BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC & MÔI TRƯỜNG
PHẠM THỊ THU HẰNG KHẢO SÁT QUY TRÌNH XỬ LÍ NƯỚC VÀ SỬ DỤNG
CHẾ PHẨM SINH HỌC NHẰM GIẢM THIỂU VI KHUẨN
VIBRIO TRONG SẢN XUẤT GIỐNG TÔM CHÂN TRẮNG
Ở CÔNG TY THỦY SẢN VINA - NINH THUẬN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG GVHD: TS. ĐỖ LÊ HỮU NAM
Nha Trang, tháng 06 năm 2013 i
LỜI CẢM ƠN
Kính gửi quý thầy cô, các anh chị em và các bạn sinh viên!
Để hoàn thành nội dung bản đồ án này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1. Tìm hiểu chung về cơ sở thực tập 3
1.1.1. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Ninh Thuận 3
1.1.2. Vài nét về Công ty Thủy sản ViNa. 5
1.1.3. Tình hình sản xuất giống tôm nước lợ ở tỉnh Ninh Thuận và Công ty
Thủy sản ViNa 7
1.1.3.1. Tình hình sản xuất giống năm 2012 của tỉnh Ninh Thuận 7
1.1.3.2. Tình hình sản xuất giống năm 2012 của Công ty Thủy sản ViNa - Ninh
Thuận. 8
1.2. Một số quy trình xử lí nước và sử dụng chế phẩm sinh học tại các cơ sở sản
xuất tôm giống. 9
1.2.1. Quy trình xử lí nước. 9
1.2.2. Quy trình sử dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất giống 12
1.3. Vài nét về vi khuẩn Vibrio 14
1.3.1. Đặc điểm của vi khuẩn Vibrio 14
1.3.2. Phân loại: 15
1.3.3 Đặc điểm dịch tễ và những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhiễm bệnh do
Vibrio 15
1.3.3.1. Đặc điểm dịch tễ. 15
1.3.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhiễm bệnh do Vibrio 16
1.3.4. Một số bệnh do Vibrio gây ra trên tôm trên thế giới và Việt Nam 18
3.2.2. Quy trình xử lí nước trại tôm bố mẹ 37 iv
3.2.3. Quy trình xử lí nước ương nuôi ấu trùng. 37
3.3. Kết quả điều tra quy trình sử dụng chế phẩm sinh học trong quá trình sản xuất
tôm giống tôm chân trắng của Công ty Thủy sản ViNa. 38
3.3.1. Các loại chế phẩm sinh học sử dụng. 38
3.3.2. Quy trình sử dụng chế phẩm sinh học 41
3.4. Kết quả đánh giá quy trình xử lí nước và sử dụng chế phẩm sinh học của
Công ty Thủy sản ViNa 43
3.4.1. Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường và Vibrio trong sản xuất giống
tôm chân trắng của Công ty Thủy sản ViNa. 43
3.4.2. Kết quả đánh giá quy trình xử lí nước và sử dụng chế phẩm sinh học
trong sản xuất giống tôm chân trắng của Công ty Thủy sản ViNa. 45
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 48
4.1. Kết luận 48
4.2. Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Vị trí Ninh Thuận 3
Hình 1.2: Vị trí Công ty Thủy sản ViNa – Ninh Thuận. 5
Hình 1.3: Vibrio cholerae (A); Khuẩn lạc của Vibrio trên môi trường TCBS (B) 14
Hình 1.4: Khuẩn lạc Vibrio alginolyticus (A) Hình dạng vi khuẩn ở độ phóng đại
1000 lần (B) 15
Hình 1.5: Ảnh hưởng của tác nhân gây bệnh đối với tôm nuôi 17
Hình 1.6: Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus 18
Hình 1.7: Đuôi tôm sú bị phồng 19
Hình 1.8: Tôm giống bị bệnh đỏ thân (A); Tôm sú bị bệnh đỏ thân (B) 19
Hình 1.9: Ấu trùng tôm Sú bị bệnh phát sáng (A); Tôm Sú bị bệnh phát sáng (B) 20
Hình 1.10: Hình thái ngoài của tôm chân trắng 22
Hình 1.11: Vòng đời của Tôm chân trắng 23
Hình 1.12: Thời kì phôi 24
Hình 1.13: Giai đoạn Nauplius 24
Hình 1.14: Giai đoạn Zoea 25
Hình 1.15: Giai đoạn Mysis 25
Hình 1.16: Giai đoạn Postlarvae 26
Hình 1.17: Thời kì thiếu niên 27
Hình 1.18: Thời kì sắp trưởng thành 27
Hình 1.19: Thời kì trưởng thành 27
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 28
Hình 3.1: Tỷ lệ sống của tôm qua nhóm chế phẩm sinh học mà các trại sử dụng. 42
Hiện nay, tôm chân trắng là một trong những đối tượng nuôi quan trọng nhất của
nghề nuôi tôm trên thế giới. Là đối tượng có giá trị kinh tế và nhu cầu cao trên thị
trường. Được sự cho phép của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, tôm chân
trắng đã được nuôi thử nghiệm ở nước ta từ năm 2001 [12]. Và đến nay thì phong
trào nuôi tôm chân trắng đã phát triển mạnh mẽ trên hầu hết khắp các tỉnh ven biển
mang lại lợi ích to lớn cho người dân cũng như tăng cao năng lực xuất khẩu của
Việt Nam.
Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng ngày càng nhanh diện tích nuôi, tình hình dịch
bệnh của tôm chân trắng diễn biến ngày càng phức tạp. Các bệnh thường gặp là
bệnh đốm trắng, hội chứng Taura, bệnh do vi khuẩn [12]. Một trong những tác
nhân gây bệnh đáng quan tâm hiện nay đó là bệnh do nhóm vi khuẩn Vibrio gây ra.
Chúng có thể gây bệnh qua tất cả các giai đoạn phát triển của tôm và được xem là
nguồn gốc gây thiệt hại nghiêm trọng không chỉ ngành nuôi tôm nói riêng mà còn
ảnh hưởng đến các loại giống thủy hải sản khác.
Việc xử lí nước và sử dụng chế phẩm sinh học hợp lí là một trong những khâu
quan trọng trong kĩ thuật ương giống nhằm giải quyết những vấn đề ô nhiễm trong
môi trường nuôi, tăng sức đề kháng cho tôm và khống chế dịch bệnh trong đó có
những bệnh do nhóm Vibrio gây ra.
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi xin thực hiện đề tài: “Khảo sát quy trình xử
lí nước và sử dụng chế phẩm sinh học nhằm giảm thiểu vi khuẩn Vibrio trong
sản xuất giống tôm chân trắng ở Công ty Thủy sản ViNa - Ninh Thuận”.
Mục tiêu.
Đánh giá được quá trình xử lí nước và sử dụng chế phẩm sinh học nhằm giảm
thiểu vi khuẩn Vibrio trong sản xuất giống tôm chân trắng ở các trại giống của Công
ty Thủy sản ViNa - Ninh Thuận. 2
3 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Tìm hiểu chung về cơ sở thực tập.
1.1.1. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Ninh Thuận
Vị trí địa lí.
Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, lãnh thổ nằm trong tọa độ từ
11° 18’ 14'' - 12° 09’ 15'' vĩ Bắc và 108° 09’ 08'' - 109°14’ 25'' kinh Đông, phía Bắc
giáp tỉnh Khánh Hoà, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm
Đồng, phía Đông giáp biển. Tỉnh có đường bờ biển dài 105 km và vùng lãnh hải
rộng hàng chục nghìn km
2
.
Hình 1.1. Vị trí Ninh Thuận
Tỉnh nằm giữa 3 trục đường giao thông chính là: quốc lộ 1A, quốc lộ 27 và
đường sắt Bắc Nam. Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là đầu mối giao thông
quan trọng trong khu vực, cách cảng Cam Ranh 50 km, cách thành phố Nha Trang
105 km về phía Bắc, cách thành phố Phan Thiết 150 km, cách thành phố Hồ Chí
Đặc điểm khí hậu Ninh Thuận gây ra nhiều khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất,
nhưng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho một số cây trồng vật nuôi đặc sản có giá trị
kinh tế cao như: nho, mía, thuốc lá, hành, tỏi, bò, dê
Ninh Thuận có nhiều sông, suối, tổng diện tích lưu vực các sông chính là 3.600
km
2
, tổng chiều dài các sông suối là 430 km, bao gồm hai hệ thống sông chính là:
Hệ thống sông Cái ở phía Nam: lớn nhất tỉnh, bao gồm sông Cái và các sông
nhánh như: sông Trà Co, sông Sắt, sông Cho Mo, sông Dầu, sông Than, sông
Quao, sông Lu với tổng chiều dài là 246 km, tổng diện tích lưu vực là 1.929,5
km
2
.
Phía Bắc tỉnh có các sông ngắn, bắt nguồn và kết thúc trong lãnh thổ tỉnh như:
sông Trâu, sông Bà Râu, sông Quán Thẻ
Nhìn chung, hệ thống sông suối có lưu vực nhỏ, sông hẹp và ngắn. Nguồn nước
phân bố không đều theo thời gian và không gian, tập trung chủ yếu ở khu vực phía
Nam và vùng trung tâm của tỉnh, khu vực phía Bắc và vùng ven biển thiếu nước
5 nghiêm trọng. Nguồn nước ngầm chỉ bằng 1/3 mức bình quân cả nước, lại bị
nhiễm mặn, nhiễm phèn, nên việc khai thác gặp nhiều khó khăn.
1.1.2. Vài nét về Công ty Thủy sản ViNa.
Vị trí địa lí:
Công ty Thủy sản ViNa tên đầy đủ là Công ty TNHH sản xuất và ứng dụng công
nghệ thuỷ sản VINA nằm ở Thôn Khánh Nhơn, Xã Nhơn Hải, Huyện Ninh Hải,
Tỉnh Ninh Thuận, cách thành phố Phan Rang 15km về phía Bắc. Cùng với sự phát
triển của thành phố du lịch Phan Rang, đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
của công ty.
Kinh doanh thức ăn vật tư nuôi trồng thuỷ sản.
Liên kết ứng dụng các thành tựu khoa học và chuyển giao công nghệ sản xuất
giống thuỷ sản nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
Liên kết và hợp tác với Trường Đại học Vinh trong công tác đào tạo kỹ sư
nghành nuôi trồng thuỷ sản, tổ chức các đợt thực tập rèn nghề và thực tập tốt
nghiệp cho sinh viên ngành nuôi trồng thuỷ sản, đồng thời cung cấp nguồn nhân
lực quan trọng cho công ty.
Cơ sở vật chất của công ty:
Công ty Thủy sản ViNa được thành lập vào cuối năm 2008 với tổng diện tích
mặt bằng là 1,5ha.
Hệ thống trại nuôi gồm:
Có 19 trại đặt tại công ty với số lượng 266 bể x 6m
3
/bể.
Có 8 trại đặt ở Bình Thuận với số lượng 112 bể x 6m
3
/bể.
Công suất thiết kế: 1,5 tỷ giống tôm Thẻ/năm.
1,0 tỷ giống tôm Sú/năm.
Hệ thống cơ sở vật chất:
Khu nhà ở: Năm 2010, công ty đã có những đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất của
công ty. Từ hệ thống nhà ở đến hệ thống trại nuôi, nhà kho, văn phòng công ty.
Hệ thống nhà ở được trang bị khá đầy đủ các thiết bị phục vụ cho nhu cầu sinh
năm
2012
Kế hoạch
2012
So
sánh
2011
1 Tôm sú giống 210 cơ sở 4,5 tỷ 4,5 tỷ 82 82
2 Tôm thẻ giống 86 cơ sở 10,0 tỷ 12,0 tỷ 150 167
Tôm sú giống:
Đầu năm 2012 toàn tỉnh có khoảng 210 cơ sở hoạt động sản xuất tôm sú, nhưng
do chuyển đổi đối tượng nuôi tôm thương phẩm tại khu vực miền Tây nên đến giữa
năm nhiều cơ sở chuyển sang sản xuất giống tôm thẻ, cuối năm chỉ còn khoảng 50
cơ sở hoạt động sản xuất tôm sú. Sản lượng giống tôm sú sản xuất được trong năm
là 4,5 tỷ con poslarvae, đạt 82 % so kế hoạch và so với năm 2011. Nhìn chung hoạt
động sản xuất tôm sú trong năm gặp khó khăn, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu,
chất lượng nước nuôi ngày càng ô nhiễm nên hiệu quả sản xuất không cao, phần lớn
8 diện tích thả nuôi tại khu vực miền Tây chuyển sang nuôi tôm thẻ nên nhu cầu con
giống giảm, sản lượng sản xuất không đạt kế hoạch đề ra.
Ngoài một số cơ sở đầu tư nâng cấp trang thiết bị thì phần lớn các cơ sở sản xuất
tôm sú mang tính sản xuất nhỏ lẻ, đầu ra không ổn định, khả năng phán đoán thị
trường và cạnh tranh không cao nên chủ yếu làm vệ tinh cho các cơ sở lớn gây khó
khăn cho công tác quản lý. Giá bán các cơ sở nhỏ lẻ dao động 20 - 40 đ/ con, riêng
các doanh nghiệp lớn có chương trình phát triển thị trường tốt giá bán ở mức cao,
dao động 60 - 80 đ/ con.
Tôm chân trắng:
giống
Indonesia,
Singapo.
700 cặp 19 trại
266
bể
430triệu
9 Nắm bắt được nhu cầu sản xuất, từ năm 2011 công ty đã chuyển đổi đối tượng
nuôi từ tôm Sú sang tôm chân trắng nên số trại sản xuất tôm chân trắng tăng lên.
Đến năm 2012, công ty có 19 trại sản xuất tôm thẻ chân trắng với sản lượng 430
triệu con giống tăng 187% so với năm 2011và 8 trại sản xuất tôm Sú với sản lượng
đạt 70 triệu con giống giảm 44% so với năm 2011.
Nguồn gốc tôm bố mẹ được công ty cân nhắc và tuyển chọn kỹ lưỡng từ các công ty
và tập đoàn chuyên gia hóa tôm bố mẹ tốt nhất có nguồn gốc từ Hawai (như công ty
Shimp Improvement Systems, Tập đoàn Globalgen Indonesia…). Công ty đã sản xuất
thành công giống “ tôm thẻ chân trắng ” được đánh giá rất cao về chất lượng. Giá tôm
giống ở mức cao từ 50 – 80 đồng/con.Tình hình dịch bệnh: dịch bệnh xảy ra chủ yếu
vào tháng 4,7,8 và chỉ xảy ra ở 1 số trại, gây thiệt hại không lớn lắm.
1.2. Một số quy trình xử lí nước và sử dụng chế phẩm sinh học tại các cơ sở sản
xuất tôm giống.
1.2.1. Quy trình xử lí nước.
Để đảm bảo nguồn nước nuôi có chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện sinh
trưởng và phát triển của tôm nuôi thì việc xử lí nước đầu vào đóng một vai trò quan
trọng, ảnh hưởng đến sự thành bại của vụ tôm. Việc lựa chọn quy trình xử lí nước
tùy thuộc vào đặc điểm của nguồn nước (điều kiện xử lý thủy hóa, thủy sinh, mức
độ ô nhiễm) và điều kiện cơ sở vật chất của trại sản xuất.
2
S
2
O
2
.5H2O) để trung hòa, thiosunfat dưới ánh nắng mặt
trời và sục khí liên tục sẽ nhanh chóng tan trong nước. Khi nước đã hết Clorine A
thì bơm nước lên bể lọc thô chảy xuống bể chứa nước và lọc tinh, ở đây nước qua
bể lọc tinh được lọc sạch và đưa vào sản xuất.
Quy trình xử lí nước của Công ty TNHH đầu tư Thủy sản Nam Miền Trung
– tỉnh Bình Thuận [5]. Clorine
(48h)
Nước biển
Lọc thô Bể chứa Lọc tinh Bể chứa
Bể nuôi
Điều chỉnh
môi trường
Nước biển
Bể lắng Lọc thô Bể chứa Lọc tinh
Bể nuôi
Clorine 20ppm
(48h)
11
trong nước giúp cho ấu trùng tôm lột xác tốt hơn. Nước
qua hệ thống lọc cơ học rồi đi vào bể nuôi.
Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản – Trường Đại Học Nha Trang [16].
Nước biển bơm vào bể chứa lắng được xử lý bằng Chlorine nồng độ 50-70 ppm,
sau đó sục khí và phơi nắng khoảng 48 giờ cho hết mùi Chlorine.
Tiếp tục dùng thuốc tím nồng độ 1 ppm để xử lý.
Sục khí cho đến khi nước trong.
Nước biển
Bể chứa
Clorine
30ppm
(72h)
Thuốc tím
(72h)
Vôi (30g/m
3
)
Na
2
S
2
O
3
.5H
2
O
(20ppm)
Lọc thô
Bể nuôi
Lọc tinh
bộ chu kỳ sản xuất con giống. CPSH được sử dụng liên tục trong ao nuôi sẽ tạo ra
sự khác biệt đáng kể về chất lượng nước và khống chế nguồn bệnh lây lan.
Nước biển
Bể lắng
Clorin 50 -70ppm
(48h) Thuốc tím
1ppm
Bể lắng
Iodin 2ppm
(3h)
Bể lọc Bể chứa
Bể nuôi
13 CPSH có tác dụng tốt trong một hệ thống kín, lượng nước thay đổi không vượt
quá 20% đối với ao nuôi và không vượt quá 40% đối với bể giống (CPSH rất thích
hợp trong toàn bộ giai đoạn sản xuất giống PL).
Muốn sử dụng CPSH có hiệu quả người sử dụng cần phải tìm hiểu kỹ tác dụng
của CPSH cần đưa vào ao nuôi và phương pháp sử dụng đối với từng loại. Khi sử
dụng chế phẩm sinh học cần lưu ý:
Sử dụng đúng quy trình nhà sản xuất và theo định kì để duy trì mật độ vi khuẩn
có lợi trong ao nuôi.
Không sử dụng cùng với loại hóa chất và kháng sinh, vì sẽ làm chết các nhóm vi
sinh vật, do đó việc sử dụng chế phẩm sinh học không có hiệu quả.
Nếu đã sử dụng các hóa chất như thuốc tím tạt vào ao nuôi thì khoảng 2 – 3 ngày
sau nên sử dụng chế phẩm sinh học để khôi phục lại các nhóm vi sinh vật có lợi
nhóm vi sinh vật có lợi.
1.3. Vài nét về vi khuẩn Vibrio [17].
1.3.1. Đặc điểm của vi khuẩn Vibrio.
Vibrio có nguồn gốc từ “Vibrae” có nghĩa là dao động, gồm các vi khuẩn có dạng
que uốn cong, có dạng dấu phẩy, có một tiên mao. Phần lớn các loài Vibrio sống
hoại sinh chỉ một số ít có khả năng lây bệnh cho người. Vibrio cholerae (phẩy trùng
tả) gây bệnh cho người, có khả năng sống trong nước đến 3 tuần.
Một số chủng Vibrio có khả năng tiết hemolysine làm tan hồng cầu gây ngộ độc.
Chúng sống trong nước ấm và bùn lắng ở đầm hồ và vùng nước lợ ven biển, vi
khuẩn bám vào chitin của cua và các loại thân mềm, tồn tại trong thịt hay nội tạng
của tôm, cua… Đặc trưng của loài Vibrio là khả năng phát triển trong điều kiện pH
rất cao (8,5 – 9,5) và bị tiêu diệt nhanh ở môi trường acid. Hình 1.3: Vibrio cholerae (A); Khuẩn lạc của Vibrio trên môi trường TCBS (B) [17].
Đặc điểm chung các loài vi khuẩn thuộc giống Vibrio: Gram (-), hình que thẳng
hoặc hơi uốn cong, kích thước 0,3 – 0,5 x 1,4 – 2,6m. Chúng không sinh bào tử và
chuyển động nhờ một hay nhiều tiên mao mảnh nằm ở một đầu vi khuẩn.
Tất cả những loài vi khuẩn thuộc giống Vibrio đều là vi khuẩn kị khí tùy nghi,
TCBS là môi trường chọn lọc của Vibrio. Hầu hết các loài đều phát triển trong môi
trường nước, đặc biệt là nước biển và cửa sông. Ion Na
+
kích thích cho sự phát triển
của tất cả các loài Vibrio và nhiều loài là nhu cầu tuyệt đối. Hầu hết các mẫu phân
A
B
15 lập từ bệnh vỏ và viêm ruột của tôm trưởng thành đều gặp loài V.alginolyticus; V.
Oui, 1987; Songsrem, 1990; Ruangpan, 1997).
Ký chủ:
Hầu như các loài động vật thủy sản nuôi nước lợ, mặn đều có thể bị nhiễm và
chịu tác hại của bệnh Vibriosis như: các loài tôm he (Penaeus spp.) và tôm thẻ
(Metapenaeus spp.), các loài tôm hùm châu Mỹ (Homarus spp.) và tôm hùm châu Á
(Panulirus spp.), các loài cua biển như cua xanh, cua đá
Giai đoạn phát triển:
Bệnh có thể xảy ra ở các giai đoạn ấu trùng, hậu ấu trùng, ấu niên, cơ thể trưởng
thành, ở đàn bố mẹ của các loài tôm, cua Tuy vậy, tùy theo từng loại bệnh mà vi
khuẩn Vibrio có thể gây nặng ở giai đoạn này và nhẹ hơn ở giai đoạn kia. Ví dụ:
Bệnh phát sáng do Vibrio harveyi có thể xảy ra ở nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng
tác hại nặng nhất là giai đoạn tiền ấu trùng Zoae và Mysis.
Mùa vụ xuất hiện bệnh:
Mùa vụ xuất hiện bệnh do vi khuẩn Vibrio tùy thuộc theo loài và địa điểm nuôi.
Theo nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài và Việt Nam, Vibrio sp. tìm thấy
phổ biến trong nước biển và vùng ven bờ, trong bể ương ấu trùng, bể ương tảo và bể
ương Artemia. Nhìn chung vi khuẩn Vibrio phân chia cơ thể rất nhanh ở độ mặn 10
– 40‰ (phát triển tốt nhất ở độ mặn 20 – 30‰), lây lan nhanh ở nhiệt độ cao (mùa
nóng), phát triển nhanh ở nơi có nhiều chất hữu cơ, ôxy thấp và pH 7 – 9.
Trong bể ương lượng vi khuẩn Vibrio tăng theo thời gian nuôi, tầng đáy cao hơn
tầng mặt, do đó biện pháp kỹ thuật xiphong đáy có tác dụng giảm mật độ Vibrio
trong bể ương. Mật độ vi khuẩn Vibrio tăng nhanh rõ rệt khi thời tiết thay đổi, vào
các thời điểm biển động do bão, gió mùa hay áp thấp nhiệt đới (Đỗ Thị hòa, 1997)
hoặc theo con nước của thủy triều (nước cường, nước ròng).
1.3.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhiễm bệnh do Vibrio.
S.F. Snieszko (1974) đã giải thích mối quan hệ giữa tôm, mầm bệnh và môi
trường bằng sự giao nhau của 3 vòng tròn.
17
kích thích sự phát triển của Vibrio như nhiệt độ cao (lớn hơn 33
0
C, nhất là lớn hơn
35
0
C), độ mặn thay đổi đột ngột do mưa hoặc do thay nước, oxy thấp (nhỏ hơn
3mgO
2
/l), sự thay đổi pH lớn, độ trong nhỏ hơn 20cm.