BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
I HC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGH THC PHM
o0o
HUNH NH
TÌM HIU K THUM
TÔM TH CHÂN TRNG (Litopenaeus vannamei Boone, 1931)
S DNG CÔNG NGH BIOFLOC TI CÔNG TY TNHH
NGHIÊN CU VÀ SN XUT VIT
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
GVHD: ThS. TRẦN VĂN DŨNG
Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn tới các bạn học cùng lớp 52NTTS, những người
bạn thân luôn luôn giúp đỡ tôi về kiến thức và tạo động lực để hoàn thiện đề tài này.
Nha Trang, tháng 06 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Hunh ii
LI C i
MC LC ii
CHÚ THÍCH THUT NG VÀ CH VIT TT iv
DANH MC BNG v
DANH MC HÌNH vii
M U 8
4
1.1. Một số đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng 4
1.1.1. Hệ thống phân loại 4
1.1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo 4
1.1.3. Đặc điểm phân bố 5
1.1.4. Tập tính sống 5
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng 5
3.1.2. Kỹ thuật cải tạo ao 31
3.1.3. Cấp và xử lý nước 32
3.2. Kỹ thuật chọn giống và thả giống 33
3.2.1. Kỹ thuật chọn giống 33
3.2.2. Kỹ thuật thả giống 34
3.3. Kỹ thuật chăm sóc và quản lý ao nuôi 35
3.3.1. Quản lý thức ăn 35
3.3.2. Quản lý và sử dụng các thiết bị sục khí 41
3.3.3. Quản lý ao nuôi 42
3.3.4. Phòng và trị bệnh 50
3.3.5. Thu hoạch và sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế 52
T LU XUT Ý KIN 56
4.1. Kết luận 56
4.2. Đề xuất ý kiến 56
DANH MC TÀI LIU THAM KHO 58
PH LC 63
NHẬT KÍ MÔI TRƯỜNG AO NUÔI A13 63
NHẬT KÍ MÔI TRƯỜNG AO NUÔI A14 63
iv
CHÚ THÍCH THUẬT NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BKC : Benzalkonium Chloride - (C
6
H
5
CH
v
Bảng 1.1. Khả năng thích ứng với môi trường của tôm thẻ chân trắng [14] 6
Bảng 1.2. Bảng thống kê sản lượng thủy sản châu Á 8
Bảng 1.3. Kết quả nuôi tôm thẻ chân trắng ở một số tỉnh nước ta 10
Bảng 1.4. Tổng kết nuôi tôm thẻ chân trắng của nước ta từ 2005 đến 2013 11
Bảng 1.5. Sự chuyển hóa từ nước xanh sang nước nâu của hệ thống Biofloc 16
Bảng 1.6. Tóm tắt năng suất ước lượng của các hệ thống Biofloc 22
Bảng 1.7. Hệ thống nuôi tôm kiểm soát bởi vi khuẩn và tảo 23
Bảng 2.1. Các thiết bị đo thông số môi trường 27
Bảng 3.1. Nhận xét cải tạo khô và ướt 31
Bảng 3.2. Các yếu tố môi trường trước khi thả giống 34
Bảng 3.3. Thông số Post-larvae khi thả giống 34
Bảng 3.4. Thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn LOTUS 35
Bảng 3.5. Phụ gia, thuốc và công dụng của từng sản phẩm 36
Bảng 3.6. Chế độ ăn dưới 20 ngày tuổi trong ao 700.000 PL 37
Bảng 3.7. Chế độ cho ăn theo thời gian nuôi 38
Bảng 3.8. Lượng thức ăn cho vào sàng và thời gian kiểm tra sàng ăn 39
Bảng 3.9. Phương pháp điều chỉnh lượng thức ăn trong sàng ăn 39
Bảng 3.10. Khẩu phần ăn ao A13 40
Hình 3.2. Kết cấu ao nuôi 30
Hình 3.4. Cải tạo ao (phương pháp dọn bùn ướt) 31
Hình 3.3. Hệ thống cống xả và đường ống dẫn khí 34
Hình 3.5. Hóa chất xử lý nước ClO
2
32
Hình 3.6. Kiểm tra tôm giống (PL12) 33
Hình 3.7. Túi mẫu giống 33
Hình 3.8. Kiểm tra số lượng tôm 34
Hình 3.9. Thức ăn tôm 35
Hình 3.10. Một số loại thuốc dùng trong nuôi tôm 36
Hình 3.11. Sàng kiểm tra thức ăn 38
Hình 3.12. Thiết bị quạt nước trong ao nuôi 41
Hình 3.13. Thiết bị sục khí đáy 42
Hình 3.14. Hỗn hợp CP Plus, mật 43
Hình 3.15. Hỗn hợp EM, mật, cám 44
Hình 3.16. Biến động pH trong ao nuôi A13 - A14 44
Hình 3.17. Biến động độ kiềm trong ao nuôi A13 - A14 45
Hình 3.18. Biến động hàm lượng Ca - Mg trong ao nuôi A13 - A14 46
vii
Hình 3.19. Biến động hàm lượng NO
2
ao nuôi A13 - A14 46
Hình 3.20. Hàm lượng amoniac ao nuôi A13 - A14 47
Hình 3.21. Biến động hàm lượng Fe ao nuôi A13 - A14 48
Hình 3.22. Biến động nhiệt độ trong ngày của ao nuôi A13 - A14 49
Tôm thẻ chân trắng được nuôi đầu tiên vào những năm 1980 tại Mỹ [45].
Năm 1992, loài tôm này đã được nuôi phổ biến trên thế giới, nhưng chủ yếu tập
trung ở các nước Nam Mỹ. Tuy nhiên, nhiều nước châu Á đã tìm cách hạn chế nuôi
tôm thẻ chân trắng vì lo ngại nguy cơ lây bệnh sang tôm sú. Năm 2003, các nước
châu Á mới chú ý phát triển đối tượng này và từ đó dần trở thành khu vực có sản
lượng tôm thẻ cao nhất thế giới. Năm 2003, sản lượng tôm thẻ chân trắng trên thế
giới mới chỉ đạt khoảng một triệu tấn thì đến năm 2012, sản lượng đã tăng gấp bốn
lần [12]. Theo FAO dự đoán, sản lượng tôm thẻ chân trắng thế giới sẽ đạt sản lượng
khoảng 6 triệu tấn vào năm 2015 [26]. Trong năm gần đây, tôm thẻ chân trắng là
đối tượng chủ lực được chú ý phát triển ở Việt Nam. Năm 2013, diện tích và sản
lượng tôm thẻ chân trắng nuôi tăng lần lượt là 57,9 và 50,5% so với năm 2012. Dự
kiến đến năm 2015, sản lượng tôm thẻ chân trắng của Việt Nam sẽ đạt khoảng
449,5 nghìn tấn [3]. Tính đến quý một năm 2014, giá trị xuất nhập khẩu của tôm thẻ
chân trắng ở nước ta tăng 212% so với cùng kỳ năm 2013, đạt 481 triệu USD,
chiếm 60% tổng giá trị xuất khẩu tôm các loại [52].
Tôm thẻ chân trắng là đối tượng có tốc độ sinh trưởng nhanh và có thể nuôi
thâm canh tới 3 - 4 vụ/năm, khả năng thích nghi với biên độ dao động lớn của điều
kiện môi trường, chất lượng thịt thơm ngon nên tôm có giá trị thương phẩm cao,
được thị trường ưa chuộng. Những năm gần đây, tôm thẻ là đối tượng được đẩy
mạnh phát triển cả về diện tích và sản lượng tuy nhiên do trình độ kỹ thuật thiếu
đồng bộ, công tác quy hoạch còn nhiều bất cập đã dẫn đến ô nhiễm môi trường và
bệnh dịch bùng phát nghiêm trọng ở nhiều vùng nuôi. Từ năm 2008 đến 2012, diện
tích thiệt hại do dịch bệnh tăng gấp 10 lần (từ 658 đến 7.068 ha) chủ yếu do bệnh
đốm trắng WSSV và hội chứng gan tụy EMS. Năm 2013, tình hình dịch bệnh đã
khắc phục được những hạn chế của hệ thống, công ty TNHH Nghiên cứu và sản
xuất Đất Việt đã chọn, áp dụng trên quy mô trang trại và đã bước đầu có những
thành công. Đó là một trong những hướng đi đúng đắn, bền vững cần được tìm hiểu
và nhân rộng.
3
Xuất phát từ thực tiễn đó và được sự phân công của Viện Nuôi trồng Thủy
sản, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm thẻ
chân trắng (Litopenaeus vannamei Boone, 1931) sử dụng công nghệ Biofloc tại
Công ty TNHH Nghiên cứu và sản xuất Đất Việt”, với những nội dung sau:
1. Hệ thống công trình và trang thiết bị nuôi,
2. Kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi,
2. Kỹ thuật chọn giống và thả giống,
3. Kỹ thuật chăm sóc và quản lý hệ thống nuôi.
Trong quá trình hoàn tất đồ án, do thời gian và kinh nghiệm còn nhiều hạn
chế, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô và bạn đọc để
đồ án được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
vàng, các vành chân đuôi có màu đỏ nhạt và xanh, râu màu đỏ và dài gấp 1,5 lần
chiều dài thân (Hình 1.1). Tôm thẻ chân trắng mỏng, có thể nhìn thấy đường ruột rất
rõ từ mặt lưng. Tôm cái có thelycum hở là điểm khác biệt giữa tôm thẻ chân trắng
và tôm sú. Mặt khác chủy đầu có hai gai ở mặt bụng và 8 - 9 gai ở mặt lưng là đặc
điểm phân loại chủ yếu giữa tôm thẻ chân trắng và các loài tôm khác [8], [14].
5
1.1.3. Đặc điểm phân bố
Ngoài tự nhiên, tôm thẻ chân trắng phân bố chủ yếu ở biển phía Đông nam
Mỹ, vùng biển Tây Thái bình Dương, từ Mê-xi-cô đến miền Trung Pê-ru, nhiều
nhất ở Ê-cu-a-đo và Ha-wai. Hiện nay, tôm thẻ chân trắng được nuôi ở nhiều nước
trên thế giới như: Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam,… [8].
1.1.4. Tập tính sống
Trong tự nhiên tôm thẻ chân trắng sống ở nơi đáy cát, độ sâu từ 1 - 72 m.
Tôm trưởng thành thường sống ở vùng biển gần bờ, tôm nhỏ ưa sống ở khu vực cửa
sông giàu dinh dưỡng, nơi có độ mặn thấp, nhiệt độ cao và ổn định từ 25 - 32
o
C.
Vào mùa sinh sản tôm mẹ thường sinh sản ở ngoài khơi, nơi có độ trong cao, độ sâu
72 m nước, độ mặn 35‰, nhiệt độ nước 26 - 28
o
C. Tôm thẻ chân trắng ban ngày
vùi mình trong nền đáy và chủ yếu hoạt động vào ban đêm [8].
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm thẻ chân trắng là loài ăn tạp, thiên về động vật. Trong tự nhiên chúng ăn
xác thối rữa, các mảnh vụn hữu cơ, các loài giác xác nhỏ và giun nhiều tơ. Trong
nuôi thâm canh, chủ yếu cung cấp thức ăn viên là chính. Chúng có nhu cầu sử dụng
0,5 - 45
18 - 22
3
pH
7,0 - 9,0
7,5 - 8,5
4
Oxy hòa tan (mg O
2
/l)
≥ 4
4 - 8
5
Độ trong (cm)
30 - 50
30 - 50
6
Độ kiềm (mg CaCO
3
/l)
100 - 250
100 - 180
7
NH
3
(ppm)
<0,1
< 0, 1
8
H
(FAO, 2013)
Châu Á hiện nay, nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm đang phát triển
mạnh và chiếm 87% sản lượng tôm nuôi trên thế giới. Trong đó, Trung Quốc có sản
lượng cao nhất thế giới đạt gần 1,2 triệu tấn vào năm 2013, tiếp sau đó là In-đô-nê-
si-a, Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ,… (Hình 1.4) [26].
8
Theo dự đoán của FAO năm 2014 - 2015, sản lượng thủy sản của châu Á có
chuyển biến tích cực, Bảng 1.2, thống kê sản lượng thủy sản hàng năm của một số
nước châu Á cho thấy rằng Trung Quốc tiếp tục đứng đầu về sản lượng thủy sản
cũng như tốc độ tăng trưởng, tiếp sau đó là In-đô-nê-si-a, Thái Lan và Việt Nam,…
c gia
2013
2014
2015
1.180.000
1.190.000
1.200.000
In--nê-si-a
570.000
550.000
600.000
ưu việt và được lựa chọn là đối tượng sản xuất chủ lực ở nhiều nơi trên thế giới. So
với tôm sú, tôm thẻ chân trắng có nhiều ưu điểm như: tăng trưởng nhanh, chịu đựng
tốt với điều kiện môi trường, chu kì nuôi ngắn. Ngoài ra, tôm thẻ chân trắng được
coi là loài có khả năng kháng bệnh tốt hơn các loài tôm khác [45], [43].
Hình 1.5. Sng tôm th chân tru tôm nuôi th gii
9
Theo FAO năm 2012, trong vòng 12 năm (2000 - 2011), sản lượng tôm thẻ
chân trắng đã tăng 36% trong tổng sản lượng tôm thế giới (Hình 1.5).Tuy nhiên,
song song với việc tăng năng suất, sản lượng và diện tích luôn nảy sinh nguy cơ về
dịch bệnh. Trong thực tế, quá trình nuôi tôm xảy ra nhiều loại bệnh nhưng có những
bệnh phổ biến gây thiệt hại lớn như: bệnh đốm trắng WSSV, bệnh Taura, bệnh hoại
tử cơ (IMNV) và hội chứng gan tụy EMS.
(FAO, 2013)
Trong những năm gần đây, bệnh hội chứng gan tụy gây thiệt hại lớn cho
nghề nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới. Bệnh này lần lượt xuất hiện ở Trung
Quốc năm 2009, Việt Nam 2010, Thái Lan và Ma-lay-si-a năm 2011, Mê-xi-cô năm
2013, còn ở các nước như: Băng-la-đét, Ê-cu-a-đo, Ấn Độ và In-đô-nê-si-a chưa
thấy xuất hiện bệnh này [27]. Tại Việt Nam, thời gian ghi nhận tôm xảy ra bệnh
nhiều là từ tháng 4 đến tháng 7, chiếm 75% tổng diện tích báo cáo trường hợp mắc
bệnh trong cả năm. Theo FAO 2013, từ năm 2011 đến 2015, dịch bệnh sẽ tiếp tục
làm giảm sản lượng thủy sản của Việt Nam xuống 11,7% (Hình 1.6) [26].
Ngoài Việt Nam, từ năm 2008 - 2014 dịch bệnh bùng phát ở nhiều nơi gây
ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và sản lượng tôm trên thế giới đặc biệt là: Trung
1.570
11.950
Quảng Ngãi
598
6.751
Bình Định
786
4.575
Phú Yên
1.596
5.406
Khánh Hòa
3.106
3.675
Ninh Thuận
700
6.650
Bình Thuận
1.700
13.200
Theo Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2013, sản lượng thủy sản
đạt 6,05 triệu tấn tăng 2,1%, sản lượng nuôi trồng 3,34 triệu tấn tăng 2%. Riêng
nuôi tôm thẻ chân trắng đạt 66 nghìn ha, 290 nghìn tấn, lần lượt tăng 57,9% và
50,5% về diện tích và sản lượng so với năm 2012 (Bảng 1.4). Dự kiến đến năm
2015 sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 449,5 nghìn tấn [3].
11
2006
18.441
57.185
3.100
2007
19.919
64.776
3.250
2008
15.079
47.827
3.170
2009
21.339
89.521
4.190
2010
25.397
136.719
5.380
2011
28.683
152.939
5.330
2012
41.789
186.197
4.460
2013
66.000
Bacillus subtilis, Pediococcus pentosaceus, Streptomyces sp, ngoài khả năng tổng
hợp các hợp chất cao phân tử ngoại bào để kết dính với nhau, các chất hoạt động
tương tự như axit hữu cơ, chúng còn có khả năng tạo poly-ß-hydroxybutyrat (chất
kháng vi khuẩn gây bệnh) [50], [41], [24]. Trên thực tế, các quần thể vi khuẩn có lợi
liên tục được bổ sung vào ao nuôi thông qua các sản phẩm CP Plus, EM,… chúng
13
cạnh tranh môi trường sống, chất dinh dưỡng làm suy tàn các quần thể sinh vật có
hại, hạn chế gây bệnh cho tôm.
1.3.3. Các loại hệ thống Biofloc cơ bản
Trong công nghệ Biofloc có hai hệ thống cơ bản: hệ thống có sử dụng hoặc
tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên và không dùng ánh sáng tự nhiên. Thứ nhất, hệ thống
Biofloc tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên bao gồm: ao nuôi ngoài trời, nuôi trong bể
nuôi tôm nước chảy, nuôi tôm trong nhà kính, hoặc nuôi trong hệ thống mà tồn tại
song song tảo và vi khuẩn để kiểm soát chất lượng nước. Hệ thống Biofloc thứ hai
được xây dựng trong nhà kín và không tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên. Hệ thống này
gọi là hệ thống Biofloc “nước nâu”. Trong hệ thống này chỉ có vi khuẩn tham gia
vào quá trình kiểm soát chất lượng nước [51].
1.3.4. Đặc điểm của công nghệ Biofloc
a. Đảo nước và sục khí
Trong ao nuôi sử dụng công nghệ Biofloc, chất rắn phải được giữ ở trạng
thái lơ lửng trong cột nước liên tục 24/24 giờ nếu không hệ thống sẽ không thể phát
huy tác dụng. Không sục khí đảo nước, biofloc sẽ lắng xuống đáy và nhanh chóng
tiêu thụ lượng oxy lớn trong ao. Khi đó, các khu vực yếm khí hình thành, hàm
lượng các khí độc như H
2
/l/giờ, chưa tính đến sự hô hấp của
tôm còn trong hệ thống Biofloc “nước nâu” thông thường là 6,0 mg O
2
/l/giờ. Nhu
cầu oxy cao như vậy cho thấy hệ thống sẽ không hoạt động khi không cung cấp đủ
oxy chỉ trong vòng một giờ. Do đó, cần phải cung cấp đủ để duy trì hàm lượng oxy
hòa tan ở ngưỡng an toàn cho tôm thông qua quá trình sục khí, các phương án kiểm
soát, nguồn điện dự phòng để chạy hệ thống sục khí phải luôn luôn sẵn sàng trong
hệ thống nuôi [36].
b. Cân bằng tỷ lệ C:N
Yếu tố quan trọng để kiểm soát amoniac trong hệ thống Biofloc là tỷ lệ C:N
[20]. Tỷ lệ C:N cần để kiểm soát hàm lượng amoniac thông qua các vi sinh vật dị
dưỡng khoảng 12 - 15:1, vì thế phải tăng tỷ lệ C:N để vi khuẩn phát triển [19]. Có
thể tăng tỷ lệ C:N từ việc bổ sung các nguồn nguyên liệu có tỷ lệ C:N cao hoặc
dùng thức ăn có hàm lượng protein thấp. Nhiều nguồn nguyên vật liệu có thể dùng
để cung cấp cacbon vào hệ thống Biofloc như: bột ngũ cốc, rỉ đường, bã mía, cỏ
khô băm nhỏ, Nguồn cacbon phải có giá rẻ, phân hủy nhanh, dễ tìm và sẵn có
[49]. Vi khuẩn dị dưỡng trong hệ thống Biofloc có thể phân hủy vật chất hữu cơ
đơn giản như: đường hoặc tinh bột một cách nhanh chóng đồng thời tạo ra hàm
lượng protein trong biofloc, các axit béo n-6 cao hơn [23]. Để kiểm soát nồng độ
NH
3
thông qua con đường vi khuẩn dị dưỡng, thì bổ sung cacbon phải thực hiện
theo tỷ lệ cho ăn. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mỗi kg thức ăn có hàm lượng protein 30 -
38% thêm vào hệ thống, cần cung cấp 0,5 - 1,0 kg cacbon như rỉ đường (mật) [30].
Một số hạn chế khi bổ sung cacbon hữu cơ để kiểm soát amoniac là chúng có
thể tích lũy một lượng chất rắn có chứa vi khuẩn trong ao, chất rắn này, có thể gây
ảnh hưởng đến mang tôm và gây cản trở quá trình trao đổi khí ở mang. Lượng oxy
hòa tan và nhu cầu năng lượng cũng cần phải cung cấp nhiều hơn cho quá trình hô
15
bể. Trong đó sự chuyển đổi nhanh và ổn định hơn cả vẫn là các bể nuôi vì có diện
tích nhỏ dễ dàng kiểm soát môi trường và mật độ vi sinh, tiếp sau là hệ thống nuôi
nước chảy và nuôi trong ao.
16
Chỉ số màu sắc của quần thể vi khuẩn MCCI cho thấy sự chuyển đổi từ tảo
chiếm ưu thế sang vi khuẩn chiếm ưu thế. Sự chuyển đổi từ tảo sang vi khuẩn xảy ra
khi chỉ số MCCI từ 1,0 - 1,2 (Hình 1.7) [30].
Khi tỷ lệ cho ăn hàng ngày tăng từ 10 - 20 g/m
2
, công suất sục khí 25 - 30
hp/ha nước sẽ có màu xanh [30]. Tỷ lệ cho ăn tăng lên 30 g/m
2
vi khuẩn phát triển
chiếm ưu thế vì lúc này ánh sáng không đủ để tảo quang hợp và biofloc cũng bắt
đầu hình thành. Khi tỷ lệ cho ăn tăng lên khoảng 40 - 60 g/m
2
/ngày, nước sẽ chuyển
sang màu nâu và khi tỷ lệ cho ăn đạt 70 g/m
2
/ngày, nước sẽ có màu nâu với các hạt
biofloc và hoàn toàn không còn tảo phát triển [30]. Cùng với sự gia tăng của tỷ lệ
cho ăn, nhu cầu sục khí cũng tăng lên (Bảng 1.5).
Bng 1.5. S chuyn hóa t c nâu ca h thng Biofloc
150
-5,8
+1,2
400
Xanh
Tảo-vi khuẩn
150
-5,8
-2,0
500
Xanh-nâu
Tảo-vi khuẩn
150
-4,0
-1,0
600
Nâu-xanh
Tảo-vi khuẩn
150
-4,0
-3,5
700
Nâu
Vi khuẩn
175
-4,0
-4,0
800
Nâu
Vi khuẩn
Sự hấp thu của tảo
Trong hệ thống Biofloc, nguồn dinh dưỡng từ thức ăn thừa nhờ ánh sáng mặt
trời sẽ nhanh chóng được hấp thu, tích lũy trong tế bào tảo thông qua quang hợp. Hệ
thống Biofloc mà tỷ lệ tảo cao sẽ gây nên những vấn đề về amoniac trong những
ngày thời tiết xấu do tảo bị hạn chế quang hợp hoặc bị lụi tàn. Sự biến động nồng
độ oxy hòa tan và pH cũng sẽ tăng lên mặc dù hệ thống vẫn được sục khí mạnh.
Một cách tổng quát, tỷ lệ cho ăn dưới 30 g/m
2
, hoạt động của tảo là yếu tố chính
trong kiểm soát chất lượng nước [51].
Sự đồng hóa của vi khuẩn
Thức ăn được cung cấp cho tôm trong hệ thống nuôi rất lớn nhưng sự phát
triển của vi khuẩn dị dưỡng trong hệ thống Biofloc vẫn bị giới hạn bởi sự thiếu hụt
hàm lượng cacbon hữu cơ hòa tan. Để kích thích quần thể vi khuẩn dị dưỡng phát
triển trong hệ thống Biofloc, tỷ lệ C:N được kiểm soát bằng cách bổ sung nguồn