Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Nha Trang bằng phương pháp khảo sát dùng bảng câu hỏi - Pdf 25


i PHẠM THỊ TUYỀN ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, KĨ NĂNG VÀ THÁI ĐỘ VỀ
AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA NGƯ DÂN TẠI NHA TRANG
BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT DÙNG BẢNG CÂU HỎI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN GVHD : TS. NGUYỄN THUẦN ANH

Nha Trang, tháng 07 năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
o0o

i

1.1. Tình hình an toàn thực phẩm thủy sản trong nước 2
1.2. Tổng quan chuỗi cúng ứng thủy sản Viêt Nam 5
1.2.1. Vị thế chuỗi cung ứng thủy sản Việt Nam trên thế giới 5
1.2.2. Tình hình chuỗi cung ứng thủy sản ở Việt Nam 6
1.3. Tình hình hoạt động khai thác thủy sản tại tỉnh Khánh Hòa 11
1.4. Tình hình hoạt động các cảng cá ở thành phố Nha Trang 18
1.5. Tình hình hoạt động khai thác tại các cảng cá thành phố Nha Trang 19
1.6. Tổng quan về phương pháp khảo sát dùng bảng câu hỏi 24
1.6.1. Giới thiệu về phương pháp khảo sát dùng bảng câu hỏi 24
1.6.2. Phương phỏng vấn trực tiếp (Personal interview) 25
1.6.2.1. Ưu nhược điểm của phương pháp 25
1.6.2.2. Những điều cần lưu ý trong quá trình phỏng vấn 26
1.7. Tổng quan các công cụ quản lý chất lượng 26
1.7.1. Bảy công cụ quản lý chất lượng 26
1.7.2. Biểu đồ nhân quả ( Cause and Effect Diagram) 28
1.7.2.1. Giới thiệu về biểu đồ nhân quả 28
1.7.2.2. Cách thành lập biểu đồ xương cá 29
1.7.2.3. Ứng dụng của biểu đồ nhân quả 30
1.7.2.4. Ưu và nhược điểm của biểu đồ xương cá 31
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 32
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32

iii
2.2. Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1. Nội dung nghiên cứu 32
2.2.2. Đánh giá điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm 34
2.2.2.1. Phương pháp nghiên cứu đánh giá 34
2.2.2.2. Lấy mẫu 34
2.2.3. Đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ về vấn đề ATTP của ngư dân
tại Nha Trang 34

Doanh nghiệp
DNCBTS
Doanh nghiệp chế biến thủy sản
DNVN
Doanh nghiệp Việt Nam
EU
Liên minh châu Âu
VSV Vi Sinh Vật
HTX
Hợp tác xã
NAFIQAD
Cục Quản lý chất Nông Lâm Sản và Thủy sản
SSOP
Quy phạm vệ sinh
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
XNK
Xuất nhập khẩu v

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Cơ cấu phân bố tàu thuyền tại tỉnh Khánh Hòa năm 2013 11
Bảng 1.2: Đặc điểm các loại hình nghề khai thác 13
Bảng 1.3: Cơ cấu nghề khai thác hải sản theo công suất ở tỉnh Khánh Hòa 17
Bảng 1.4: Cơ cấu phân bố tàu thuyền theo công suất tại thành phố Nha Trang 19

Hình 3.10. Kết quả ý thức tiếp xúc với hải sản khi bị đứt tay hoặc vết bỏng có
mủ trên tay và cổ tay 47
Hình 3.11. Kết quả điều tra kiến thức của ngư dân về hoạt động của VSV khi
nguyên kiệu được bảo quản bằng nước đá 49
Hình 3.12. Kết quả điều tra kiến thức của ngư dân về biểu hiện hải bị hư hỏng
do vi khuẩn 50
Hình 3.13. kết quả điều tra kiến thức của ngư dân về khả năng phát triển của
VSV gây bệnh trong nguyên liệu về hiệt độ môi trường và thời gian dài 50
Hình 3.14. Kết quả điều tra hiểu biết của ngư dân về sự phát triển của VSV ở
nhiệt độ thường 51

vii
Hình 3.15. Kết quả điều tra kiến thức sử dụng nhiệt độ tốt nhất để bảo quản
nguyên liệu hải sản của ngư dân 52
Hình 3.16. Kết quả điều tra kiến thức kiểm tra nhiệt độ bảo quản nguyên liệu
hải của ngư dân 53
Hình 3.17. Kết quả điều tra kiến thức rửa tay giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm
VSV đối với nguyên liệu hải sản của ngư dân 54
Hình 3.18. Kết quả điều tra kiến thức của ngư dân khi bị bệnh ngoài da 55
Hình 3.19. Kết quả điều tra kiến thức nước đá không sạch có khả năng lây
nhiễm VSV có hại đến nguyên liệu hải sản 56
Hình 3.20. Kết quả điều tra kiến bảo quản nguyên liệu hải sản của ngư dân 56
Bảng 3.21. Kết quả điều tra kiến thức sử dụng chất hóa chất/ chất kháng sinh
để bảo quản nguyên liệu của ngư dân 57
Hình 3.22. Kết quả điều tra kĩ năng vệ sinh của ngư dân trước khi tiếp xúc với
nguyên liệu hải sản 58
Hình 3.23. Kết quả điều tra kĩ năng vệ sinh của ngư dân sau khi tiếp xúc với
nguyên liệu hải sản 59
Hình 3.24. Kết quả điều tra kĩ năng vệ sinh tay của ngư dân sau khi chạm vào
tai, tóc, mủi 60
1

LỜI MỞ ĐẦU
Với đường bờ biển dài 3.200 km; Việt Nam có vùng đặt quyền kinh tế trên
biển rộng 1 triệu km
2
. Vị trí địa lý thuận lợi giúp Việt Nam có lợi thế thuận lợi để
phát triển ngành khai thác thủy sản, góp phần thúc đẩy ngành thủy sản trở thành
một ngành kinh tế mũi nhọn, một ngành sản xuất hàng hóa lớn, đi đầu trong hội
nhập kinh tế quốc tế. Năm 2011, tổng sản lượng thủy sản đạt trên 5,2 triệu tấn (tăng
gấp 5,1 lần so với năm 1990, bình quân tăng 8,49%/năm), trong đó sản lượng khai
thác thủy sản đạt trên 2,2 triệu tấn (tăng gấp 3,1 lần so với năm 1990, bình quân
tăng 5,83%/năm). Sản lượng khai thác thủy sản ngày càng tăng nhưng chất lượng
sản phẩm thu hoạch của các tàu khai thác xa bờ còn ít được cải thiện. Ngày nay,
nhu cầu sản phẩm đạt chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm là nhu cầu cấp thiết.
Đặt biệt là các sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Châu Âu, Bắc mỹ và Nhật Bản
đòi hỏi phải đáp ứng các nhu cấu khắc khe về chất lượng.
Đứng trước tình hình đó thì việc tìm ra nguyên nhân cụ thể gây ra vấn đề
không đảm bảo an toàn thực phẩm cho các sản phẩm sau thu hoạch của các tàu khai
thác xa bờ là vô cùng quan trọng. Hiện nay, đa số các tàu khai thác xa bờ của nước
ta vẫn chưa được trang bị thiết bị bảo quản lạnh thích hợp cho việc khai thác dài
ngày trên biển đồng thời hoạt động khai thác của ngư dân trong những chuyến đí
biển vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm trên các
tàu khai thác là rất cao. Được sự phân công của Khoa công nghệ thực phẩm tôi đã
thực hiện đề tài: “Đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của
ngư dân tại Nha Trang bằng phương pháp khảo sát dùng bảng câu hỏi” với các nội
dung thực hiện đề tài bao gồm:
1. Đánh giá điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tại các cảng cá tại Nha Trang

Năm 2012, đoàn thanh tra EU đã chuyến thanh tra hệ thống kiểm soát chất
lượng chỉ các lỗi tồn tại liên quan đến điều kiện vệ sinh của các cơ sở chế biến (tàu
cá, cảng cá, các cơ sở nước đá, thu mua nguyên liệu thủy sản,…) cần phải tiếp tục
cải thiện, đáp ứng điều kiện của EU. Nhằm thực hiện các khuyến cáo của Đoàn
3

thanh tra EU, NAFIQAD đề nghị các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh,
địa phương tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phổ biến, đào tạo, tập huấn
cho chủ tàu, cán bộ quản lý cảng cá, cơ sở nuôi, cơ sở thu mua kiến thức về đảm
bảo ATTP góp phần nâng cao chất lượng thủy sản nước ta 1].
Hiện nay, đa số các tàu đánh cá ở Việt Nam vẫn tiến hành bảo quản thủy sản
trên tàu chủ yếu vẫn bằng cách ướp đá lạnh (nhiệt độ của cá dao động trong khoảng
0-5
0
C, thời gian bảo quản cho phép 5-10 ngày). Đặt biệt, các tàu khai thác xa bờ
chủ yếu sử dụng phương pháp này để bảo quản nguyên liệu trong những chuyến đi
biển dài ngày. Trong điều kiện cơ sở hạ tầng tàu cá không đảm bảo kết hợp với
phương pháp bảo quản lạc hậu thì việc đảm bảo chất lượng là rất khó khăn. 5].
Còn đối với việc tiêu thụ sản phẩm đến tay người tiêu dùng cũng diễn ra rất
là phức tạp, nguy cơ gây mất ATTP là rất cao. Từ các mặt hàng hải sản tươi sống
được bày bán dàn trải, tự phát cho đến những mặt hàng sản phẩm thủy sản được
bày bán trong siêu thị, các cơ sở mua bán hải sản đều không được quản lý và kiểm
soát chặt chẽ. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp chế biến thủy sản chỉ đang chú
trọng chất lượng sản phẩm suất khẩu để đáp ứng các yêu cầu của thị trường nhập
khẩu mà xem nhẹ thị trường nội địa.
Tình hình an toàn thực phẩm thủy sản ngày càng khó kiểm soát trong khi
việc nghiên cứu đánh giá về vấn đề này ít được quan tâm. Hiện nay, tại các chợ cá
của Việt Nam việc xử lý và bảo quản nguyên liệu đều không đảm bảo vệ sinh, mức
độ lây nhiễm VSV tại các chợ là rất cao. Dẫn chứng cụ thể:
Khi nghiên cứu kiểm tra các mẫu tôm, cua, sò, hến bán lẻ tại thị trường

Nhìn chung tình hình an toàn thực phẩm hải sản từ khâu khai tác cho đến
khâu trung gian lưu thông đến người tiêu dùng khắp các tỉnh thành phố ở Việt Nam
ngày càng phức tạp và khó kiểm soát trong khi các cơ quan chức năng vẫn chưa có
sự quan tâm thích đáng.
5

1.2. Tổng quan chuỗi cúng ứng thủy sản Viêt Nam
1.2.1. Vị thế chuỗi cung ứng thủy sản Việt Nam trên thế giới
Nói đến các quốc gia có kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn trên thế giới thì
không thể không nhắc tới Việt Nam với những thành tích khá ấn tượng khi đã vươn
lên đứng vị trí thứ 5 về xuất khẩu thuỷ sản trên thế giới, đứng thứ 3 về sản lượng
nuôi trồng thuỷ sản (NTTS), và đứng thứ 13 về sản lượng khai thác hải sản (KTTS),
ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong nghề cá thế giới. Bởi vậy, với vị trí và
tầm quan trọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào cho người cung ứng
trên toàn thế giới thì việc xem xét quản trị chuỗi cung ứng thủy sản Việt Nam đến
tay người tiêu dùng trên thế giới như thế nào là vô cùng quan trọng, vì nó không
những ảnh hưởng đến lợi ích người tiêu dùng của nước nhập khẩu mà còn ảnh
hưởng đến nền kinh tế cũng như hình ảnh của quốc gia.
Dưới đây là sơ đồ chuỗi cung ứng thủy sản đánh bắt của Việt Nam trong
chuỗi cung ứng thủy sản thế giới:
(1) Người đánh bắt thủy sản → (2) Doanh nghiệp chế biến thủy sản
→ (3) Nhà nhâp khẩu quốc tế → (4) Hệ thống bán lẻ → (5) Người tiêu dùng
Trong sơ đồ trên, DNCBTS đứng vị trí thứ 2 trong chuỗi cung ứng, chỉ bán
sản phẩm với giá khoảng 25% đến tay người tiêu dùng. Trong chuỗi cung ứng toàn
cầu, vị trí thứ 2 thực ra là vô cùng quan trọng, nhưng cũng dễ dàng bị thay thế bởi
các nhà chế biến khác nếu gặp một số vấn đề như: sản phẩm của các DNCBTS Việt
Nam không độc quyền sản xuất; hoặc cùng một mặt hàng nhưng DNCBTS Việt
Nam bán giá cao hơn DN nước khác; hoặc khi các nước nhập khẩu có chính sách
chống bán phá giá, tăng thuế, tăng phí,… với hàng Việt Nam. Vì vậy, các DNCBTS
Việt Nam phải có chiến lược trong việc sản xuất các mặt hàng thủy hải sản phải thể

số mỗi cảng cá đều có các hạng mục: Bến đậu tàu, chợ cá và xưởng sản xuất nước
đá. Chính vì vậy các cảng là nơi cấp bến buôn bán và cung cấp dịch vụ, sửa chữa
tàu thuyền, cung cấp ngư cụ, nhiên liệu, bảo quản sản phẩm, đầu mối lưu thông và
phân phối các sản phẩm khác; là nơi quản lý tàu thuyền hoạt động khai thác, cung
cấp các thông tin về ngư trường, thiên tai, cứu nạn… Ngoài ra, cảng cá còn là một
7

mắt xích quan trọng kết nối tàu thuyền với những nơi cần sản phẩm khai thác thủy
sản tạo nên chuỗi cung ứng đưa sản phẩm khai thác đến người tiêu dùng cuối cùng,
cụ thể chuỗi cung ứng được thể hiện ở sơ đồ sau:
Hình 1.1. Sơ đồ chuỗi cung ứng thủy sản

Dựa vào hình 1.1 có thể thấy được luồng sản phẩm từ người đánh bắt đến
người tiêu dùng cuối cùng, sản phẩm hải sản đánh bắt đã được tăng thêm giá trị qua
rất nhiều khâu trung gian. Những người mua bán trung gian cũng đa chức năng và

được ít lợi ích nhất là ngư dân, những người giữ vị trí đầu tiên trong chuỗi cung
ứng. Có thể thấy được sự kém lợi thế của ngư dân, những người KTTS đơn thuần.
Do đặc thù nghề đánh bắt xa bờ là dể bị rủi ro về điều kiện tự nhiên, nguồn lợi và sự
biến động của thị trường; bị tác động xấu nhiều nhất từ cả ba yếu tố này, cộng thêm
sự không có tích lũy nên dễ dẫn đến việc vay vốn tiếp tục đầu tư sản xuất và lệ
thuộc vào các chủ NV là tất yếu. Vậy nên để đảm bảo cân bằng lợi ích các bên trong
chuỗi cung ứng, cụ thể ở đây là ngư dân và các chủ NV thì trước tiên phải giải
quyết các vấn đang tồn tại ảnh hưởng đến lợi ích của ngư dân.
Hiện nay, tình trạng các đội tàu khai thác xa bờ của khai thác dài ngày trên
biển trong điều kiện thiết bị và kỹ thuật bảo quản trên tàu còn thiếu nhưng công tác
các dịch vụ hậu cần nghề cá ở nước ta còn yếu do chưa hình thành nên hệ thống
cảng cá, bến cá và các dịch vụ nghề cá một cách hoàn chỉnh. Đa số các cảng hiện
nay được xây dựng chỉ mang tính chất cho tàu thuyền neo đậu, trong khi cảng cá,
bến cá là nơi cung cấp dịch vụ hậu cần cơ bản cho hoạt động khai thác hải sản của
ngư dân. Đối mặt với vấn đề này Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bản đề án quy
hoạch hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được
ngày 15 tháng 03 năm 2010 với mục tiêu là hệ thống cảng cá, bến cá sẽ được đầu tư
9

xây mới hoặc nâng cấp để đáp ứng yêu cầu của sản xuất, cải thiện việc thu sản
phẩm khai thác của ngư dân bị nậu vựa ép giá do độc quyền thu mua hoặc cạnh
tranh không lành mạnh.
Ngư dân tham gia đánh bắt thủy sản hiện đang được hưởng một số chính
sách hỗ trợ trực tiếp như: chính sách miễn thuế tài nguyên và giảm thuế trước bạ, hỗ
trợ tín dụng cho tàu khai thác xa bờ, hỗ trợ chi phí xăng dầu cho ngư dân, hỗ trợ
đóng mới tàu, mua máy mới và thay máy mới, hỗ trợ bảo hiểm thân vỏ và thuyền
viên. Nhưng nếu chỉ dùng lại ở các chính sách hỗ trợ thì vẫn chưa đủ khi nguồn lợi
ngày càng cạn kiệt và suy thoái do việc khai thác quá mức, việc đảm bảo sinh kế
cho ngư dân khó có thể thực hiện được. Trong khi đó Ngành thủy sản Việt Nam
mang tính chất quy mô nhỏ, manh mún, đa dạng, rộng khắp trên diện tích gần 1

sách phát triển khai thác hải sản, trong đó có các chính sách hỗ trợ. Các chính sách
hỗ trợ nêu trên, một mặt, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển khai thác hải sản,
mặt khác, tăng cường quản lý hoạt động khai thác trên biển, chú trọng phát triển
khai thác gắn với bảo vệ nguồn lợi và môi trường biển.
Theo chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2020, chính phủ chủ trương tiếp
tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động cùng với quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nghề cá, gắn với việc tổ chức lại sản xuất ngành thủy sản ở tất cả
các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, cơ khí hậu cần dịch vụ và chế biến thủy sản theo
chuỗi giá trị sản phẩm từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến tiêu thụ, nhằm nâng cao
hiệu quả tối ưu cho sản phẩm thủy sản Việt Nam. Định hướng phát triển nghề cá
miền Trung Việt Nam: chuyển đổi mạnh tàu khai thác ven bờ sang khai thác xa bờ
và khai thác viễn dương; xây dựng các mô hình khai thác, dịch vụ hậu cần khai thác
và dịch vụ công ích phù hợp với các ngư trường xa bờ; đầu tư cơ sở vật chất hậu
cần dịch vụ, công nghiệp cơ khí đóng, sửa tàu thuyền, sản xuất ngư lưới cụ; hình
thành các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá lớn (Đà Nẵng, Quy Nhơn, Khánh Hòa
và Bình Thuận), xem xét nâng cấp và đầu tư một số cảng cá loại I thành cảng cá
quốc tế sau năm 2012 để phục vụ hoạt động thủy sản và hội nhập với nghề cá các
nước trong khu vực và thế giới. Đầu tư xây dựng các tàu chế biến, hậu cần dịch vụ
phục vụ nghề câu cá ngừ đại dương để nâng cao hiệu quả khai thác và chất lượng
sản phẩm cá ngừ đại dương 6].
11

1.3. Tình hình hoạt động khai thác thủy sản tại tỉnh Khánh Hòa
Khánh Hòa được biết đến là trung tâm thương mại nghề cá có tầm cỡ ở khu
vực Nam Trung bộ; là căn cứ hậu cần của các tàu đánh bắt trong tỉnh và các vùng
lân cận; nơi tiếp nhận, phân phối nguyên liệu thủy sản số lượng lớn cho các nhà
máy chế biến và tiêu thụ nội địa; cung ứng đầy đủ các dịch vụ hậu cần nghề cá đảm
bảo chất lượng, uy tín cho tàu thuyền và hoạt động của ngư dân trong vùng. Đặc
biệt, chợ thủy sản Nam Trung bộ đã và đang thu hút một lượng thủy sản không nhỏ
về Khánh Hòa , góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp xuất khẩu thủy sản phát triển

Trong những năm gần đây, lĩnh vực khai thác hải sản đã có những bước phát
triển mạnh mẽ chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh, quy mô sản
xuất ngày càng được mở rộng. Hiện nay, việc đẩy mạnh khai thác xa bờ đang được
12

đầu tư và ứng dụng các công nghệ khai thác tiên tiến nhằm vào các đối tượng có giá
trị kinh tế cao như cá hố, cá nhám, cá ngừ đại dương, sản lượng khai thác hải sản
chủ yếu là cá nổi và cá tầng đáy. Các loại hình nghề cá cũng nhờ đó mà phát triển
với các đặt điểm rất khác nhau, tạo ra sự phong phú cho nghề cá Khánh Hòa. Các
đặc điểm của các loại hình nghề cá được thể hiện cụ thể ở bảng 1.2

13

13

Bảng 1.2: Đặc điểm các loại hình nghề khai thác
Phương tiện
Phân loại

Quy mô Dấu hiệu
Loại cá Ngư trường

Số
lượng
(người)

Đặc điểm lưới/lưỡi câu Thời gian

Câu khơi
(tiến hành

thể thay đổi tùy theo độ
sâu tầng nước cá di
chuyển.
Mồi câu là các loại cá nhỏ
như cá chuồn, cá nục được
móc vào lưỡi câu
Câu
Câu mực
(tiến hành
vào ban
đêm)
Tàu câu mực thường
chở theo 15 - 20
chiếc thuyền thúng
+đèn (thả trôi quanh
thúng thu hút mực)
Có các giỏ đựng
lưỡi câu, dây câu
đặt trước boong tàu

Các loại
mực ống
kích thước
lớn, sinh
sống ở vùng
biển khơi
Ngư trường
khơi cách bờ
từ hàng chục
đến hàng trăm


và đặt trước boong
tàu
nục lớn
Chủ yếu hải
phận Khánh
Hòa - Ninh
Thuận, vùng
biển Đông -
Tây Nam bộ
+Nghề cản bờ: cỡ 50mm;
+Nghề cản khơi: cỡ 30mm

- Chiều dài hàng chục
mét
Chiều rộng: 15 - 20m
năm.
Giả cá/ giã
cào đôi
Tàu : >90CV. Tàu thường có kí
hiệu chữ A
Cá mối, cá
phèn, cá mú,
cá đù, cá hố,
cá trác, cá
liệt, …
Đáy biển
tương đối
bằng phẳng,
độ sâu

Giã
Giả cào
bay/ lưới
quyét
Tàu: 90 - 400 Tàu thường có kí
hiệu chữ A
Tất cả các
loại hải sản
Từ gần bờ
cho đến xa
bờ.
14-15 Bộ lưới của giã cào bay có
chiều rộng 1,5-2 hải lý,
chiều dài thì tít tắp. Phía
dưới đáy được gắn những
dây xích sắt to đùng đủ
sức kéo cả giàn dưới quét
sát xuống đáy biển, có thể
lủi xuống tận lớp bùn để
Quanh năm

15

15

cào sạch những con ốc,
con ghẹ đang giấu mình
dưới đó.
Trủ bờ
1chiếc xuồng (8m -

40m). Mắt lưới rất dày
như lưới mùng
Tháng 3
đến thánh
9
Vây
rút
Lưới vây
ngày, lưới
vây đêm
Tàu: ≤ 155CV Thường trước tàu
có trụ bằng gỗ hình
vuông, có hình chữ
thập, thường tô
màu trắng hoặc
xanh
Các loài cá
tầng nổi
hoặc tầng
giữa như cá
nục, cá ngừ,
cá cơm, cá
ngân
Nơi có các
loài cá đi
thành đàn
lớn với kích
thước tương
đối đồng đều
và thuần

bơi
Các loại cá
nhỏ ven bờ
Các rạn gần
bờ
9-10
Mành chà
(hoạt động
vào ban
ngày)
Trên thuyền có
mang theo cây, lá,
… kết thành mảng
hay còn gọi là gốc
chà rạo.
loại cá nhỏ
như cá nục,
cá cơm, cá
sơn, cá chỉ
vàng
Các rạn gần
bờ
4-5
Mành pha
xúc
sử dụng ánh sáng
cực mạnh của
chùm đèn pha có
công suất từ
5.000W -

Các rạn gần
bờ
9-10
Vàng lưới mành có hình
thang, miệng lưới là đáy
lớn, có buộc chì tạo sức
chìm, dây giềng miệng có
thể dài hơn 100m.
Mùa chính
nghề mành
từ tháng
Hai đến
tháng Bảy
âm lịch,
mùa phụ từ
tháng 8
đến tháng
9 âm lịch.
Lưới
cước
Tàu: < 20CV Cá rựa, cá
hố, cá liệt,…

Đánh bắt
gần bờ
2-3 Lưới cước màu trắng.
Cao: 6m;
Dài: 300 – 400m
Mắt lưới: 3-4mm
Quanh năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status