới.
II.1.2.3. Phân ban kết hợp với dạy học tự chọn
Đặc điểm của hình thức này là học sinh vừa được phân chia theo học các
ban khác nhau, đồng thời học sinh được chọn một số môn học, chủ đề tự chọn
ngoài phần nội dung học tập bắt buộc chung cho mỗi ban. Hình thức này kết hợp
được ưu điểm của cả hai hình thức phân ban và dạy học tự chọn, nó được nhiều
nước trên thế giới áp dụng, ví dụ Pháp, Nga, Singapo, Tây Ban Nha… Đây cũng
chính là hình thức dạy học phân hoá mà Bộ Giáo dục- Đào tạo nước ta đang triển
khai thực hiện ở các trường THPT hiện nay [1], [3].
II.1.3. Sơ lược lịch sử tổ chức dạy học phân ban ở nước ta
Theo nhiều tài liệu của các chuyên gia giáo dục, phân ban là một mô hình tổ
chức dạy học có tính lịch sử của nước ta. Đó là mô hình được áp dụng từ thời Pháp
thuộc và vẫn được duy trì ở miền Nam cho đến năm 1975. Ở miền Bắc, cuộc cải
cách giáo dục lần 1 năm 1950 đã xác lập hệ thống giáo dục phổ thông gồm 9 năm
thay thế hệ thống cũ; năm 1956 lại cải cách một lần nữa để hợp nhất hai hệ thống
giáo dục ở vùng tạm chiếm và vùng tự do thành một hệ thống gồm 10 năm. Sau
năm 1975, miền Nam vẫn duy trì hệ thống giáo dục hệ 12 năm nhưng bỏ phân ban.
Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, chủ trương phân ban lần đầu tiên
được đề cập vào năm 1979. Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị BCH T.Ư khóa IV ban
Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Công nghệ, Thể dục, Ngoại ngữ, Tin học, Giáo dục công
dân, Giáo dục quốc phòng và an ninh.
Có 4 hoạt động giáo dục: Hoạt động giáo dục tập thể; Hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp; Hoạt động giáo dục hướng nghiệp; Hoạt động giáo dục nghề phổ
thông.
II.1.4.2- Ban học:
Theo Bộ Giáo dục- Đào tạo, mô hình phân ban cấp THPT hiện nay là mô
hình rộng, gồm 3 ban :
- Ban Khoa học tự nhiên:
Ban này phù hợp với những học sinh có năng lực, hứng thú, nguyện vọng
học sâu hoặc lựa chọn các nghề nghiệp đòi hỏi kiến thức về lĩnh vực Toán và khoa
học tự nhiên.
Học sinh ban KHTN học theo chương trình Nâng cao của 4 môn : Toán, Vật
lí, Hoá học, Sinh học và chương trình Chuẩn của các môn còn lại. Thời lượng dạy
học tự chọn dành để học các chủ đề tự chọn bám sát thuộc một số môn học.
Ban này rất phù hợp cho những học sinh định hướng thi Đại học khối A
(Toán, Lý, Hóa), Khối B (Toán, Hóa, Sinh học).
- Ban Khoa học xã hội và Nhân văn:
“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
11
Ban này phù hợp với những học sinh có năng lực, hứng thú, nguyện vọng
học sâu hoặc lựa chọn các nghề nghiệp đòi hỏi kiến thức về lĩnh vực KHXH-NV.
Học sinh ban KHXH-NV học theo chương trình Nâng cao của 4 môn: Ngữ
văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ và chương trình Chuẩn của các môn còn lại. Thời
lượng dạy học tự chọn dành để học một số chủ đề tự chọn bám sát thuộc một số
môn học.
- Ban Cơ bản:
Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
12
"Chương trình Chuẩn". Chương trình Chuẩn có thể được hiểu là chương trình
nhằm đảm bảo giáo dục mang tính phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp
cho tất cả học sinh trong cả nước.
Ở cấp THPT, ngoài chương trình Chuẩn, để thực hiện dạy học phân hoá,
một số môn học còn có nội dung nâng cao: Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Ngữ
văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ. Chương trình của các môn học với nội dung nâng
cao này gọi là "Chương trình Nâng cao".
II.1.4.4- Các loại Chủ đề tự chọn
Theo Bộ Giáo dục- Đào tạo ở Trường THPT có hai loại chủ đề tự chọn:
- Chủ đề tự chọn bám sát: Chủ đề tự chọn bám sát theo chương trình
Nâng cao dành cho những môn học nâng cao và Chủ đề tự chọn bám sát theo
chương trình Chuẩn dành cho những môn học theo chương trình Chuẩn. Các chủ
đề này nhằm củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kĩ năng của các môn học,
không cung cấp kiến thức mới cho học sinh.
- Chủ đề tự chọn Nâng cao: thường dành cho Ban Cơ bản, dành cho các
môn học có nội dung theo chương trình Chuẩn, cần nâng cao thêm : Toán, Vật lí,
Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ. Các chủ đề nâng cao này
đề cập đến các nội dung nâng cao, nhằm bổ sung và phát triển chương trình Chuẩn
đạt mức tương đương chương trình Nâng cao.
II.2. Thực trạng:
II.2.1- Những bất cập về thời điểm đăng ký ban học
Theo quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo và Sở Giáo dục - Đào tạo Đăk Lăk,
trong Quy chế và kế hoạch thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT hàng năm, vào thời
điểm làm hồ sơ dự thi tuyển sinh vào lớp 10 cũng là thời điểm học sinh phải đăng
ký chọn ban học và môn học tự chọn.
Hàng năm số lượng học sinh đăng ký dự thi lớp 10 vào trường THPT Buôn
Ma Thuột dao động từ 3000 đến 4500 học sinh (kể cả nguyện vọng 1 từ Trường
Tổng hồ sơ
dự thi
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
2007-2008
1981
46,99
379
8,99
1855
44,02
4215
2008-2009
2352
44,97
682
13,04
2196
41,98
5230
2009-2010
1445
32,03
310
6,87
2755
nhau; tuy nhiên càng về sau tỉ lệ học sinh đăng ký học Ban Khoa học tự nhiên và
Ban Khoa học xã hội và Nhân văn ngày càng giảm dần, trái lại ở Ban Cơ bản,
những năm đầu, số lượng học sinh đăng ký không nhiều, nhưng sau đó tăng dần
qua mỗi năm (năm học 2012-2013 chiếm 72,96%). Phải chăng, học ban Cơ bản
hiện nay là “hot” nhất, mục tiêu phân ban của Bộ Giáo dục – Đào tạo đã bị “phá
Bảng 1: Số lượng, tỉ lệ chọn ban của học sinh khi đăng ký dự thi vào lớp 10
Trường THPT Buôn Ma Thuột từ năm học 2007-2008 đến năm học 2012-2013
“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
14
sản” chăng, khi “Ban không phân ban” (tức Ban Cơ bản theo cách nói ví von của
một số người) lại chiếm một tỉ lệ cao nhất ?.
Để thấy rõ hơn, chúng tôi minh họa sự chênh lệch lớn giữa các ban khi học
sinh đăng ký dự thi vào lớp 10 ở Trường THPT Buôn Ma Thuột qua biểu đồ sau:
2010
2010-
2011
2011-
2012
2012-
2013
Năm học
Tỉ lệ %
KHTN KHXH CB
Biểu đồ1: Biểu đồ minh họa tỉ lệ tương quan giữa các ban khi đăng ký dự thi vào lớp 10
Trường THPT Buôn Ma Thuột từ năm học 2007-2008 đến năm học 2012-2013
“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
15
II.2.3- Thống kê số học sinh trúng tuyển theo tỉ lệ của từng ban
Thống kê số liệu từ máy tính về việc học sinh trúng tuyển vào lớp 10 tính tỉ lệ
theo từng ban của học sinh qua 6 năm tuyển sinh vào Trường THPT Buôn Ma
Thuột từ năm học 2007-2008 đến năm học 2012-2013:
Năm học
Trúng tuyển
Ban KHTN
Trúng tuyển
Ban KHXH-NV
2009-2010
326
22,56%
74
23,87%
184
6,68%
584
2010-2011
301
31,78%
40
32,26%
374
17,99%
715
2011-2012
389
46,36%
47
47,96%
311
13,56%
747
2012-2013
295
40,24%
25
41,67%
318
chủ đề tự chọn khi thi đỗ vào Trường THPT Buôn Ma Thuột
Năm học
Tổng
số học
sinh
toàn
trường
Ban
KHTN
Ban
KHXH-
NV
Ban Cơ bản
A
B
C
D
Khác
SL
TL
%
SL
TL
%
SL
95
3.32
2008-2009
2486
1755
70.6
95
3.82
350
14.08
42
1.69
35
1.41
134
5.39
75
3.02
2009-2010
1969
1452
73.74
44
2.23
250
12.70
38
1.93
0
0.00
0
0.00
67
3.52
38
1.99
2012-2013
1925
1426
74.08
20
1.04
279
14.49
35
1.82
0
0.00
120
6.23
45
2.34
Chú thích:
Ban cơ bản A: Có học chủ đề tự chọn 2 hoặc 3 môn Toán, Vật Lý, Hóa học
Ban cơ bản B: Có học chủ đề tự chọn 2 hoặc 3 môn Toán, Hóa học, Sinh học
Ban cơ bản C: Có học chủ đề tự chọn 2 hoặc 3 môn Ngữ Văn, Lịch Sử, Địa Lý
Ban cơ bản D: Có học chủ đề tự chọn 2 hoặc 3 môn Toán, Ngữ Văn, Ngoại Ngữ
Ban cơ bản Khác: Có học chủ đề tự chọn từ 1 đến 2 môn trong số các môn trên
Như vậy, hoàn toàn khác với số liệu đăng ký tuyển sinh vào 10, ban Cơ bản
các lớp nâng cao bị thiệt thòi. Bởi từ lâu, các lớp ở hai ban Khoa học tự nhiên và
Khoa học xã hội- Nhân văn phải học theo chương trình nâng cao, số tiết nhiều hơn,
chuyên sâu hơn và lâu nay (theo Thông tư 40 trước đây) đã tính hệ số hai nay lại
tính hệ số một, tất nhiên sẽ thiệt thòi nhiều hơn cho những em này.
Mục tiêu của chương trình phân ban nhằm phát huy sở trường, năng khiếu ở
mỗi học sinh, đồng thời đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
Thế nhưng, theo quy định mới thì các môn khoa học sẽ đánh giá và tính hệ số như
nhau, liệu học sinh có còn mặn mà với việc học theo phân ban, nhất là ban khoa
học xã hội? Như vậy thì việc phân ban có còn cần thiết hay không?
II.3. Biện pháp, giải pháp và cách thức thực hiện:
II.3.1. Giải pháp 1: Thay đổi thời điểm đăng ký ban học
Theo kinh nghiệm từ Trường THPT Buôn Ma Thuột của chúng tôi: Thời điểm
đăng ký chọn ban, môn học tự chọn phù hợp nhất là sau khi có quyết định điểm
chuẩn và danh sách học sinh trúng tuyển vào từng trường THPT. Lúc này, tâm thế,
tâm lý học sinh và phụ huynh cũng đã ổn định, không còn lo lắng, hồi hộp, căng
thẳng như lúc làm hồ sơ đăng ký dự thi. Mặt khác thời điểm này số lượng học sinh
ít hơn rất nhiều so với thời điểm làm hồ sơ dự thi, nhà trường có thể tổ chức nói
“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
18
chuyện dưới cờ, hướng dẫn, tư vấn, phân công các tổ, bộ phận, các giáo viên có
nhiều kinh nghiệp giải thích cặn kẽ cho từng học sinh, phụ huynh học sinh về: Ban
học, môn học tự chọn, chủ đề tự chọn, chương trình Chuẩn, chương trình Nâng
cao; học ban đó nên dành cho những học sinh có năng lực, sở trường, yêu cầu ra
sao, nghề nghiệp tương lai là gì? Từ đó nhà trường hướng dẫn học sinh chuẩn bị bộ
sách giáo khoa tương ứng cho những Ban có môn học Nâng cao. Ban Cơ bản cần
những bộ sách gì, theo chương trình Nâng cao hay chương trình Chuẩn tùy theo sự
Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
19
II.3.2.2-Tư vấn chọn ban, môn học tự chọn phải gắn liền với năng lực,
sở thích, định hướng nghề nghiệp trong tương lai
Việc hướng dẫn, tư vấn học sinh chọn ban phải căn cứ vào năng lực, năng
khiếu bộ môn đó là điểm các môn học ở cấp THCS thể hiện trong học bạ và điểm
thi tuyển sinh vào lớp 10. Ví dụ, học sinh chọn ban Khoa học tự nhiên thì điểm
Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học trong học bạ THCS phải ổn định liên tục các năm
và đạt từ 8,0 trở lên, điểm thi môn Toán vào lớp 10 đạt từ 8,5 trở lên. Tương tự,
chọn Ban khoa học xã hội học sinh phải có điểm Ngữ văn từ 7,5 trở lên và điểm
Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ phải từ 8,0 trở lên…Chọn Ban Cơ bản với môn học tự
chọn nào, nâng cao môn gì thì cũng phải căn cứ vào những cơ sở tương tự để tư
vấn, định hướng.
Việc tư vấn lựa chọn Ban học, môn học tự chọn còn gắn liền với những định
hướng ngành nghề cho bản thân là vô cùng quan trọng. Nó có ảnh hưởng rất lớn
đến tương lai của em sau này. Để chọn đúng ngành nghề trước tiên em phải xác
định, em thích làm công việc như thế nào, sức học của em đến đâu cũng như điều
kiện hoàn cảnh gia đình, ngành nghề đó học ở đâu, thi vào khối nào, gồm những
môn gì?.
Dưới đây là số liệu minh chứng ở một số năm, cho thấy: nếu làm tốt công tác tư
vấn chọn Ban sau khi trúng tuyển vào lớp 10, nhiều học sinh mới “vỡ lẽ”, sau đó
đổi ban, đổi môn học tự chọn, chủ đề tự chọn và thành công trong quá trình học.
Năm học
Đăng ký đổi
Ban KHTN
Đăng ký đổi
Ban KHXH-NV
0,15%
6
1,02%
5
0,86%
/584 Hs lớp 10
2010-2011
145
20,2%
14
19,5%
58
8,11%
/715 Hs lớp 10
2011-2012
98
13,1%
27
36,1%
120
16,06%
/747 Hs lớp 10
2012-2013
213
33,4
20
31,1%
187
29,31%
/638 Hs lớp 10
học sinh
lớp 10
SL
TL%
thay đổi
SL
TL%
thay đổi
SL
TL%
thay đổi
2007-2008
56
5,32%
15
0,14%
35
3,33%
1050
2008-2009
48
6,88%
17
0,24%
68
9,74%
698
2009-2010
45
7,71%
trọng, khi ngồi trên ghế nhà trường THPT, học sinh phải định hướng học tập, định
Bảng 5: Thống kê số lượng học sinh đổi ban sau năm học lớp 10
“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
21
hướng nghề nghiệp, chuẩn bị chọn nghề vì thế nó cũng liên quan trực tiếp đến việc
chọn ban học, môn học tự chọn, chủ đề tự chọn.
Hướng nghiệp là hoạt động tư vấn, tham vấn giúp cho người được hướng
nghiệp tìm ra được một ngành nghề phù hợp với năng lực của bản thân và yêu cầu
của xã hội. Làm cho người học nhận thức rõ về ngành nghề mình lựa chọn và theo
đuổi, từ đó có động lực để cố gắng học tập và phát triển.
II.3.4.1. Tổ chức có hiệu quả các bài học về hoạt động giáo dục hướng
nghiệp trong chương trình. Đổi mới hình thức và phương pháp tổ chức các hoạt
động giáo dục hướng nghiệp
- Đổi mới tư duy tổ chức các nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp:
Cấu trúc các nhóm bài giáo dục hướng nghiệp bậc THPT như sau: Lớp 10, có 04
nhóm bài thuộc kiến thức chung, 04 nhóm bài thuộc các nhóm ngành - nghề cụ thể;
lớp 11, có 02 nhóm bài thuộc kiến thức chung, 04 nhóm bài thuộc các nhóm ngành
- nghề cụ thể; lớp 12 tập trung vào các hoạt động tư vấn hướng nghiệp: 04 nhóm
bài thuộc kiến thức chung giúp học sinh tự hướng nghiệp, 03 nhóm bài về hoạt
động tìm hiểu hệ thống các cơ sở tuyển chọn nghề. Các nhóm bài còn lại thuộc chủ
đề tham quan, giao lưu nghề nghiệp, cho nên cần có phương hướng tổ chức các nội
dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp phù hợp:
+ Những nhóm bài thuộc kiến thức chung: giáo viên thiết kế các hoạt động
và tổ chức học sinh tìm hiểu theo đơn vị lớp.
+ Những nhóm bài thuộc các nhóm ngành - nghề cụ thể: mỗi nhóm học sinh
tự tìm hiểu theo xu hướng nhóm nghề, giáo viên đóng vai trò cố vấn, trợ giúp cho
các nhóm. Giao nhiệm vụ cho các nhóm tự tìm kiếm thông tin nghề nghiệp ở nhà
vào các hoạt động tìm hiểu, nhận thức về nghề cho học sinh, trong đó phải tập
trung vào các phương pháp tự hướng nghiệp ở học sinh. Chương trình hoạt động
giáo dục hướng nghiệp của Bộ Giáo dục- Đào tạo chỉ là chương trình khung vì thế
không nên cứng nhắc theo sách vở, tài liệu mà căn cứ vào xu hướng chọn nghề của
các nhóm học sinh trong lớp và hơn 6000 nghề khác nhau trong xã hội để thay đổi
phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp hiệu quả [4].
II.3.4.2. Xây dựng đội ngũ tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp
trong nhà trường, chú trọng tư vấn nhiều hơn cho HS lớp 12
- Đội ngũ trực tiếp tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp là giáo viên
chủ nhiệm, kết hợp với Ban hướng nghiệp và cộng tác với một số bậc phụ huynh
làm việc ở các ngành nghề khác nhau trong xã hội.
- Đội ngũ hỗ trợ công tác hướng nghiệp nhà trường gồm: Ban giám hiệu,
giáo viên bộ môn, tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Giáo viên chủ nhiệm là cầu
nối giữa nhà trường với gia đình trong tư vấn hướng nghiệp, giáo viên chủ nhiệm
và Ban hướng nghiệp đóng vai chủ đạo trong công tác tư vấn hướng nghiệp cho
học sinh. Đặc biệt đối với khối 12- đây là giai đoạn các em có những trăn trở muốn
được chia sẻ, gặp rất nhiều lúng túng cần được giải đáp để có một quyết định đúng
nhất trong việc chọn nghề. Cho nên, nhà trường cần có phòng tư vấn với một Ban
tư vấn có kinh nghiệm và kỹ năng hướng nghiệp. Phương pháp tư vấn là trao đổi,
“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
23
thảo luận trực tiếp với học sinh, hoặc qua "hòm thư", hoặc qua địa chỉ e-mail của
trường.[4]
- Mục đích cuối cùng của tư vấn hướng nghiệp là giúp học sinh nhận thức:
một người không chỉ phù hợp với một nghề mà phù hợp với một nhóm nghề; thế
giới nghề là rộng lớn: có nhiều loại nghề (chân tay, trí óc), nhiều loại việc (nhân
viên, quản lý, tự do), từ đó chọn cho bản thân một nghề phù hợp để lập thân lập
Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail:
24
Dưới đây là một số số liệu minh chứng cho công tác xây dựng đội ngũ nhà
giáo của nhà trường:
Số
lượng
Trình độ
Đã từng đạt
danh hiệu GV
dạy giỏi cấp tỉnh
Biết sử dụng
CNTT cho
giảng dạy
Ghi
chú
ĐH
Thạc sĩ
CB Quản lý
04
02
02
02
04
Giáo viên
95
77
học
Số lượng
45 (đủ học 1 ca)
01
01
01
04
01 Chất lượng
-Quy cách đạt chuẩn
QG
- Mỗi phòng trang bị:
Bảng chống lóa,
projector
- Đầy đủ
trang
thiết bị
- Đạt
chuẩn
QG
- Đầy đủ
trang
thiết bị
- Đạt
chuẩn
QG
- Đầy đủ
trang
quá trình dài về định hướng, tư vấn chọn ban, chọn môn học tự chọn phù hợp với
định hướng nghề nghiệp của học sinh Trường THPT Buôn Ma Thuột trong 5 năm
học từ 2007-2008 đến 2011-2012:
II.4.1. Thống kê tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT của Trường Năm học
Số lượng đăng ký
dự thi TN THPT
Số lượng đỗ
TN THPT
Tỉ lệ đỗ tốt
nghiệp THPT
Ghi chú
2007-2008
999
955
95,59%
2008-2009
1045
1026
98,18%
2009-2010
756
753
99,60%
2010-2011
Bảng 8: Thống kê tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT ở Trường THPT Buôn Ma Thuột