Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự giúp
đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn. Các số liệu, kết quả nêu trong khóa
luận là trung thực được trích dẫn từ các nguồn đáng tin cậy.
Tác giả khóa luận
Đoàn Phương Thảo
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Hà
Thị Sáu – người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo của Học viện Ngân hàng đã dạy dỗ và
truyền đạt kiến thức cho em trong suốt 4 năm học vừa qua.
Ngoài ra, em cũng xin đặc biệt cảm ơn các cán bộ phòng Khách hàng 1-
Ngân hàng Công thương chi nhánh Hà Nội đã giúp em tìm hiểu thêm về các
vấn đề cũng như số liệu phục vụ quá trình nghiên cứu.
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ASEAN Association of South-East Nations
Hiệp hội các quốc gia trong khu vực
Đông Nam Á
CCTM Cán cân thương mại
CCVL Cán cân vãng lai
CNY Chinese yuan Đồng tiền nhân dân tệ Trung Quốc
CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng
Biểu đồ 2.3: Diễn biến biến động tỷ giá đầu năm 2011 Error: Reference source
not found
Biểu đồ 2.4: Nhập siêu và tỷ giá 2009-2010 Error: Reference source not found
Đồ thị 2.5: Kim ngạch xuất nhập khẩu, cán cân thương mại Error: Reference
source not found
của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 Error: Reference source not found
Biểu đồ 3.1. Mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam và số tháng nhập khẩu . .Error:
Reference source not found
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phân bổ dự trữ ngoại hối theo các đồng tiền Error: Reference
source not found
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, tỷ giá vốn dĩ luôn chứa đựng rất nhiều yếu tố khó lường, là
vấn đề hết sức phức tạp, gây nhiều tranh luận trên cả phương diện lí luận và thực
tiễn. Tỷ giá tác động đến mọi hoạt động của nền kinh tế, có ảnh hưởng đáng kể
tới tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế, tới sự dịch chuyển của các luồng vốn,
tính độc lập của chính sách tiền tệ và hiệu lực của các chính sách vĩ mô.Vì thế,
chính sách tỷ giá hối đoái là một trong những công cụ không thể thiếu để thực
hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, như: tăng trưởng, lạm phát, cán cân thanh toán…
Như ta đã biết, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 đã ảnh
hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và
tăng trưởng kinh tế chậm lại, để lại nhiều hậu quả kéo dài cho tới thời điểm hiện
tại. Việt Nam cũng không nằm ngoài những tác động đó, mặc dù đã chuyển
hướng chính sách để đối phó với khủng hoảng, tuy độ mở của nền kinh tế Việt
Nam khá cao nhưng còn chịu tác động bất lợi trên cả ba bình diện: thương mại,
đầu tư và tài chính nên sẽ đứng trước nhiều thách thức. Báo động đối với Việt
Nam là thâm hụt cán cân thương mại đã ở mức đỉnh điểm, đặc biệt là thâm hụt
thương mại với quốc gia láng giềng Trung Quốc, tiếp đến là thâm hụt thương
• Từ nghiên cứu lí luận và phân tích thực tế, đề xuất một số giải pháp nhằm
hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái để thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu ở
Việt Nam trong thời gian tới
3. Đối tượng và phạm vi nguyên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng chính sách tỷ giá hối đoái và
diễn biến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian qua, làm cơ sở
nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu
b. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi mối liên hệ giữa tỷ giá hối
đoái và hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trên cơ sở số liệu thực tế sưu
tầm được (chủ yếu từ năm 1992 đến nay) và được giới hạn trong một số quốc gia
tiêu biểu như: Hàn Quốc, Trung Quốc.
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
2
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mac-Lênin để nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn. Ngoài ra còn sử
dụng các phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích tổng hợp, thống kê để đánh
giá tình hình thực tế, kết hợp sử dụng các bảng, biểu để minh họa.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:
• Chương 1: Tỷ giá hối đoái, chính sách tỷ giá hối đoái và tác động của
nó đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
• Chương 2: Thực trạng điều hành chính sách tỷ giá hối đoái và tác động
của nó tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
• Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái nhằm
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam.
Cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo.
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
1.1.2 Các nhân tố tác động tới tỷ giá hối đoái
1.1.2.1 Quan hệ cung cầu về ngoại tệ
Tỷ giá hối đoái là giá cả của ngoại tệ tính bằng nội tệ. Vì vậy, quan hệ cung
- cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động
của tỷ giá hối đoái. Khi cung ngoại tệ tăng (hoặc cầu ngoại tệ giảm) thì tỷ giá
giảm và ngược lại. Đến lượt cung và cầu ngoại tệ lại chịu tác động của nhiều yếu
tố khác, trong đó phải kể đến những yếu tố cơ bản sau:
- Cán cân thanh toán quốc tế: Nếu cán cân thanh toán quốc tế thặng dư, có
thể dẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu về ngoại tệ, do đó làm cho tỷ giá
giảm xuống. Ngược lại, khi cán cân thanh toán quốc tế thiếu hụt có thể dẫn đến
cung về ngoại tệ nhỏ hơn cầu về ngoại tệ, do đó sẽ đẩy tỷ giá tăng lên.
- Những nhu cầu về ngoại tệ bất thường: Khi có thiên tai, hạn hán, mất
mùa, chiến tranh, dịch bệnh…cũng như do nạn buôn bán hàng lậu gây ra, tạo nên
sự bất ổn định về kinh tế, làm cho đồng nội tệ mất giá dẫn đến xu hướng chung
là làm tăng nhu cầu ngoại tệ, do đó làm cho tỷ giá tăng lên.
1.1.2.2 Mức chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia
Khi mức lãi suất ngắn hạn của một nước tăng lên một cách tương đối so với
nước khác, trong những điều kiện bình thường, thì vốn ngắn hạn từ nước ngoài
sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra đó. Điều này làm cho
cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm, do đó tỷ giá giảm xuống.
1.1.2.3 Mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia
Nếu như mức độ lạm phát giữa hai nước khác nhau, trong điều kiện các
nhân tố khác không đổi, sẽ dẫn đến giá cả hàng hóa ở hai nước đó có những biến
động khác nhau, làm cho ngang giá sức mua của hai đồng tiền đó bị phá vỡ, dẫn
đến thay đổi tỷ giá hối đoái.
Như vậy, khi lạm phát của một nước tăng lên thì sức mua của đồng tiền
nước đó giảm so với nước kia, làm cho tỷ giá tăng lên, và ngược lại.
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
5
các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước đó sẽ bị phụ thuộc nhiều vào khả năng
dự trữ ngoại tệ mạnh của nước đó, điều này sẽ gây ảnh hưởng đến diễn biến của
tỷ giá hối đoái.
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
6
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
Ngoài ra cũng cần phải kể kể thêm những yếu tố như: các cú sốc kinh tế,
chính trị - xã hội cũng như các quyết sách lớn của Nhà nước trong lĩnh vực kinh
tế, tài chính, tiền tệ.
1.2 Chính sách tỷ giá hối đoái
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
1.2.1.1 Khái niệm chính sách tỷ giá
Chính sách tỷ giá là những hoạt động của Chính phủ (mà đại diện thường là
NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và
hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định, hay tác
động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách
kinh tế quốc gia.
1.2.1.2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
Vai trò của chính sách tỷ giá đối với các hoạt động kinh tế đối ngoại thể hiện
qua việc áp dụng chính sách tỷ giá để đạt được các mục tiêu nhất định sau đây:
- Mục tiêu ổn định giá cả (cân bằng bên trong của nền kinh tế): Với các
yếu tố khác không đổi, khi phá giá nội tệ (tức tỷ giá tăng hay tỷ giá danh nghĩa
cao hơn tỷ giá cân bằng của thị trường), làm cho giá hàng hóa nhập khẩu tính
bằng nội tệ tăng. Giá hàng hóa nhập khẩu tăng làm cho mặt bằng giá cả chung
của nền kinh tế tăng, tức gây lạm phát. Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng
hóa nhập khẩu càng lớn thì tỷ lệ lạm phát càng cao và ngược lại. Qua đó, chính
sách tỷ giá chính là công cụ hữu hiệu nhằm đạt được mục tiêu bình ổn giá cả.
Với các yếu tố khác không đổi, muốn kiềm chế lạm phát tăng, NHTW có thể sử
dụng chính sách nâng giá nội tệ (tức tác động làm cho tỷ giá giảm); muốn kích
thích lạm phát gia tăng, NHTW có thể sử dụng chính sách phá giá nội tệ; muốn
khẩu hàng hóa và dịch vụ của mình.
Chính vì vậy, theo nghĩa hẹp hay theo nghĩa thực, ta còn có khái niệm:
Chính sách tỷ giá là những hoạt động của NHTW thông qua cơ chế điều
hành chính sách tỷ giá và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm đạt được một
mức tỷ giá nhất định, để tác động tích cực đến hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia.
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
8
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
1.2.2. Các công cụ của chính sách tỷ giá
1.2.2.1. Các công cụ điều chỉnh tỷ giá trực tiếp
Thông thường, NHTW hoạt động trên thị trường ngoại hối thông qua việc
mua bán đồng tệ nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định (trong chế độ tỷ giá cố
định) hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mục
tiêu đã đề ra (trong chế độ tỷ giá thả nổi). Khi NHTW can thiệp trên thị trường
ngoại hối tạo ra một hiệu ứng thay đổi cung tiền trong lưu thông, có thể gây ra áp
lực lạm phát hay thiểu phát không mong muốn cho nền kinh tế. Do vậy, khi
NHTW can thiệp trực tiếp trên thị trường ngoại hối, NHTW thường phải sử dụng
thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư cung hay bổ sung phần thiếu
hụt tiền tệ trong lưu thông. Việc mua - bán các tài sản nội - ngoại tệ diễn ra đồng
thời với việc mua bán chứng khoán. Kết quả của sự phối hợp các nghiệp vụ này
chỉ dẫn đến sự thay đổi trong dự trữ quốc tế của một nước chứ không làm thay
đổi cung tiền và do đó không dẫn đến sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái và giá trị
của các đồng tiền.
Ngoài ra nhóm công cụ điều chỉnh tỷ giá trực tiếp còn có:
- Biện pháp kết nối: Là việc chính phủ quy định đối với các thể nhân và
pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời hạn
nhất định cho các tổ chức được phép kinh doanh ngoại hối. Biện pháp kết nối
được áp dụng trong thời kì khan hiếm ngoại tệ giao dịch trên thị trường ngoại
hối. Mục đích chính của biện pháp kết nối là nhằm làm tăng cung ngoại tệ tức
động của các nhà đầu tư đều làm tăng cầu ngoại tệ, kết quả là tỷ giá hối đoái tăng
và đồng nội tệ giảm giá.
- Thuế quan: Thuế quan cao có tác dụng hạn chế nhập khẩu, nhập khẩu
giảm làm cho cầu ngoại tệ giảm, kết quả là nội tệ lên giá. Thuế quan thấp lại có
tác dụng ngược lại.
- Hạn ngạch: Cũng giống như thuế quan cao, hạn ngạch thấp có tác dụng
hạn chế nhập khẩu, nội tệ lên giá, còn dỡ bỏ hạn ngạch lại làm nội tệ giảm giá.
- Giá cả: Thông qua hệ thống giá cả, Chính phủ có thể trợ giá cho những
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
10
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
mặt hàng xuất khẩu chiến lược hay đang trong giai đoạn đầu sản xuất. Trợ giá
xuất khẩu làm cho khối lượng xuất khẩu tăng, làm tăng cung ngoại tệ, nội tệ lên
giá. Chính phủ cũng có thể bù giá cho một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu để
phục vụ nhu cầu phát triển đất nước, tăng cầu ngoại tệ, nội tệ giảm giá.
Ngoài các công cụ gián tiếp thông dụng nêu trên, trong từng thời kì, với các
nước đang phát triển, chính phủ còn có thể áp dụng các biện pháp cá biệt như:
- Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các Ngân hàng
thương mại: Khi ngoại tệ khan hiếm trên thị trường ngoại hối, NHTW có thể
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với vốn huy động bằng ngoại tệ của các NHTM,
làm cho chi phí sử dụng vốn ngoại tệ tăng; để kinh doanh có lãi, buộc các
NHTM phải hạ lãi suất huy động bằng ngoại tệ, do đó việc nắm giữ ngoại tệ trở
nên kém hấp dẫn so với việc nắm giữ nội tệ, những nhà đầu tư đang sở hữu
ngoại tệ sẽ chuyển sang nội tệ, làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối,
nội tệ lên giá.
- Quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ,
nhà đầu tư sẽ cân nhắc và chuyển đổi ngoại tệ để đầu tư vào nội tệ với mức lãi
suất cao hơn, từ đó góp phần cải thiện cung ngoại tệ, nội tệ sẽ lên giá.
- Quy định trạng thái ngoại tệ đối với Ngân hàng thương mại: ngoài mục
đích chính là phòng ngừa rủi ro tỷ giá, biện pháp này còn có tác dụng hạn chế
cơ chế xác định và điều tiết tỷ giá của một quốc gia tạo nên một cơ chế tỷ giá của
quốc gia này.
Vì chứa đựng những yếu tố chủ quan, nên chế độ tỷ giá của một quốc gia
có thể thay đổi từ thời gian này sang thời gian khác, và chế độ tỷ giá giữa các
quốc gia cũng thường khác nhau. Tuy nhiên, trong thực tiễn các quốc gia cũng
thường có những sự hợp tác nhất định trong việc điều tiết tỷ giá.
Ở phạm vị của khóa luận này, em chỉ phân loại tỷ giá theo nghĩa hẹp là các
chế độ tỷ giá theo can thiệp tới đâu của NHTW, tức là phân loại theo cơ chế điều
hành. Có thể nêu ra ba chế độ tỷ giá đặc trưng: Chế độ tỷ giá cố định, chế độ tỷ
giá thả nổi hoàn toàn và chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết.
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
12
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
1.2.4.1 Chế độ tỷ giá cố định
Là chế độ tỷ giá, trong đó NHTW công bố và cam kết can thiệp để duy trì
một mức tỷ giá nhất định, gọi là tỷ giá trung tâm, trong một biên độ hẹp định
trước. Như vậy, trong chế độ tỷ giá cố định, NHTW buộc phải mua vào hay bán
ra đồng nội tệ trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì cố định tỷ giá trung tâm và
duy trì sự biến động của nó trong một biên độ hẹp đã định trước. Để tiến hành
can thiệp trên thị trường ngoại hối đòi hỏi NHTW phải luôn sẵn có nguồn dự trữ
ngoại hối nhất định. Do mỗi đồng tiền quốc gia đều có tỷ giá với các đồng tiền
khác, do đó, tỷ giá của một đồng tiền có thể được thả nổi với đồng tiền này
nhưng lại được cố định với một đồng tiền khác.
Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định:
- Tỷ giá hối đoái cố định bền vững sẽ góp phần ổn định giá cả trong nước
và ổn định nền kinh tế.
- Tỷ giá cố định giúp các doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch và tính toán
giá, thúc đẩy đầu tư và thương mại quốc tế do kết quả kinh doanh chắc chắn hơn và
hạn chế các rủi ro trong giao dịch quốc tế do biến động của tỷ giá gây nên.
- Chế độ tỷ giá cố định không khuyến khích sự luân chuyển vốn vào hoặc
cố định tỷ giá.
Chế độ này chỉ tồn tại trên lý thuyết, thực tế Chính phủ ít nhiều sẽ có can
thiệp trước sự biến động bất thường của tỷ giá nhưng sự can thiệp này là tùy ý và
không đặt ra bất kì mục tiêu cụ thể nào phải đạt được.
Ưu điểm của chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn:
- Đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán: Do được thả nổi nên tỷ giá luôn
được điều chỉnh để đảm bảo cân bằng thường xuyên trong cung cầu tiền tệ trên
thị trường ngoại hối. Nói cách khác, tỷ giá thả nổi bảo đảm cân bằng giữa cung
và cầu của một đồng tiền; trong đó nếu dư cầu thì đồng tiền lên giá, nếu dư cung
thì đồng tiền giảm giá.
- Đảm bảo tính độc lập của chính sách tiền tệ: các quốc gia có thể thực thi
chính sách tiền tệ độc lập theo quan điểm riêng, tự xác định mức lạm phát tùy ý
phù hợp với hoàn cảnh cụ thể riêng của mình.
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
14
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
- Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn cho phép nền kinh tế tránh được những cú
sốc về giá cả từ bên ngoài.
Nhược điểm của chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn:
- Nhược điểm của chế độ tỷ giá này là tính không ổn định: tỷ giá thường
xuyên biến động thất thường, gây ra sự tăng giá hoặc giảm giá đồng nội tệ khó
dự đoán được, dẫn đến mất ổn định nền kinh tế và cản trở khả năng kiểm soát
quá trình phát triển và tăng trưởng của Chính phủ.
1.2.4.3. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết
Khác với chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết
tồn tại khi NHTW tiến hành can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối nhằm
duy trì tỷ giá biến động trong một vùng nhất định, nhưng NHTW không cam kết
duy trì một tỷ giá cố định hay một biên độ dao động hẹp xung quanh tỷ giá trung
tâm. Chẳng hạn, NHTW không công bố và không cam kết duy trì một mức tỷ giá
cố định nào, nhưng cam kết can thiệp vào tỷ giá ngày hôm nay chỉ biến động
đẩy sản xuất phát triển. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đến lượt nó lại tạo ra những
lợi thế so sánh mới của một nước và thúc đẩy ngoại thương phát triển. Xuất khẩu
còn có vai trò to lớn trong việc tăng cường hợp tác quốc tế, phát triển kinh tế đối
ngoại và tăng cường địa vị kinh tế của một nước trên thị trường thế giới.
Hoạt động xuất nhập khẩu có vai trò chặt chẽ với nhau, chúng vừa là kết
quả vừa là tiền đề của nhau. Nếu xuất khẩu được coi là nhân tố quan trọng để
phát triển kinh tế xã hội thì nhập khẩu chính là công cụ để thực hiện vai trò đó.
Có thể nói, nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất kinh doanh thương mại
nói chung, ngoại thương nói riêng, thông qua việc đổi mới trang thiết bị, công
nghệ sản xuất và cung cấp các nguồn lực mà một nước khan hiếm.
1.3.2 Tỷ giá và sức cạnh tranh thương mại quốc tế
Những nhà hoạch định chính sách và những nhà kinh tế rất quan tâm phân
tích ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá lên CCTM. Tỷ giá danh nghĩa tự nó không
phản ánh được nhiều thông tin. Do đó, để phân tích những ảnh hưởng và nội
dung bao hàm trong thay đổi tỷ giá, những nhà kinh tế đã kết hợp phân tích tỷ
giá danh nghĩa, tỷ giá thực và tỷ giá trung bình.
Sức cạnh tranh thương mại quốc tế của một quốc gia trong khóa luận này
được hiểu là: Khi khối lượng hàng hóa xuất khẩu tăng và khối lượng hàng hóa nhập
Đoàn Phương Thảo Lớp: TTQTD - K10
16
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
khẩu giảm, thì ta nói sức cạnh tranh thương mại quốc tế được cải thiện. Khi khối
lượng xuất khẩu giảm và khối lượng nhập khẩu tăng, thì sức cạnh tranh thương mại
quốc tế bị xói mòn. Như vậy, sức cạnh tranh thương mại quốc tế ở đây chỉ liên quan
đến mặt khối lượng xuất nhập khẩu mà chưa đền cập đến giá trị của chúng.
1.3.2.1 Tỷ giá danh nghĩa song phương
Tỷ giá danh nghĩa song phương chính là tỷ lệ trao đổi số lượng tuyệt đối
giữa hai đồng tiền, là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong các giao dịch trên thị
trường ngoại hối. Hay nói cách khác, tỷ giá danh nghĩa song phương là giá cả
của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác mà chưa đề cập
Học viện ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
- Nếu E
R
> 1, tức EP* > P, thì nội tệ được coi là định giá thực thấp và ngoại
tệ được coi là định giá thực cao. Nghĩa là nếu chuyển đổi mỗi đồng nội tệ sang
ngoại tệ theo tỷ giá danh nghĩa E thì chúng ta chỉ mua được ít hàng hóa ở nước
ngoài hơn so với ở trong nước. Và ngược lại…Do đó, khi đồng tiền được định
giá thực thấp sẽ giúp cải thiện sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia
có đồng tiền này xét về phương diện giá cả.
- Nếu E
R
< 1, tức EP* < P, thì nội tệ được coi là định giá thực cao và ngoại
tệ được coi là định giá thực thấp. Vì vậy đồng tiền được định giá thực quá cao sẽ
làm cho sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia có đồng tiền này bị xói
mòn xét về phương diện giá cả.
* Xét ở trạng thái động:
- Nếu tỷ giá thực tăng, có tác dụng kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế
nhập khẩu, giúp cải thiện CCVL.
- Nếu tỷ giá thực giảm, có kích thích tăng nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu,
sức cạnh tranh thương mại bị xói mòn, CCVL trở nên xấu hơn.
- Nếu tỷ giá thực không đổi thì trạng thái CCVL là không đổi.
Trong thực tế, để quan sát được sự thay đổi của tỷ giá thực, người ta
thường biểu diễn ở dạng chỉ số như sau:
e
Rt
= e
i
.
CPI
CPI *
.
Trong đó NEER: là tỷ giá danh nghĩa đa phương; e
ij
: chỉ số tỷ giá danh
nghĩa song phương; w
j
: tỷ trọng của tỷ giá song phương; j: số thứ tự của các tỷ
giá song phương (j = 1,n); i: kì tính toán (I = 1,n).
Vì NEER là số trung bình của các chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương, cho
nên nó cũng thuộc loại tỷ giá danh nghĩa do đó, khi NEER thay đổi, không nhất
thiết phải tác động đến CCTM. Chính vì vậy, để biết tương quan sức mua giữa nội
tệ và các đồng tiền còn lại ta phải dùng đến khái niệm tỷ giá thực đa biên (REER).
1.3.2.4 Tỷ giá thực đa phương (Real effective exchange rate – REER)
Tỷ giá thực đa phương REER được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đa
phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước của nội tệ và ở tất cả
các nước còn lại, do đó nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả
các đồng tiền còn lại.
Để tính được REER ta tiến hành các bước:
Bước 1: Tính tỷ giá NEER (như đã trình bảy ở trên)
Bước 2: Tính chỉ số lạm phát trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ
theo tỷ trọng GDP của mỗi nước.
Bước 3: Tính REER theo công thức:
REER
i
= NEER
i
.
i
W
i