Nâng cao năng lực tổ chức nghiên cứu khoa học của trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 25


1
MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3. Mục tiêu nghiên cứu 10
4. Phạm vi nghiên cứu 11
5. Mẫu khảo sát 11
6. Câu hỏi nghiên cứu 11
7. Giả thuyết nghiên cứu 11
8. Phương pháp nghiên cứu 12
9.Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1. Khái niệm chung 13
1.1.1. Khoa học……………………………………….…………………………… 13
1.1.2. Nghiên cứu khoa học ……………………………………………….15
1.1.3. Tổ chức KH&CN ………………………………… ……………… 16
1.2. Nội dung cơ bản nhất về NCKH và công nghệ 17
1.2.1. Các loại hình NCKH ………………………………… …………… 17
1.2.2. Những đặc điểm của NCKH ………………… …….……………….20
1.2.3 Định hướng NCKH và công nghệ …………………………….…… 23
1.2.4. Tuyển chọn đề tài NCKH ………………………………………… 23
1.2.5. Đáng giá đề tài NCKH……………………………………………… 24
1.3. Các nguồn lực trong nghiên cứu khoa học 25
1.3.1. Nguồn nhân lực 25
1.3.2. Nguồn tài lực 26

2.4.2. Những hạn chế trong năng lực tổ chức NCKH ….… …………… 56
*Kết luận chương 2: 74
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 75
3.1. Những yếu tố tác động đến việc nâng cao năng lực tổ chức NCKH
của Trường Đại học Mở TP.HCM 75
3.1.1. Các điểm mạnh và điểm yếu trong hoạt động NCKH ……….…… 75
3.1.2. Các cơ hội và các thách thức …………… ……… ……………… 77
3.1.3. Những quan điểm trong việc đề ra các giải pháp nâng cao năng lực tổ
chức NCKH của Trường Đại học Mở TP.HCM……………………………… 79
3.2. Các giải pháp nâng cao năng lực tổ chức NCKH của Trường 81
3.2.1. Hoàn thiện quy chế hoạt động NCKH tại Trường Đại học Mở
Tp.HCM…………………………………………………………………………… 81
3.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống tổ chức nghiên cứu khoa học ……… …… 81
3.2.1.2. Ban hành qui định đối với giảng viên ………………… ……… 82
3.2.2. Hoàn thiện chính sách xây dựng và phát huy các nguồn lực NCKH
……………………………………………………….……………………….83
3.2.2.1. Chính sách nâng cao năng lực NCKH cho giảng viên ……… …. 83
3.2.2.2. Chính sách nâng cao năng lực tổ chức cho cán bộ quản lý NCKH.
84
3.2.2.3. Xây dựng chính sách tài chính hợp lý đối với NCKH …………….85
3.2.2.4. Chính sách đầu tư cơ sở vật chất cho NCKH ………… ……… 87
*Kết luận chương 3: 88
KẾT LUẬN 89
KHUYẾN NGHỊ 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Phụ lục 1: 95
Phụ lục 2 96

Tạp chí khoa học
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh

5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH
Hình 1.1: Quan hệ các loại hình nghiên cứu 17
Bảng1.1: Thống kê tỉ lệ rủi ro trong nghiên cứu 22
Bảng1.2: So sánh số lượng trường đại học, số lượng GV và sinh viên 34
Bảng1.3: Tỉ lệ chi từ ngân sách cho sự nghiệp KH&CN trong các trường đại
học và cao đẳng các năm 2008, 2009, 2010 36
Bảng1.4: Số lượng giảng viên đại học giai đoạn 2007-2011 37
Bảng1.5: Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên 40
của hai năm học 2000 – 2001 và 2010 - 2011 43
Bảng 2.1: Tổng số sinh viên các hệ của Trường ĐH Mở TP. HCM 44
Bảng 2.2: Tổng số cán bộ, giảng viên của Trường ĐH Mở TP.HCM 44
Bảng 2.3: Cơ cấu học vị, học hàm của cán bộ, giảng viên ĐH Mở TP.HCM 42
Bảng 2.4: Thống kê các giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy cho Trường
giai đoạn 2006 - 2010 45
Bảng 2.5: Kinh phí từ ngân sách Nhà nước và của Trường chi cho hoạt động
KH &CN giai đoạn 2006 – 2010 46
Bảng 2.6: Mức chi kinh phí cho các loại sản phẩm nghiên cứu 47
Bảng 2.7: Kinh phí chi cho trang thiết bị phục vụ đào tạo và NCKH 48
Bảng 2.8: Năng lực phục vụ NCKH của Thư viện Trường 50

truyền thống của dân tộc để đổi mới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm
hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại. Quá trình CNH, HĐH đòi hỏi
phải có một lực lượng lao động có chất lượng cao. Vì vậy, việc nâng cao năng
lực tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) trong các trường đại học
là một xu thế tất yếu và mang tính bắt buộc.
Điều 12 của Luật khoa học và công nghệ [21] quy định nhiệm vụ
KH&CN của trường đại học là: “(1) Trường đại học có nhiệm vụ tiến hành
NCKH và phát triển công nghệ, kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất, dịch
vụ khoa học và công nghệ theo quy định của Luật này, Luật giáo dục và các
quy định khác của pháp luật; (2) Trường đại học thực hiện nhiệm vụ nghiên
cứu cơ bản, nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm của Nhà
nước và NCKH về giáo dục”.
Giảng dạy không tách rời nghiên cứu. Đại học của các nước là đại học
nghiên cứu. Xu thế đại học Việt Nam phải là đại học nghiên cứu.
Các trường đại học ở Việt Nam có đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên
và học viên sau đại học lớn. Vì vậy, nếu không đảm bảo thực hiện tốt chức
năng NCKH thì sẽ gây lãng phí rất lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực
KH&CN và sẽ có nguy cơ “tụt hậu” rất xa trong NCKH (chỉ so sánh với các

7
trường đại học ở Đông Nam Á). Muốn có được kết quả NCKH tốt thì đòi hỏi
năng lực tổ chức hoạt động NCKH của trường phải tốt.
Tuy nhiên, việc tổ chức NCKH ở các trường đại học nước ta hiện nay
còn rất nhiều hạn chế. Trường đại học Mở Thành phố Hồ Chí
Minh(TP.HCM) cũng không ngoại lệ. Vì vậy, nghiên cứu những nguyên nhân
khách quan, chủ quan khiến năng lực tổ chức NCKH của Trường Đại học Mở
TP.HCM còn yếu và tìm kiếm các giải pháp nâng cao năng lực tổ chức
NCKH là vấn đề đang được lãnh đạo Trường quan tâm và là việc làm cấp
bách hiện nay.
Xuất phát từ sự cần thiết trên, là một cán bộ của Trường, học viên chọn

và nâng cao chất lượng sản phẩm NCKH của trường bằng cách khuyến khích
về mặt tinh thần, nâng cao quyền tự chủ trong NCKH, nâng cao tính kinh tế
đồng thời thắt chặt quản lý hành chính đối với công tác NCKH; (2) Quảng bá
đưa sản phẩm NCKH xã hội và nhân văn vào thị trường, tăng cường thêm
nhân sự quản lý có chuyên môn nghiệp vụ cho phòng quản lý khoa học… (3)
Thực hiện kích cầu trong hoạt động NCKH: Tổ chức thường xuyên các
chương trình NCKH trong sinh viên của Trường; phát động và kiểm tra
thường xuyên việc nâng cao chất lượng dạy và chất lượng học của Nhà trường
để nâng cao kiến thức phục vụ giảng dạy trong đội ngũ giảng viên của trường
và kiến thức tiếp thu bài học của sinh viên; tạo bầu không khí học thuật bằng
cách tăng cường tổ chức các hội thảo khoa học cấp trường, các hội nghị khoa
học có quy mô lớn.
Tác giả cũng đã đề nghị Nhà trường nên thành lập một “Trung tâm
nghiên cứu triển khai và hoạt động dịch vụ KHXH&NV” hoạt động độc lập,
có nhiệm vụ thực hiện các hợp đồng NCKH, liên kết chuyển giao công nghệ
và các dịch vụ khoa học, trao đổi, mua bán nguồn dữ liệu thông tin
KHXH&NV vốn hết sức dồi dào nhưng hiện nay đang bị bỏ quên lãng phí.
3. Tác giả Đỗ Văn Thắng với luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý
khoa học và công nghệ: “Biện pháp đảm bảo thực hiện chức năng NCKH của

9
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh” đã phân tích, đánh giá các biện pháp đảm bảo thực hiện chức
năng NCKH mà Trường Đại học KHXH&NV TP. HCM và đã đưa ra các kết
luận: (1) NCKH của cán bộ giảng dạy còn nhiều hạn chế, chưa thực hiện đúng
chức năng của người thầy và chưa phát huy tốt những tiềm năng, điều kiện về
nghiên cứu của trường đại học. (2) Các biện pháp còn nghiên về thực hiện các
biện pháp hành chính, chưa chú ý đến việc thực hiện các biện pháp về kích
thích kinh tế và động viên tinh thần.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đề ra các biện pháp nhằm đảm bảo phối hợp

Khi mới thành lập Trường có tên gọi là Viện Đào tạo Mở rộng, sau đó
chuyển thành Trường Đại học Mở Bán công TP.HCM và cuối cùng được
chuyển thành Trường Đại học Mở TP.HCM vào năm 2006. Trường có các
chuyên ngành đào tạo đa dạng từ khoa học kỹ thuật đến khoa học xã hội và
nhân văn, kinh tế…Trong quá trình phát triển của mình, Trường đã trải qua sự
thay đổi loại hình trường học, bộ máy tổ chức, các chính sách liên quan đến
giảng dạy, học tập đặc biệt là các chính sách đối với hoạt động NCKH. Tuy
đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp để nâng cao năng lực
NCKH của Trường nhưng hiện tại, vẫn còn nhiều vấn đề về năng lực tổ chức
NCKH của Trường cần phải tiếp tục nghiên cứu và làm rõ.
Có thể nói, từ trước đến nay chưa có đề tài NCKH nào của Trường, của
các tổ chức, cá nhân bên ngoài tiến hành nghiên cứu về năng lực tổ chức
NCKH của Trường Đại học Mở TP.HCM một cách cụ thể và chi tiết để từ đó
có thể đề xuất các giải pháp khả thi để nâng cao năng lực tổ chức NCKH của
Trường. Vì vậy, tác giả hy vọng đề tài luận văn của mình sẽ góp phần mở một
hướng mới cho việc giải quyết các vấn đề nêu trên.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tổ chức NCKH của
Trường Đại học Mở TP.HCM.

11
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khách thể: Nghiên cứu các tài liệu như chính sách, các văn bản
quy phạm pháp luật của Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, báo cáo, bài
viết, phỏng vấn, tài liệu chuyên khảo…của các cơ quan khoa học có chính
sách liên quan đến tổ chức hoạt động NCKH của các viện, các trường đại học.
Nghiên cứu chính sách liên quan đến việc tổ chức NCKH cho cán bộ,
giảng viên ở Trường Đại học Mở TP.HCM.
Phạm vi thời gian: nghiên cứu các chính sách, giải pháp ứng dụng vào
việc tổ chức NCKH, các thành quả, những hạn chế của quá trình tổ chức hoạt

Phương pháp điều tra xã hội học (gửi bảng hỏi điều tra, khảo sát thực
tế, phỏng vấn sâu) để nghiên cứu những thành quả và hạn chế của việc tổ
chức hoạt động NCKH tại Trường Đại học Mở Tp.HCM. Cụ thể là:
Gửi phiếu điều tra các giảng viên ở các khoa có liên quan đến hoạt
động NCKH của Trường Đại học Mở TP.HCM.
Phỏng vấn sâu một số lãnh đạo, nhà quản lý chuyên trách về mảng
NCKH, các chuyên gia tham gia xây dựng và triển khai các đề án phát triển
hoạt động NCKH của Trường Đại học Mở TP.HCM.
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2. Thực trạng công tác tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học
của Trường Đại học Mở TP.HCM
Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tổ chức nghiên cứu
khoa học của Trường Đại học Mở TP.HCM

13
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm chung
1.1.1. Khoa học
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu và quan niệm về khoa học do xuất phát
từ nhiều cách tiếp cận khác nhau.
a) Xem khoa học là một hệ thống tri thức
“Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự
vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” [20; 17].
“Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức
mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết
mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. Như
vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự

(2) Xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết định trong sản xuất, kinh
doanh, tổ chức xã hội;
(3) Tăng hàm lượng khoa học trong công nghệ và sản phẩm nhằm tạo
thế mạnh cạnh tranh cho sản phẩm.
Khoa học ngày càng trở thành một phương tiện góp phần làm biến đổi
tận gốc rễ mọi mặt của đời sống xã hội.” [33;18].
Tuy có góc độ tiếp cận khác nhau nhưng chung quy lại các quan niệm
trên đều có điểm chung là: khoa học đóng vai trò quan trọng đối với sự phát
triển nhiều mặt của đời sống xã hội loài người. Trong lịch sử nhân loại, sự
phát triển của khoa học không phải lúc nào cũng theo một con đường bằng
phẳng mà ngược lại, có rất nhiều cản trở, đặc biệt là những “rào cản tư tưởng”
của các thế lực phi tiến bộ. Như một quy luật tất yếu, vạn vật sẽ không ngừng
thay đổi bởi: “Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông” (Triết
gia Heraclitus). Khoa học sẽ luôn phát triển, bất chấp mọi lực cản.

15
Nhìn ở góc độ quản lý, chúng tôi đồng ý với quan niệm: “Ngày nay
khoa học đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp được xã hội hóa cao độ.
Đó là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, hướng vào việc tìm kiếm những
điều chưa biết, là một loại lao động gian khổ nhiều rủi ro”. Vì vậy, trong xã
hội hiện đại với nền kinh tế tri thức, nhà quản lý cần phải biết cách thức tổ
chức để đảm bảo và nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH để từ đó thúc đẩy sự
tiến bộ của xã hội.
1.1.2. Nghiên cứu khoa học
Có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về NCKH. Ví dụ như:
“NCKH là sự tìm tòi khám phá bản chất các sự vật (tự nhiên, xã hội,
con người), nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải
pháp tác động trở lại các sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng”
[33;16].
“NCKH là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm.

chi phối ” [34;11].
Điều 9 của Luật khoa học và công nghệ [21] thì các tổ chức KH&CN
bao gồm ba loại hình:
(1) Tổ chức NCKH, tổ chức NCKH và phát triển công nghệ
(2) Trường đại học, học viện, trường cao đẳng (gọi chung là trường đại
học)
(3) Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ.
Từ những luận cứ trên, có thể khẳng định trường đại học là một tổ chức
khoa học và công nghệ với hai chức năng là đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Việc nâng cao năng lực tổ chức NCKH chính là sự sắp xếp bố trí và sử dụng
hiệu quả các mối liên kết giữa các nguồn lực KH&CN trong tổ chức.
Để nâng cao năng lực tổ chức nghiên cứu khoa học của trường đại học.
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích hoạt động KH&CN, nguồn lực
KH&CN mà nhà trường thực hiện nhằm hỗ trợ cho việc nâng cao năng lực tổ
chức hoạt động NCKH của trường.

17
Hoạt động R&D
1. Nghiên cứu
cơ bản
2. Nghiên cứu
ứng dụng
3. Triển khai
thực nghiệm
Nghiên cứu cơ
bản thuần túy
Nghiên cứu cơ
bản định hướg
Nghiên cứu
tổng thể

Nghiên cứu cơ bản (fundamental research hay basic research) là những
nghiên cứu nhằm tìm ra các thuộc tính, cấu trúc, động thái của các đối tượng
nghiên cứu, các sự vật và hiện tượng. Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản là
những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, định luật, định lý để
trên cơ sở đó, hình thành nên các phát hiện, phát minh và các hệ thống lý
thuyết mới. Ví dụ, Newton phát minh Định luật hấp dẫn vũ trụ.
Nghiên cứu cơ bản được chia thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần
tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng.
Nghiên cứu cơ bản thuần túy (pure fundamental research/pure research)
còn gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hay nghiên cứu cơ bản không định hướng,
là những nghiên cứu tìm hiểu về bản chất sự vật và quy luật của các hiện
tượng tự nhiên và xã hội, nhằm nâng cao nhận thức, tri thức mà chưa có hoặc
chưa bàn đến bất kỳ một ý nghĩa ứng dụng nào. Loại hình nghiên cứu này,
nhìn chung mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà nghiên cứu: họ tự suy nghĩ, tự

18
đề xuất đề tài nghiên cứu, quyết định chọn lựa đối tượng nghiên cứu và tổ
chức nghiên cứu với tính tự chủ rất cao. Ví dụ, “Lập nhóm thông số cơ sở cho
mô hình phân tích bài toán sạt lở bờ sông Tiền (lấy đoạn đi qua một địa phận
tiêu biểu tại tỉnh Đồng Tháp)” là nghiên cứu cơ bản thuần túy do Tiến Sĩ.
Dương Hồng Thẩm, Trường Đại học Mở TP.HCM làm chủ nhiệm đề tài [28].
Nghiên cứu cơ bản định hướng (oriented fundamental research) hay đôi
khi còn gọi là nghiên cứu thăm dò, là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiến
trước mục đích ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản định hướng được chia thành
nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề.
Nghiên cứu nền tảng (background research) là những nghiên cứu về
quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật, chẳng hạn như các hoạt động điều
tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên, điều tra cơ bản về các điều kiện tự nhiên
như địa chất, khí tượng, thuỷ văn, điều tra cơ bản về kinh tế - xã hội(KT-XH),
v.v. Ví dụ: “Khảo sát nhu cầu để triển khai mô hình đào tạo đại học qua

Đó cũng có thể là một hệ thống tri thức về giải thích nguyên nhân,
nguồn gốc, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả, quy luật chung chi phối sự
vật, hiện tượng (Ví dụ như: “Tác động của yếu tố thành lập ban đầu đến sự
tồn tại của doanh nghiệp”; “Nguyên nhân suy kiệt nguồn lợi thuỷ sản ở Việt
Nam”; “Nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu” ) [15].
Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng cũng có thể là một giải pháp mới về công
nghệ, vật liệu, sản phẩm, về xã hội, tổ chức và quản lý, v.v… Sáng chế - loại
thành tựu trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, là một sản phẩm đặc
biệt của nghiên cứu ứng dụng. Ví dụ, từ kết quả thành công của đề tài nghiên
cứu ứng dụng: “Module hóa chương trình đào tạo ở bậc đại học ở Việt Nam”
do TS. Lê Xuân Trường, Trường Đại học Mở TP.HCM làm chủ nhiệm đề tài
nghiên cứu đã được Ban chấp hành Liên đoàn Lao động Việt Nam cấp bằng
lao động sáng tạo [28].
Cần lưu ý là, mặc dù mang tên gọi như vậy nhưng kết quả của nghiên
cứu ứng dụng vẫn chưa thể ứng dụng được ngay, mà để có thể đưa chúng vào
sử dụng trong thực tế, còn phải trải qua một giai đoạn nghiên cứu nữa, gọi là

20
triển khai. Ví dụ, mặc dù đề tài nghiên cứu cấp bộ “Nghiên cứu ứng dụng của
trùn quế (Peryonix escavatus) lên khả năng đề kháng một số bệnh thường gặp
ở tôm” [28] của Trường Đại học Mở TP. HCM được đánh giá và nghiệm thu
song do chưa có điều kiện để sản xuất “Sêri 0”, nên chế phẩm vẫn chưa thể
đưa vào sử dụng và khai thác.
(3) Triển khai (Development)
Triển khai (development) ở đây là viết tắt của một thuật ngữ đầy đủ là
triển khai thực nghiệm kỹ thuật (technical experimental development), sau
này còn gọi là triển khai thực nghiệm công nghệ (technological experimental
development) là hoạt động vận dụng các quy luật (sản phẩm của nghiên cứu
cơ bản) và các nguyên lý, giải pháp (sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng) để
tạo ra các vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với các tham số kỹ thuật

chính là không đủ và không hiệu quả, cần phải có những cơ chế, chính sách
tạo điều kiện về vật chất, động viên tinh thần, tạo ra môi trường hoạt động
thuận lợi, thoải mái để khuyến khích tạo động lực, sự hứng khởi và niềm say
mê cho nhà nghiên cứu phát huy sáng tạo.
b) Tính tin cậy: Một kết quả NCKH đạt được nhờ phương pháp nào đó
phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong điều kiện quan sát hoặc thí
nghiệm quy về những điều kiện hoàn toàn giống nhau và với những kết quả
thu được hoàn toàn giống nhau.
c) Tính thông tin: Sản phẩm của NCKH được thể hiện dưới nhiều dạng
thông qua các vật mang. Tuy nhiên, dù là thể hiện dưới dạng vật mang nào thì
sản phẩm của NCKH luôn mang đặc trưng thông tin. Đó là những thông tin
về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ và các tham
số đi kèm quy trình đó…
d) Tính khách quan: Tính khách quan vừa là đặc điểm của nghiên cứu,
vừa là tiêu chuẩn về phẩm chất của người NCKH. Trong xã hội học khoa học
người ta xem đó là chuẩn mực giá trị.

22
e) Tính rủi ro: Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật
mới hoàn toàn có thể gặp phải thất bại, trong NCKH người ta gọi là rủi ro. Sự
thất bại trong NCKH có thể do nhiều nguyên nhân như: thiếu thông tin cần
thiết và đủ tin cậy, trình độ kỹ thuật của thiết bị thí nghiệm, quan sát, năng lực
xử lý thông tin của người quan sát còn hạn chế, giả thuyết khoa học đặt sai,
những tác nhân bất khả kháng khác … Ngay cả khi kết quả nghiên cứu đã
được thử nghiệm thành công cũng vẫn chịu những rủi ro trong áp dụng. Các
thống kê đã cho thấy mức độ rủi ro của từng loại nghiên cứu như sau:
Các loại hình nghiên cứu
Mức độ thành công
Nghiên cứu cơ bản
Dưới 5 %

luôn có một khoảng cách thời gian, khoảng cách đó được gọi là “độ trễ”.
1.2.3. Định hướng NCKH và công nghệ
Luật khoa học và công nghệ (2000) xác định: “Tổ chức nghiên cứu và
phát triển cấp cơ sở chủ yếu thực hiện các hoạt động KH&CN theo mục tiêu,
nhiệm vụ do tổ chức, cá nhân thành lập xác định” [21].
NCKH trong trường đại học với mục tiêu góp phần thiết thực hơn nữa
để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Thông qua hoạt động NCKH
và công nghệ để giải quyết có hiệu quả các vấn đề kinh tế xã hội. Dựa trên
nhu cầu của xã hội, mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ và năng lực
nghiên cứu, các trường tự xây dựng định hướng hoạt động cho đơn vị của
mình. Định hướng được xây dựng theo kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn phù hợp với mục tiêu phát triển của tổ chức.
1.2.4. Tuyển chọn đề tài NCKH
Việc tuyển chọn các ĐTNC cần xác định rõ đề tài, tên đề tài:
(1) Đề tài:
Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH trong đó có một người hoặc một
nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu. Đề tài được lựa chọn
từ một sự kiện khoa học [33; 12].
Bên cạnh đó, còn có một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không
hoàn toàn mang tính chất NCKH, chẳng hạn như: chương trình, dự án, đề án.
Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH này như sau:

24
- Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có
thể chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.
- Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ
thể hiệu quả về kinh tế và xã hội. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng
buộc thời gian và nguồn lực.
- Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn,
hoặc gởi cho một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó

bài báo cáo khoa học, băng ghi hình, băng ghi âm, bản mô tả quy trình, công
thức v.v đối khoa học kỹ thuật đó là những công nghệ mẫu, sản phẩm mẫu.
Theo Vũ Cao Đàm thì: “Đánh giá là một sự so sánh, dựa trên một
chuẩn mực nào đó, để xem xét một sự vật là tốt hơn hoặc xấu hơn một sự vật
làm chuẩn, trong đó có những chỉ tiêu về chuẩn mực” [34;101].
Đánh giá kết quả nghiên cứu chính là lượng định giá trị của kết quả
nghiên cứu về mặt số lượng, chất lượng của kết quả. Đây là một trong những
nhiệm vụ rất quan trọng của công tác tổ chức và quản lý NCKH.
1.3. Các nguồn lực trong nghiên cứu khoa học
Nguồn lực khoa học đó là yếu tố đầu vào của nghiên cứu. Chính các
yếu tố này tạo nên tập hợp hoạt động của tổ chức khoa học để đảm bảo cho
việc thực thi tốt mọi ý tưởng nghiên cứu.
Nguồn lực cho nghiên cứu bao gồm: Nguồn nhân lực, nguồn tài lực,
nguồn vật lực và nguồn tin lực.
1.3.1. Nguồn nhân lực
Là tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động KH&CN
với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng
và tác nghiệp, góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của KH&CN, sự phát
triển sản xuất và sự phát triển của xã hội.
Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Tổng quan nhất, có
thể hiểu đó là nguồn lực con người của những tổ chức có khả năng và tiềm

26
năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển KT-
XH của quốc gia, khu vực và thế giới.
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài và đối tượng nghiên cứu của luận văn
là năng lực tổ chức NCKH của Trường Đại học Mở TP.HCM nên nguồn nhân
lực trong NCKH được khảo sát là lực lượng cán bộ của Trường, trong đó chủ
yếu là cán bộ giảng dạy.
1.3.2. Nguồn tài lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status