BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KINH TẾ
o0o
MAI XUÂN CHUNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
DU LỊCH SINH THÁI BIỂN NHA TRANG
BỀN VỮNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH DU LỊCH
GVHD: TS. QUÁCH THỊ KHÁNH NGỌC
i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
1. Sự cần thiết của nghiên cứu 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1. Lý thuyết về du lịch và du lịch sinh thái 5
1.1.1. Du lịch 5
1.1.2. Du lịch sinh thái 6
1.1.2.1. Khái niệm 6
1.1.2.2. Các kiểu du lịch sinh thái 7
1.1.2.3. Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái 8
1.1.2.4. Những nguyên tắc cơ bản của DLST bền vững 9
1.1.3. Du lịch sinh thái biển – đảo 11 ii
2.1.2. Tiềm năng về tài nguyên du lịch nhân văn 27
2.1.3 Những lợi thế phát triển ngành du lịch Khánh Hòa 28
2.2. Thực trạng phát triển du lịch Khánh Hòa trong thời gian qua 28
2.2.1 Tình hình phát triển du lịch trong thời gian qua 28
2.2.1.1 Quy mô, số lượng các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 28
2.2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch 29
2.2.1.3. Chất lượng dịch vụ du lịch 31
2.2.1.4. Phát triển loại hình và sản phẩm du lịch 31
2.2.1.5. Khai thác tài nguyên du lịch 31
2.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch 32
2.2.2.1 Phân tích các yếu tố bên ngoài 32
2.2.2.2 Phân tích các yếu tố bên trong 32
2.3. Nhận xét thực trạng phát triển du lịch Khánh Hòa trong thời gian qua 34
2.3.1. Những thành tựu đạt được 34
2.3.2. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 34
2.4. Các loại hình du lịch sinh thái biển ở Khánh Hòa 35
2.4.1. Tour 4 đảo 35
2.4.2. Tour 3 Đảo 35
2.4.3. Tour du ngoạn biển đêm 36
2.4.4. Tour du ngoạn Sông Cái 36
2.4.5. Tour lặn biển Nha Trang 36
2.4.6. Tour Nha Phu 36
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1. Phương pháp nghiên cứu 37 iv
3.1.1. Phương pháp nghiên cứu định tính 37
5.3. Giải pháp 3 66
5.3. Một số kiến nghị 67
5.3.1. Với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa 67
5.3.2. Với các nhà đầu tư, đơn vị tổ chức kinh doanh du lịch 68
5.3.3. Với cư dân địa phương thành phố Nha Trang 68
KẾT LUẬN 69
PHỤ LỤC 71
Phụ lục 1: Thống kê mô tả 71
Phụ lục 2: Kiểm định Cronbach’s Alpha 75
Phụ lục 3: Phân tích nhân tố và mô hình hồi quy 83
Phụ lục 4: Bảng câu hỏi 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Danh mục bảng
Bảng 1.1: Các kiểu du lịch sinh thái 7
Bảng 2.1: Doanh thu du lịch Khánh Hòa từ năm 2002 – 2010 29
Bảng 4.1: Điểm đánh giá trung bình của du khách 47
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định thang đo tổng hợp 49
Bảng 4.3: Bảng KMO và kiểm định Bartlett 51
Bảng 4.4: Phương sai trích 52
Bảng 4.5: Ma trận tương quan 57
Bảng 4.6: Phân tích hồi quy đa biến lần 1 59
Bảng 4.7: Hệ số xác định R
2
60
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của nghiên cứu
Ngày nay, du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng, là
nhân tố tích cực góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của
nhiều ngành khác. Ngành du lịch là một trong những động lực thúc đẩy tiến
trình giao lưu kinh tế, văn hóa – xã hội… tạo điều kiện để Việt Nam sớm hội
nhập với khu vực và thế giới, tăng cường tình hữu nghị, hòa bình và hợp tác,
tiến bộ xã hội giữa các dân tộc và các quốc gia.
Được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, trong những năm
qua du lịch đã và đang nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thể hiện
qua việc ban hành các chủ trương, chính sách đối với ngành như: Quyết định số
97/2002/QĐ - TTg ngày 22/7/2002 v/v phê duyệt chiến lược phát triển du lịch
Việt Nam 2001 - 2010; Quyết định số 121/2006/QĐ - TTg ngày 29/5/2006 v/v
thác có hiệu quả những tiềm năng to lớn này.
Để khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch sinh thái biển to lớn của
tỉnh, đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch sinh thái biển trên quan điểm
bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học, giảm bớt sự trả giá và đạt được lợi ích hiệu
quả kinh tế tối đa, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển du lịch của Khánh
Hòa, thì việc thực hiện nghiên cứu nhằm đề xuất một số giải pháp nhằm phát
triển du lịch sinh thái biển Nha Trang bền vững tại thời điểm này là vô cùng
thiết thực.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Căn cứ vào các chuyến đi thực tế, kết hợp với việc lấy ý kiến khách du lịch
sau tham gia các tour du lịch sinh thái biển tại Nha Trang, tác giả đề xuất một số
giải pháp nhằm phát triển bền vững du lịch sinh thái biển Nha Trang nói riêng
và biển Khánh Hòa nói chung.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các kiến thức liên quan đến du lịch sinh thái, du lịch sinh thái
biển và quan điểm phát triển bền vững trong du lịch.
- Mô tả khái quát thực trạng phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái
biển của Khánh Hòa nói riêng trong thời gian qua. 3
- Tổng hợp ý kiến đánh giá của du khách sau khi tham gia các tour du lịch
gắn kết với biển Nha Trang, làm cơ sở đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền
vững loại hình du lịch sinh thái biển tại Nha Trang.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung phỏng vấn khách du lịch sau khi tham gia các tour du
lịch sinh thái biển tại Nha Trang một cách ngẫu nhiên trên tinh thần sẵn lòng
- Chương 5: Một số giải pháp đề xuất. 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Lý thuyết về du lịch và du lịch sinh thái
1.1.1. Du lịch
Trong pháp lệnh du lịch của Việt Nam, điều 10 thuật ngữ “Du lịch” được
hiểu như sau: Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình nhằm thỏa mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong
khoảng thời gian nhất định.
Tùy theo cách phân loại, chúng ta có những loại hình du lịch khác nhau:
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
- Du lịch quốc tế
- Du lịch nội địa
Căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách
- Du lịch chữa bệnh
- Du lịch nghỉ ngơi giải trí
- Du lịch thể thao
- Du lịch công vụ
- Du lịch tôn giáo
- Du lịch khám phá
- Du lịch thăm hỏi
- Du lịch quá cảnh
Căn cứ vào phương tiện giao thông
- Du lịch bằng xe đạp
- Du lịch tàu hỏa
- Du lịch tàu biển
Theo Tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN): “Du lịch sinh thái
(DLST) là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự
nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên (và các đặc điểm văn hoá đã
tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành), qua đó khuyến khích hoạt động bảo
vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi
cho những người dân địa phương tham gia tích cực.” 7
Ở Việt Nam, tại Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du
lịch sinh thái ở Việt Nam” đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là loại hình
du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có
đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực
của cộng đồng địa phương”.
DLST bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời. Có người quan
niệm rằng DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động
tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái, nơi diễn ra các hoạt động
du lịch. Cũng có ý kiến cho rằng DLST đồng nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có
trách nhiệm, du lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững.
1.1.2.2. Các kiểu du lịch sinh thái
Các kiểu du lịch sinh thái được nhìn nhận dưới các hình thức khác nhau liên
quan đến nhiều yếu tố: yêu cầu về đặc điểm của khu tự nhiên; quy mô của nhóm
du lịch; yêu cầu về các điều kiện dịch vụ du lịch của khách; nhu cầu về kinh
nghiệm du lịch và mức độ hài lòng của du khách. Kết hợp các yếu tố này có thể
đưa ra 3 kiểu du lịch sinh thái chủ yếu theo bảng sau:
Bảng 1.1: Các kiểu du lịch sinh thái
Kiểu
DLST
Là kinh nghiệm “bất thư
ờng đầu
tiên”, yêu c
ầu mức độ thách thức
cao về sự hiểu biết và các k
ỹ
năng hoạt động ngoài trời
DLST
nhóm
nhỏ
Khu v
ực đặc
biệt và thư
ờng
là ở những n
ơi
“biệt lập”
Cá nhân,
nhóm tương
đối nhỏ
(<15 người)
Có s
ử dụng vận tải
cơ gi
ới đặc biệt (xe
đi xuyên r
ừng,
thuyền máy nhỏ)
Yêu cầu sự thách thức và tính tự
ầu đáng kể
về cơ sở hạ tầng v
à
các dịch vụ
cho mọi đối tư
ợng du khách, bất
k
ể tuổi tác hoặc khả năng về sức
khoẻ. Từ các kiểu du lịch sinh thái tổng quát trên phân ra nhiều loại hình du lịch
sinh thái như: dã ngoại; leo núi; đi bộ trong rừng; tham quan, nghiên cứu đa
dạng sinh học ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên; tham quan miệt
vườn; quan sát chim; thăm bản làng dân tộc.
1.1.2.3. Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái
- Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa.
- Các đơn vị tham gia vào du lịch sinh thái có trách nhiệm tích cực bảo vệ môi
trường sinh thái, giảm tác động tiêu cực đối với môi trường, văn hóa.
- Các phương tiện phục vụ du lịch sinh thái: các trung tâm thông tin, đường
mòn thiên nhiên, cơ sở lưu trú, ăn uống sinh thái, các tài liệu in ấn khác.
- Các hướng dẫn viên vừa thực hiện chức năng thuyết minh giới thiệu, vừa
giám sát các hoạt động của du khách.
- Thông qua hoạt động du lịch sinh thái, du khách được giáo dục và nâng cao
nhận thức và ý thức tôn trọng môi trường thiên nhiên, nền văn hóa dân tộc.
- Hoạt động du lịch sinh thái phải đem lại lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng
đồng địa phương, thu hút người dân địa phương tham gia bảo vệ môi trường.
Phát triển du lịch sinh thái bền vững cần đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích
của bốn bộ phận quan trọng tham gia: khách du lịch sinh thái, các nhà tổ chức
Du lịch sinh thái biển có bản chất và mục tiêu đảm bảo cho cả việc bảo tồn và
Du lịch sinh thái có bản chất và mục tiêu là đảm bảo cho cả việc bảo tồn và
mang lại lợi ích kinh tế, thông qua việc giúp đỡ cộng đồng địa phương quản lý
các tài nguyên của họ. Do đó, du lịch sinh thái được coi như một hoạt động bảo
tồn giúp cho quá trình phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường.
1.1.2.4. Các nguyên tắc của DLST bền vững
Các cơ sở nền tảng ban đầu làm kim chỉ nam cho hoạt động DLST gồm:
- Nghiên cứu và bảo tồn các giá trị thiên nhiên, giá trị văn hóa.
- Tăng cường nội dung giáo dục môi trường.
- Tổ chức đồng bộ và chuyên nghiệp về nghiệp vụ du lịch và lữ hành nhằm 10
- giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường.
- Hướng mọi khả năng đến việc góp phần bảo vệ môi trường.
Từ đó DLST khi hướng đến mục tiêu bền vững đã xây dựng các nguyên tắc
cơ bản sau đây:
- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm tài nguyên tự
- nhiên, tài nguyên nhân văn. Cân đối hài hòa trong việc sử dụng một cách
bền vững nguồn tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển
DLST.
- Bảo tồn tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa,… (chủng loài các hệ động thực
vật, bản sắc văn hóa dân tộc,…) vì DLST lấy bảo tồn là tiêu chí hàng đầu
trong hoạt động, khai thác du lịch chỉ là hoạt động thứ yếu.
- Thúc đẩy chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản
và các loại tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả. Tác động giảm thiểu
mức tiêu thụ tài nguyên hiện có, giảm thiểu lượng chất thải một cách triệt
để nhằm nâng cao chất lượng môi trường.
- Trong quá trình khai thác họat động DLST, cần phối hợp mục tiêu hỗ trợ
phát triển kinh tế địa phương, vì trách nhiệm của DLST là đóng góp vào
cách có hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát triển
bền vữn, tạo điều kiện mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho toàn cộng đồng.
DLST biển - đảo có thể chia làm 3 khu vực không gian hoạt động cơ bản:
khu vực bờ và mép nước; khu vực mặt nước và hải đảo; khu vực dưới mặt nước
và đáy biển.
- Khu vực bờ và mép nước: phân bố không gian từ mép nước trở vào là nơi
thiết lập các cơ sở hạ tầng dịch vụ cho toàn hoạt động DLST biển-đảo (xây
dựng các khu nghỉ dưỡng sinh thái, resort, khách sạn, các băng rừng cây
xanh tạo sinh cảnh và chắn gió cát, đường sá, bến cảng, nhà hang,…). Các
loại hình khai thác tổng hợp bao gồm: du lịch khám phá đồi cát di động và
rừng Savan, tham gia nghỉ dưỡng biển, tham gia các hoạt động thể thao biển
và giải trí trên bờ, kết hợp tham gia các loại hình DLST văn hóa với cộng
đồng ngư dân sống ven biển (lễ hội Cầu Ngư, lễ hội Nghinh Ông Nam Hải, lễ 12
tế tại các vạn chài, homestay ở các làng chài ven biển và các làng chài nông
ngư kết hợp…)
- Khu vực mặt nước và hải đảo: đây là vùng có không gian địa lý rộng lớn,
toàn bộ mặt biển và các hải đảo. Đối với khu vực mặt nước có thể tổ chức
khai thác các loại hình: thưởng ngoạn, câu cá bằng du thuyền; tham gia đánh
bắt hải đặc sản trên biển cùng với ngư dân, đua thuyền vượt đại dương, các
môn thể thao mạo hiểm trên biển, Đối với các hải đảo, đặc biệt với những
đảo lớn có cư dân hình thành lâu đời với các làng cá, vạn chài thì khai thác
các loại hình DLST tự nhiên và văn hóa như ở đất liền. Đối với các đảo
hoang, cảnh quan thiên nhiên hoang sơ và đẹp có thể tổ chức tham quan cảnh
đẹp, khám phá, cắm trại, câu cá, lặn biển, du lịch mạo hiểm,…
- Khu vực dưới mặt nước và đáy biển: để có thể tiếp cận đối tượng, đòi hỏi
phải có thiết bị chuyên dụng, hiện nay chỉ mới khai thác có mức độ, các loại
- Phải có trách nhiệm về phát triển du lịch hôm nay và cả mai sau. Vì vậy du
lịch bền vững đồng nghĩa với du lịch trách nhiệm.
1.1.4.2. Tính tất yếu của việc phát triển du lịch bền vững
Tính tất yếu của việc phát triển du lịch bền vững do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Do đặc tính của ngành du lịch đó là ngành kinh tế tổng hợp phức
tạp và cần phải có quy hoạch phát triển đồng bộ.
Thứ hai: Do các yếu tố cấu thành nên sản phẩm của ngành du lịch phải kết
hợp của cả tài nguyên có khả năng phục hồi, tài nguyên khó phục hồi và hoàn
toàn không thể phục hồi được đó là các tài nguyên xã hội, tài nguyên nhân văn
và tài nguyên tự nhiên.
Thứ ba: Do nhu cầu của khách hay xã hội nói chung về du lịch ngày càng
nhiều và với chất lượng cao hơn và các loại hình du lịch phải phong phú hơn do
mức sống của con người nói chung đang được nâng lên rất nhanh, trình độ văn
hóa ngày càng được cải thiện.
1.1.5. Nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Theo định nghĩa ở trên thì muốn phát triển du lịch bền vững về 3 mặt: kinh
tế, xã hội và môi trường.
1.1.5.1. Bền vững về kinh tế 14
Đây là một trong ba yều cầu đối với phát triển bền vững. Nó có ý nghĩa
quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch.
Thứ nhất nó phải bảo đảm sự tăng trưởng, phát triển ổn định và lâu dài, tạo
ra được nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp. Muốn được như vậy doanh nghiệp
kinh doanh du lịch và sở du lịch của địa phương phải thoả mãn được những điều
kiện sau: công tác tuyên truyền quảng bá phải được thực hiện nghiêm chỉnh,
trong phạm vi rộng; sản phẩm du lịch phải thật đặc biệt để thu hút được nhiều
khách du lịch trong và ngoài nước. Bên cạnh đó chất lượng của các sản phẩm du
những tinh hoa văn hoá. Nhưng mặt hạn chế là nếu để các nền văn hoá đó du
nhập một cách tự do thì người dân có thể tiếp thu phải những yếu tố xấu, mất
dần đi bản sắc văn hoá địa phương. Phát triển bền vững là bảo đảm quyền lợi
của người dân, mọi người đều được tham gia vào kinh doanh để họ nâng cao
chất lượng cuộc sống, góp phần xoá đói giảm nghèo. Nhưng điều đó không có
nghĩa là để cho lợi ích kinh tế làm lu mờ các giá trị văn hoá. Cần ngăn ngừa sự
thay thế các ngành nghề truyền thống lâu đời bằng chuyên môn phục vụ du lịch.
Không để người dân địa phương biến văn hoá bản địa thành hàng hoá bán cho
khách. Văn hoá là phần không thể thiếu đối với mỗi người. Đó là những tinh hoa
được tích luỹ từ đời này qua đời khác. Nó làm nên giá trị của mỗi người, mỗi địa
phương. Vì thế phát triển sao cho bền vững về văn hoá – xã hội cũng là một
mảng hết sức quan trọng.
1.1.5.3. Bền vững về môi trường
Du lịch cũng là một hình thức kinh doanh vì thế việc đảm bảo phát triển tốt
về kinh tế, có lợi nhuận là một tất yếu. Tuy nhiên phát triển bền vững có nghĩa là
phải có sự hài hoà giữa yếu tố kinh tế và môi trường. Không nên chỉ chú trọng
vào phát triển kinh tế mà tìm mọi cách kể cả việc làm tổn hại nghiêm trọng đến
tài nguyên. Bởi vì tài nguyên du lịch thường có sẵn và rất khó để phục hồi, thời
gian phục hồi là rất lâu. Những điểm cần lưu ý khi khai thác phát triển tài
nguyên du lịch là:
- Khai thác tài nguyên không quá giới hạn cho phép, phải tôn trọng sức chứa
của khu du lịch. Doanh nghiệp phải xác định được số lượng khách tối đa mà
không gây thiệt hại đến môi trường tự nhiên, không làm cho khách cũng như
người dân địa phương cảm thấy khó chịu và chính quyền địa phương vẫn có 16
thể quản lý được. Ngoài việc khai thác hợp lý ra doanh nghiệp cũng cần phải
sử dụng nó một cách hợp lý tránh sự lãng phí tài nguyên. Duy trì sự đa dạng